[{"id":1,"title_vi":"Không Quên Cái Cũ","title_zh_simp":"不忘故旧","title_zh_trad":"不忘故舊","title_pinyin":"Bù wàng gù jiù","title_han_viet":"BẤT VONG CỐ CỰU","title_en":"Cherishing the Old and Cherished","source_book":"《孔子家语》","source_author":"Khổng Tử Môn Nhân","source_period":"Tiên Tần (Xuân Thu)","content_zh_simp":"孔子出游于野，见妇人哭于沼畔，甚悲。孔子下车问之：“何为而悲？”妇人曰：“昔者吾采稆于此，遗吾耆簪，求之不得，故悲。”孔子曰：“簪者，贱物也，何至若是？”妇人曰：“非为簪之美也，念古人之所以赠吾也，故不能忘。”孔子谓门人曰：“见微而知著，斯人不忘故旧矣。”","content_zh_trad":"孔子出遊於野，見婦人哭於沼畔，甚悲。孔子下車問之：「何為而悲？」婦人曰：「昔者吾採稆於此，遺吾耆簪，求之不得，故悲。」孔子曰：「簪者，賤物也，何至若是？」婦人曰：「非為簪之美也，念古人之所以贈吾也，故不能忘。」孔子謂門人曰：「見微而知著，斯人不忘故舊矣。」","content_pinyin":"Kǒngzǐ chū yóu yú yě, jiàn fùrén kū yú zhǎo pàn, shèn bēi. Kǒngzǐ xià chē wèn zhī: “Hé wèi ér bēi?” Fùrén yuē: “Xī zhě wú cǎi lǚ yú cǐ, yí wú qí zān, qiú zhī bù dé, gù bēi.” Kǒngzǐ yuē: “Zān zhě, jiàn wù yě, hé zhì ruò shì?” Fùrén yuē: “Fēi wèi zān zhī měi yě, niàn gǔrén zhī suǒyǐ zèng wú yě, gù bù néng wàng.” Kǒngzǐ wèi ménrén yuē: “Jiàn wēi ér zhī zhù, sī rén bù wàng gùjiù yǐ.”","content_han_viet":"Khổng Tử xuất du ư dã, kiến phụ nhân khốc ư chiểu phán, thậm bi. Khổng Tử hạ xa vấn chi: \"Hà vi nhi bi?\" Phụ nhân viết: \"Tích giả ngô thải lữ ư thử, di ngô kỳ trâm, cầu chi bất đắc, cố bi.\" Khổng Tử viết: \"Trâm giả, tiện vật dã, hà chí nhược thị?\" Phụ nhân viết: \"Phi vi trâm chi mỹ dã, niệm cổ nhân chi sở dĩ tặng ngô dã, cố bất năng vong.\" Khổng Tử vị môn nhân viết: \"Kiến vi nhi tri trước, tư nhân bất vong cố cựu hĩ.\"","content_vi":"Đức Khổng Tử ra chơi ngoài đồng, thấy một người đàn bà đứng khóc nỉ non ở chỗ bờ đầm. Đức Khổng Tử lấy làm lạ, bảo học trò hỏi vì cớ gì mà khóc.\n\nNgười đàn bà nói: \"Độ trước tôi cắt cỏ thi, tôi đánh mất cái trâm cài đầu bằng cỏ thi, cho nên tôi khóc.\"\n\n- Đức Khổng Tử hỏi: Đi cắt cỏ thi, mà mất cái trâm bằng cỏ, thì việc gì mà phải khóc?\n\n- Người đàn bà nói: Không phải vì tôi đánh mất cái trâm cỏ thi mà tôi khóc; tôi sở dĩ khóc, là tôi thương tiếc một vật cũ, dùng đã lâu, mà ngày nay không sao thấy được nữa.","loi_ban_vi":"Cái gì đã là của mình, mình có bụng yêu, mà lỡ khi mất, thì về sau dù có được cái khác giống như thế, hay hơn thế, mình cũng không thể sao yêu cho bằng. Thường, lại chỉ vì thấy cái mới mà hồi nhớ đến cái cũ, sinh ra chạnh lòng, nên câu than thở, có khi ngậm ngùi thương khóc nỉ non. Tại sao vậy? Tại đối với mình, cái của mất không chỉ có giá của mà thôi, lại hình như còn có một phần tâm hồn mình hay tâm hồn người để lại cho mình ngụ ở trong nữa.\n\nSự cảm động đầu tiên bao giờ cũng là sự cảm động hay nhất, bền nhất. Ôi! Cáo chết ba năm quay đầu về núi, con người ta, dù cho lông bông xiêu bạt đến thế nào, còn có chút tâm tình cũng không sao quên được gốc tích xứ sở mình. \"Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi\" (Ngựa Hồ hí gió bắc, chim Việt đậu cành nam). Con ngựa rợ Hồ thấy gió bắc còn cất tiếng kêu, con chim đất Việt chọn cành nam mới chịu làm tổ, huống chi là người mà lại quên được nguồn gốc ư!","giai_nghia":["Khổng Tử: Tên Khâu, tự Trọng Ni, nhà tư tưởng và giáo dục vĩ đại thời Xuân Thu, sáng lập Nho gia.","Cỏ thi: Loại cỏ thơm ngày xưa thường dùng để cài tóc hoặc dùng trong bói dịch.","Hồ mã tê bắc phong: Ngựa phương bắc thấy gió bắc thì hí vang nhớ quê hương.","Việt điểu sào nam chi: Chim phương nam khi làm tổ chỉ đậu ở cành quay về hướng nam."],"tags":["Tri ân","Tình cảm","Khổng Tử","Gốc gác"]},{"id":2,"title_vi":"Lúc Đi Trắng, Lúc Về Đen","title_zh_simp":"杨布打狗 / 白去黑归","title_zh_trad":"楊布打狗 / 白去黑歸","title_pinyin":"Yáng Bù dǎ gǒu / Bái qù hēi guī","title_han_viet":"DƯƠNG BỐ ĐÁNH CHÓ / BẠCH KHỨ HẮC QUY","title_en":"Going Out in White, Returning in Black","source_book":"《列子·说符》","source_author":"Liệt Ngữ Khấu (Liệt Tử)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"杨朱之弟曰布，衣素衣而出。天雨，解素衣，衣缁衣而反。其狗不知，迎而吠之。杨布怒，将扑之。杨朱曰：“子毋扑矣，子亦犹是也。向者使汝狗白而往，黑而来，岂能毋怪哉？”","content_zh_trad":"楊朱之弟曰布，衣素衣而出。天雨，解素衣，衣緇衣而反。其狗不知，迎而吠之。楊布怒，將撲之。楊朱曰：「子毋撲矣，子亦猶是也。向者使汝狗白而往，黑而來，豈能毋怪哉？」","content_pinyin":"Yáng Zhū zhī dì yuē Bù, yī sù yī ér chū. Tiān yǔ, jiě sù yī, yī zī yī ér fǎn. Qí gǒu bù zhī, yíng ér fèi zhī. Yáng Bù nù, jiāng pū zhī. Yáng Zhū yuē: “Zǐ wú pū yǐ, zǐ yì yóu shì yě. Xiàng zhě shǐ rǔ gǒu bái ér wǎng, hēi ér lái, qǐ néng wú guài zāi?”","content_han_viet":"Dương Chu chi đệ viết Bố, y tố y nhi xuất. Thiên vũ, giải tố y, y tư y nhi phản. Kỳ cẩu bất tri, nghênh nhi phệ chi. Dương Bố nộ, tương phác chi. Dương Chu viết: \"Tử vô phác hĩ, tử diệc do thị dã. Hướng giả sử nhữ cẩu bạch nhi vãng, hắc nhi lai, khởi năng vô quái tai?\"","content_vi":"Một hôm trời nắng Dương Bố đi chơi. Khi ở nhà ra, thì mặc áo trắng, đi được nửa đường gặp trời mưa, quần áo ướt hết, mới vào ẩn mưa ở nhà bà con. Người ấy thấy Dương Bố ướt cả cho mượn cái áo thâm.\n\nMột lúc trời tạnh, Dương Bố mặc áo thâm về nhà. Con chó trông thấy, vừa cắn vừa xua đuổi. Dương Bố giận toan cầm gậy đánh.\n\nAnh là Dương Chu chạy ra bảo: 'Đừng đánh nó làm gì! Nó đuổi như thế cũng phải. Giả sử con chó trắng nhà ta, lúc đi thì trắng, lúc về thì đen, phỏng em có không lấy làm lạ mà không ngờ được không?'","loi_ban_vi":"Lúc đi mặc áo trắng, lúc về mặc áo thâm, chính mình không biết mình thay đổi, con chó thấy khác thì xua đuổi. Mình đánh nó chẳng hóa ra lầm lắm ru! Lỗi tại mình thay đổi không tại con chó cắn xằng.\n\nVậy nên ở đời khi mình làm điều gì khác thường, mà người ta không rõ, thì tất nhiên người ta bàn trái bàn phải. Nếu mình không tự xét mình thay đổi hay dở, chỉ biết trách người nghị luận nọ kia, thì chẳng khác nào như Dương Bố đánh chó trong truyện này.","giai_nghia":["Áo thâm: Áo màu đen (thâm dịch từ chữ 緇 - tư, nghĩa là lụa màu đen).","Dương Chu: Triết gia nổi tiếng thời Chiến Quốc, người đề xướng học thuyết 'vi ngã'.","Liệt Tử: Tác phẩm của Liệt Ngữ Khấu, đúc kết triết lý Đạo gia sâu sắc."],"tags":["Tự xét mình","Thấu cảm","Liệt Tử","Xử thế"]},{"id":3,"title_vi":"Lợi Mê Lòng Người","title_zh_simp":"利迷人心 / 宋人失衣","title_zh_trad":"利迷人心 / 宋人失衣","title_pinyin":"Lì mí rén xīn / Sòng rén shī yī","title_han_viet":"LỢI MÊ NHÂN TÂM / TỐNG NHÂN THẤT Y","title_en":"Greed Blinds the Mind","source_book":"《吕氏春秋》","source_author":"Lã Bất Vi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"宋人有失缁衣者，搜诸道。见妇人之衣缁衣者，引而索之，曰：“此吾所失缁衣也。”妇人曰：“此吾手所自织也。”其人曰：“吾所失者厚，子所衣者薄，以子薄衣偿吾厚衣，尚何言哉！”","content_zh_trad":"宋人有失緇衣者，搜諸道。見婦人之衣緇衣者，引而索之，曰：「此吾所失緇衣也。」婦人曰：「此吾手所自織也。」其人曰：「吾所失者厚，子所衣者薄，以子薄衣償吾厚衣，尚何言哉！」","content_pinyin":"Sòng rén yǒu shī zī yī zhě, sōu zhū dào. Jiàn fùrén zhī yī zī yī zhě, yǐn ér suǒ zhī, yuē: “Cǐ wú suǒ shī zī yī yě.” Fùrén yuē: “Cǐ wú shǒu suǒ zì zhī yě.” Qí rén yuē: “Wú suǒ shī zhě hòu, zǐ suǒ yī zhě báo, yǐ zǐ báo yī cháng wú hòu yī, shàng hé yán zāi!”","content_han_viet":"Tống nhân hữu thất tư y giả, sưu chư đạo. Kiến phụ nhân chi y tư y giả, dẫn nhi sách chi, viết: \"Thử ngô sở thất tư y dã.\" Phụ nhân viết: \"Thử ngô thủ sở tự chức dã.\" Kỳ nhân viết: \"Ngô sở thất giả hậu, tử sở y giả bạc, dĩ tử bạc y thường ngô hậu y, thượng hà ngôn tai!\"","content_vi":"Nước Tống có kẻ mất cái áo thâm. Anh ta ra đường tìm. Thấy người đàn bà mặc áo thâm, níu lại đòi rằng: 'Tôi vừa mất cái áo thâm, chị phải đền trả tôi cái nầy'. Rồi cứ giữ chặt cái áo không buông ra nữa.\n\nNgười đàn bà cãi: 'Ông mất áo thâm, tôi biết đấy là đâu? Áo tôi mặc đây là áo của tôi, chính tay tôi may ra'.\n\nAnh kia nói: 'Chị cứ phải đền trả áo cho tôi. Cái áo thâm tôi mất dầy, cái áo thâm chị mặc mỏng. Lấy áo thâm mỏng của chị đền cho áo thâm dầy cho tôi, còn phải nói gì lôi thôi nữa!'","loi_ban_vi":"Mất áo trong nhà mà ra đường tìm, đã là chuyện bật cười. Mất áo đàn ông mà đòi áo đàn bà lại là chuyện bật cười. Mất áo thâm dầy bắt đền áo thâm mỏng mà cho là phải, lại là chuyện bật cười nữa.\n\nÔi cái lợi nó làm cho lòng người mê muội, chỉ biết có mình không biết có ai, chỉ vụ lợi cho mình mà quên cả phải trái. Kẻ nào đã vụ lợi như thế, thì cái gì mà chẳng dám làm, cái gì mà chả dám nói! Than ôi! Cái đời kim tiền bây giờ biết bao nhiêu phường đòi áo như người nói trong chuyện này.","giai_nghia":["Nước Tống: Một nước chư hầu thời Xuân Thu Chiến Quốc, nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.","Vụ lợi: Chỉ chăm chăm tìm kiếm lợi ích cho riêng bản thân mình.","Lã Thị Xuân Thu: Bộ bách khoa tư tưởng do Lã Bất Vi tập hợp văn sĩ biên soạn."],"tags":["Lòng tham","Phê phán","Ngụ ngôn","Lã Thị Xuân Thu"]},{"id":4,"title_vi":"Lấy Của Ban Ngày","title_zh_simp":"白昼攫金 / 齐人攫金","title_zh_trad":"白晝攫金 / 齊人攫金","title_pinyin":"Bái zhòu jué jīn / Qí rén jué jīn","title_han_viet":"BẠCH TRÚ HOẠC KIM / TỀ NHÂN HOẠC KIM","title_en":"Seizing Gold in Broad Daylight","source_book":"《列子·说符》","source_author":"Liệt Tử / Long Môn Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"昔齐人有欲金者，清旦被衣冠而往市，适鬻金者之所，因攫其金而去。吏捕得之，问曰：“人皆在焉，子何遂攫人之金？”对曰：“取金之时，不见人，徒见金。”","content_zh_trad":"昔齊人有欲金者，清旦被衣冠而往市，適鬻金者之所，因攫其金而去。吏捕得之，問曰：「人皆在焉，子何遂攫人之金？」對曰：「取金之時，不見人，徒見金。」","content_pinyin":"Xī Qí rén yǒu yù jīn zhě, qīng dàn pī yī guān ér wǎng shì, shì yù jīn zhě zhī suǒ, yīn jué qí jīn ér qù. Lì bǔ dé zhī, wèn yuē: “Rén jiē zài yān, zǐ hé suì jué rén zhī jīn?” Duì yuē: “Qǔ jīn zhī shí, bù jiàn rén, tú jiàn jīn.”","content_han_viet":"Tích Tề nhân hữu dục kim giả, thanh đán bị y quan nhi vãng thị, thích chúc kim giả chi sở, nhân hoạc kỳ kim nhi khứ. Lại bộ đắc chi, vấn viết: \"Nhân giai tại yên, tử hà toại hoạc nhân chi kim?\" Đối viết: \"Thủ kim chi thời, bất kiến nhân, đồ kiến kim.\"","content_vi":"Nước Tấn có kẻ hiếu lợi một hôm ra chợ gặp cái gì cũng lấy. Anh ta nói rằng: 'Cái nầy tôi ăn được, cái nầy tôi mặc được, cái nầy tôi tiêu được, cái nầy tôi dùng được.' Lấy rồi đem đi. Người ta theo đòi tiền. Anh ta nói:\n\n'Lửa tham nó bốc lên mờ cả hai con mắt. Bao nhiêu hàng hóa trong chợ tôi cứ tưởng của tôi cả, không còn trông thấy ai nữa. Thôi, các người cứ cho tôi, sau nầy tôi giàu có, tôi sẽ đem tiền trả lại'.\n\nNgười coi chợ thấy càn dỡ, đánh cho mấy roi, bắt của ai phải trả lại cho người ấy. Cả chợ cười ồ. Anh ta mắng:\n\n'Thế gian còn nhiều kẻ hiếu lợi hơn ta, thường dụng thiên phương, bách kế ngấm ngầm lấy của của người. Ta đây tuy thế, song lấy giữa ban ngày so với những kẻ ấy thì lại chẳng hơn ư? Các ngươi cười ta là các người chưa nghĩ kỹ!'","loi_ban_vi":"Đã là kẻ thấy của tối mắt, tham vàng bỏ nghĩa, thì dù ít, dù nhiều cũng là đáng khinh cả, song đem những kẻ mặt to, tai lớn, vì ham mê phú quý mà lường thầy, phản bạn, hại ngầm đồng bào so với những quân cắp đường, cắp chợ giữa ban ngày để nuôi miệng thì tội đến nặng hơn biết bao nhiêu.\n\nThế mà trách đời chỉ biết chê cười những quân trộm cướp vặt chớ không biết trừng trị những kẻ đại gian đại ác.","giai_nghia":["Hiếu lợi: Ham mê tiền của đến mức bất chấp đạo lý.","Bạch trú hoạc kim: Cướp vàng giữa ban ngày, chỉ lòng tham làm mờ mắt.","Long Môn Tử: Bút hiệu chỉ học giả hoặc nhân sĩ thời cổ."],"tags":["Lòng tham","Cảnh tỉnh","Liệt Tử","Công lý"]},{"id":5,"title_vi":"Khổ Thân Làm Việc Nghĩa","title_zh_simp":"苦身行义 / 墨子贵义","title_zh_trad":"苦身行義 / 墨子貴義","title_pinyin":"Kǔ shēn xíng yì / Mòzǐ guì yì","title_han_viet":"KHỔ THÂN HÀNH NGHĨA / MẶC TỬ QUÝ NGHĨA","title_en":"Enduring Hardship for Righteousness","source_book":"《墨子·贵义》","source_author":"Mặc Địch (Mặc Tử)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"子墨子自鲁适齐，过故人，谓子墨子曰：“今天下莫为义，子独自苦而为义，子不若止。”子墨子曰：“今有人于此，有子十人，一人耕而九人处，则耕者不可以不益急矣。何故？则食者众而耕者寡也。今天下莫为义，则子如劝我者也，何故止我？”","content_zh_trad":"子墨子自魯適齊，過故人，謂子墨子曰：「今天下莫為義，子獨自苦而為義，子不若止。」子墨子曰：「今有人於此，有子十人，一人耕而九人處，則耕者不可以不益急矣。何故？則食者眾而耕者寡也。今天下莫為義，則子如勸我者也，何故止我？」","content_pinyin":"Zǐ Mòzǐ zì Lǔ shì Qí, guò gùrén, wèi Zǐ Mòzǐ yuē: “Jīn tiānxià mò wéi yì, zǐ dúzì kǔ ér wéi yì, zǐ bù ruò zhǐ.” Zǐ Mòzǐ yuē: “Jīn yǒurén yú cǐ, yǒu zǐ shí rén, yī rén gēng ér jiǔ rén chù, zé gēng zhě bù kěyǐ bù yì jí yǐ. Hé gù? Zé shí zhě zhòng ér gēng zhě guǎ yě. Jīn tiānxià mò wéi yì, zé zǐ rú quàn wǒ zhě yě, hé gù zhǐ wǒ?”","content_han_viet":"Tử Mặc Tử tự Lỗ thích Tề, quá cố nhân, vị Tử Mặc Tử viết: \"Kim thiên hạ mạc vi nghĩa, tử độc tự khổ nhi vi nghĩa, tử bất nhược chỉ.\" Tử Mặc Tử viết: \"Kim hữu nhân ư thử, hữu tử thập nhân, nhất nhân canh nhi cửu nhân xứ, tắc canh giả bất khả dĩ bất ích cấp hĩ. Hà cố? Tắc thực giả chúng nhi canh giả quả dã. Kim thiên hạ mạc vi nghĩa, tắc tử như khuyến ngã giả dã, hà cố chỉ ngã?\"","content_vi":"Mặc Tử ở nước Lỗ sang nước Tề, qua nhà người bạn cũ, vào chơi. Người bạn nói chuyện với Mặc Tử rằng: 'Bây giờ thiên hạ ai còn thiết đến việc \"nghĩa\", một mình ông tự khổ thân để làm việc nghĩa, thì có thấm vào đâu! Chẳng thà thôi đi có hơn không?'\n\n- Mặc Tử nói: 'Bây giờ có người ở đây, nhà mười đứa con, một đứa cày, chín đứa ngồi ăn không, thì đứa cày chẳng nên càng chăm cày hơn lên ư? Tại sao thế? Tại đứa ăn không nhiều, đứa đi cày ít. Bây giờ thiên hạ chẳng ai chịu làm việc nghĩa, thì ông phải biết khuyên tôi càng làm lắm mới phải, có đâu lại ngăn tôi như thế!'","loi_ban_vi":"Trong khi nhân tâm thế đạo suy đồi, mình là người còn đứng vững được, thì sao lại chịu suy đồi với thiên hạ cho cùng trôi một loạt. Vì nếu ai cũng như thế cả, thì còn đâu là người cảnh tỉnh được kẻ u mê để duy trì lấy nhân tâm thế đạo nữa?\n\nCho nên những người thức thời, có chí, dù ở vào cái đời biến loạn đến đâu, cũng không chịu đắm đuối vào cái bất nghĩa, khác nào như: cây tòng, cây bách mùa đông sương tuyết mà vẫn xanh, như con gà trống mưa gió tối tăm mà vẫn gáy. Những bậc ấy chẳng những thế mà thôi, lại còn đem bao nhiêu tinh lực tâm trí ra, cố gắng giữ lấy phong hóa mà dìu dắt, mà đưa đường cho những kẻ u mê đắm đuối.","giai_nghia":["Mặc Tử: Mặc Địch, triết gia đề xướng học thuyết 'Kiêm ái' (thương yêu tất cả mọi người) và 'Phi công' (chống chiến tranh).","Việc nghĩa: Việc hợp đạo lý, mang lại lợi ích chung cho bá tánh.","Tự khổ thân: Sẵn lòng chịu gian nan nhọc nhằn vì lý tưởng cao thượng."],"tags":["Lý tưởng","Nghĩa khí","Mặc Tử","Kiên định"]},{"id":6,"title_vi":"Cách Cư Xử Ở Đời","title_zh_simp":"颜渊问孔子 / 刚柔进退","title_zh_trad":"顏淵問孔子 / 剛柔進退","title_pinyin":"Yán Yuān wèn Kǒngzǐ / Gāng róu jìn tuì","title_han_viet":"NHAN UYÊN VẤN KHỔNG TỬ / CƯƠNG NHU TIẾN THOÁI","title_en":"The Art of Living with Wisdom","source_book":"《孔子家语》","source_author":"Khổng Tử Môn Nhân","source_period":"Tiên Tần (Xuân Thu)","content_zh_simp":"颜渊问于孔子曰：“渊愿贫如富，贱如贵，无勇而威，与人玩好而终身无患，可乎？”孔子曰：“大哉此问！贫而如富，知足而无欲也；贱而如贵，自得而敬人也；无勇而威，恭顺而无失也；与人玩好而终身无患，慎言而择友也。若此，何不可之有？”","content_zh_trad":"顏淵問於孔子曰：「淵願貧如富，賤如貴，無勇而威，與人玩好而終身無患，可乎？」孔子曰：「大哉此問！貧而如富，知足而無欲也；賤而如貴，自得而敬人也；無勇而威，恭順而無失也；與人玩好而終身無患，慎言而擇友也。若此，何不可之有？」","content_pinyin":"Yán Yuān wèn yú Kǒngzǐ yuē: “Yuān yuàn pín rú fù, jiàn rú guì, wú yǒng ér wēi, yǔ rén wánhào ér zhōngshēn wú huàn, kě hū?” Kǒngzǐ yuē: “Dà zāi cǐ wèn! Pín ér rú fù, zhī zú ér wú yù yě; jiàn ér rú guì, zì dé ér jìng rén yě; wú yǒng ér wēi, gōng shùn ér wú shī yě; yǔ rén wánhào ér zhōngshēn wú huàn, shèn yán ér zé yǒu yě. Ruò cǐ, hé bù kě zhī yǒu?”","content_han_viet":"Nhan Uyên vấn ư Khổng Tử viết: \"Uyên nguyện bần như phú, tiện như quý, vô dũng nhi uy, dữ nhân ngoạn hảo nhi chung thân vô hoạn, khả hồ?\" Khổng Tử viết: \"Đại tai thử vấn! Bần nhi như phú, tri túc nhi vô dục dã; tiện nhi như quý, tự đắc nhi kính nhân dã; vô dũng nhi uy, cung thuận nhi vô thất dã; dữ nhân ngoạn hảo nhi chung thân vô hoạn, thận ngôn nhi trạch hữu dã. Nhược thử, hà bất khả chi hữu?\"","content_vi":"Thầy Nhan Uyên hỏi Đức Khổng Tử: 'Hồi nầy muốn nghèo mà cũng được như giàu, hèn mà cũng được như sang, không phải khỏe mà có oai, chơi bời với người ta suốt đời không lo sợ gì, muốn như vậy, có nên không?'\n\nĐức Khổng Tử nói:\n\n'Ngươi hỏi thế phải lắm. Nghèo mà muốn cũng như giàu, thế là biết bằng lòng số phận không ham mê gì. Hèn mà cũng muốn như sang, thế là biết nhún nhường và có lễ độ. Không khỏe mà muốn có oai, thế là biết thận trọng, cung kính không lầm lỗi gì. Chơi bời với mọi người mà muốn suốt đời không lo sợ, thế là biết chọn lời rồi mới nói.'","loi_ban_vi":"Không cần công danh phú quý thế là biết giữ thiên tước hơn là nhân tước; không để ai khinh lờn được thế là biết trọng phẩm giá mình; không muốn đeo cái lo vào mình thế là biết giữ thân không phiền lụy đến ai.\n\nỞ đời mà giữ trọn vẹn được mấy điều như thế, tưởng thật là một cách vui thú rất cao thượng vậy.","giai_nghia":["Nhan Uyên: Tên Nhan Hồi, tự Tử Uyên, học trò hiền đức bậc nhất của Đức Khổng Tử.","Thiên tước: Tước vị do trời phú (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), cao hơn chức vị triều đình ban (nhân tước).","Tri túc: Biết đủ là đủ, tâm hồn luôn thanh thản."],"tags":["Tu thân","Xử thế","Khổng Tử","Nhan Uyên"]},{"id":7,"title_vi":"Tu Thân","title_zh_simp":"荀子修身 / 治气养心","title_zh_trad":"荀子修身 / 治氣養心","title_pinyin":"Xúnzǐ xiū shēn / Zhì qì yǎng xīn","title_han_viet":"TUÂN TỬ TU THÂN / TRỊ KHÍ DƯỠNG TÂM","title_en":"Self-Cultivation and Nobility of Character","source_book":"《荀子·修身》","source_author":"Tuân Huống (Tuân Tử)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"见善，修然必以自存也；见不善，愀然必以自省也。善在身，介然必以自好也；不善在身，菑然必以自恶也。故非我而当者，吾师也；是我而当者，吾友也；谄谀我者，吾贼也。故君子隆师而亲友，以致恶其贼。","content_zh_trad":"見善，修然必以自存也；見不善，愀然必以自省也。善在身，介然必以自好也；不善在身，菑然必以自惡也。故非我而當者，吾師也；是我而當者，吾友也；諂諛我者，吾賊也。故君子隆師而親友，以致惡其賊。","content_pinyin":"Jiàn shàn, xiū rán bì yǐ zì cún yě; jiàn bù shàn, qiǎo rán bì yǐ zì xǐng yě. Shàn zài shēn, jiè rán bì yǐ zì hào yě; bù shàn zài shēn, zāi rán bì yǐ zì wù yě. Gù fēi wǒ ér dāng zhě, wú shī yě; shì wǒ ér dāng zhě, wú yǒu yě; chǎnyú wǒ zhě, wú zéi yě. Gù jūnzǐ lóng shī ér qīn yǒu, yǐ zhì wù qí zéi.","content_han_viet":"Kiến thiện, tu nhiên tất dĩ tự tồn dã; kiến bất thiện, tiễu nhiên tất dĩ tự tỉnh dã. Thiện tại thân, giới nhiên tất dĩ tự hảo dã; bất thiện tại thân, tai nhiên tất dĩ tự ố dã. Cố phi ngã nhi đương giả, ngô sư dã; thị ngã nhi đương giả, ngô hữu dã; siểm du ngã giả, ngô tặc dã. Cố quân tử long sư nhi thân hữu, dĩ chí ố kỳ tặc.","content_vi":"Thấy người hay, thì phải cố mà bắt chước; thấy người dở thì phải tự xét xem có dở như thế không để mà sửa đổi. Chính mình có điều hay, thì phải cố mà giữ lấy; chính mình có điều dở, thì phải cố mà trừ đi.\n\nNgười chê ta mà chê phải, tức là thầy ta; người khen ta mà khen phải, tức là bạn ta; còn người nịnh hót ta lại là người cừu địch hại ta vậy.\n\nCho nên người quân tử trọng thầy, quý bạn và rất ghét cừu địch, thích điều phải mà không chán, nghe lời can mà biết răn... như thế dù muốn không hay cũng không được.\n\nKẻ tiểu nhân thì không thế. Cực bậy mà lại ghét người chê mình; rất dở mà lại thích người khen mình; bụng dạ như hổ lang, ăn ở như cầm thú mà thấy người ta không phục lại không bằng lòng; thân với kẻ siểm nịnh, xa cách kẻ can ngăn, thấy người chính trực thì cười, thấy người trung tín thì chê... Như thế thì dù muốn không dở cũng không được.","loi_ban_vi":"Cái đạo tu thân rút lại chỉ có biết theo điều hay, biết tránh điều dở. Mà muốn tới cái mục đích ấy, thì không những là tự mình phải xét mình lại còn phải xét cái cách người ở với mình nữa.\n\nĐối với người, cần phải biết hai điều: Ai khen chê phải, khuyên răn hay thì phục, thì bắt chước; ai chiều lòng nịnh hót thì tránh cho xa, coi như quân cừu địch. 'Nên ưa người ta khuyên mình hơn người ta khen mình' - có như thế, thì mới tu thân được.","giai_nghia":["Tu thân: Rèn luyện tâm tính, sửa chữa lỗi lầm để hoàn thiện nhân cách.","Siểm nịnh: Nịnh bợ, hùa theo ý người khác cốt cầu lợi riêng.","Tuân Tử: Triết gia lớn thời Chiến Quốc, thầy của Hàn Phi và Lý Tư."],"tags":["Tu thân","Quân tử","Tuân Tử","Đạo đức"]},{"id":8,"title_vi":"Ôm Cây Đợi Thỏ","title_zh_simp":"守株待兔","title_zh_trad":"守株待兔","title_pinyin":"Shǒu zhū dài tù","title_han_viet":"THỦ CHU ĐÃI THỐ","title_en":"Waiting by the Stump for a Hare","source_book":"《韩非子·五蠹》","source_author":"Hàn Phi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"宋人有耕田者。田中有株，兔走触株，折颈而死。因释其耒而守株，冀复得兔。兔不可复得，而身为宋国笑。今欲以先王之政，治当世之民，皆守株之类也。","content_zh_trad":"宋人有耕田者。田中有株，兔走觸株，折頸而死。因釋其耒而守株，冀復得兔。兔不可復得，而身為宋國笑。今欲以先王之政，治當世之民，皆守株之類也。","content_pinyin":"Sòng rén yǒu gēng tián zhě. Tián zhōng yǒu zhū, tù zǒu chù zhū, zhé jǐng ér sǐ. Yīn shì qí lěi ér shǒu zhū, jì fù dé tù. Tù bù kě fù dé, ér shēn wéi Sòng guó xiào. Jīn yù yǐ xiān wáng zhī zhèng, zhì dāngshì zhī mín, jiē shǒu zhū zhī lèi yě.","content_han_viet":"Tống nhân hữu canh điền giả. Điền trung hữu chu, thố tẩu xúc chu, chiết cảnh nhi tử. Nhân thích kỳ lỗi nhi thủ chu, ký phục đắc thố. Thố bất khả phục đắc, nhi thân vi Tống quốc tiếu. Kim dục dĩ tiên vương chi chính, trị đương thế chi dân, giai thủ chu chi loại dã.","content_vi":"Một người nước Tống đang cày ruộng. Giữa ruộng có một cây to. Có con thỏ đồng ở đâu chạy lại, đâm vào gốc cây, đập đầu gãy cổ chết.\n\nNgười cày ruộng thấy thế, bỏ cày, vội chạy đi nhặt thỏ. Đoạn, cứ ngồi khư khư ôm gốc cây, mong lại được thỏ nữa. Nhưng đợi mãi chẳng thấy thỏ đâu, lại mất một buổi cày. Thiên hạ thấy vậy, ai cũng chê cười.","loi_ban_vi":"Thấy mùi, quen mui làm mãi. Ở đời những kẻ ngẫu nhiên gặp may, mà ước ao được gặp may luôn như thế nữa, không biết sự may là tình cờ mới có, thì có khác gì người nước Tống ôm cây đợi thỏ nầy.\n\nAnh ôm cây đợi thỏ này lại còn là người cố chấp bất thông, không hiểu thời thế, không thấu tình cảnh, khư khư đười ươi giữ ống, cũng một phường với những hạng chơi đàn gắn chặt phím, khắc mạn thuyền để nhớ chỗ gươm rơi.","giai_nghia":["Thủ chu đãi thố: Thành ngữ kinh điển chỉ kẻ bảo thủ, ôm ấp cơ may ngẫu nhiên mà không chịu nỗ lực.","Hàn Phi Tử: Triết gia pháp gia kiệt xuất thời Chiến Quốc.","Cố chấp bất thông: Khư khư giữ định kiến cứng nhắc, không chịu thay đổi theo thời thế."],"tags":["Thành ngữ","Ngụ ngôn","Hàn Phi Tử","Thực tế"]},{"id":9,"title_vi":"Đánh Dấu Thuyền Tìm Gươm","title_zh_simp":"刻舟求剑","title_zh_trad":"刻舟求劍","title_pinyin":"Kè zhōu qiú jiàn","title_han_viet":"KHẮC CHU CẦU KIẾM","title_en":"Notching the Boat to Find the Sword","source_book":"《吕氏春秋·察今》","source_author":"Lã Bất Vi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"楚人有涉江者，其剑自舟中坠于水，遽契其舟，曰：“是吾剑之所从坠。”舟止，从其所契者入水求之。舟已行矣，而剑不行，求剑若此，不亦惑乎？","content_zh_trad":"楚人有涉江者，其劍自舟中墜於水，遽契其舟，曰：「是吾劍之所從墜。」舟止，從其所契者入水求之。舟已行矣，而劍不行，求劍若此，不亦惑乎？","content_pinyin":"Chǔ rén yǒu shè jiāng zhě, qí jiàn zì zhōu zhōng zhuì yú shuǐ, jù qì qí zhōu, yuē: “Shì wú jiàn zhī suǒ cóng zhuì.” Zhōu zhǐ, cóng qí suǒ qì zhě rù shuǐ qiú zhī. Zhōu yǐ xíng yǐ, ér jiàn bù xíng, qiú jiàn ruò cǐ, bù yì huò hū?","content_han_viet":"Sở nhân hữu thiệp giang giả, kỳ kiếm tự chu trung trụy ư thủy, cự khế kỳ chu, viết: \"Thị ngô kiếm chi sở tòng trụy.\" Chu chỉ, tòng kỳ sở khế giả nhập thủy cầu chi. Chu dĩ hành hĩ, nhi kiếm bất hành, cầu kiếm nhược thử, bất diệc hoặc hồ?","content_vi":"Có người nước Sở đi đò qua sông. Khi ngồi đò, vô ý đánh rơi thanh gươm xuống sông. Anh ta vội vàng đánh dấu vào mạn thuyền, nói rằng: 'Gươm ta rơi ở chỗ nầy đây'.\n\nLúc thuyền đỗ vào bến, anh ta cứ theo chỗ đánh dấu, lặn xuống nước tìm gươm. Thuyền đã đi đến bến, chớ gươm rơi đâu thì vẫn ở đấy, có theo thuyền mà đi đâu? Tìm gươm như thế, chẳng khờ dại lắm ư!","loi_ban_vi":"Thanh gươm rơi xuống sông, thì ở ngay chỗ rơi. Nếu muốn tìm thấy gươm, tất phải lặn ngay xuống chỗ rơi mà tìm. Chớ sao lại đánh dấu vào thuyền, đợi đến lúc thuyền đỗ vào bến, mới lặn xuống bến tìm?\n\nNgười tìm gươm nầy có khác nào như người đánh đàn sắt đem gắn cả ngựa lại, tưởng ngựa không di dịch được là các âm vận tự nhiên điều hòa được đúng! Than ôi! người cố chấp bất thông, chỉ câu nệ biết giữ chặt một cái đã nắm chặt trong tay, chớ không hiểu nghĩa chữ 'thời' là gì?","giai_nghia":["Khắc chu cầu kiếm: Khắc mạn thuyền tìm gươm, chỉ thói câu nệ, bảo thủ, không hiểu sự biến chuyển của thời thế.","Đàn sắt: Nhạc cụ cổ có 25 hoặc 50 dây; gắn chặt ngựa đàn thì không thể chỉnh âm cho chuẩn được.","Chữ 'Thời': Sự biến chuyển và đòi hỏi của hoàn cảnh lịch sử thực tế."],"tags":["Thành ngữ","Lã Thị Xuân Thu","Thời thế","Trí tuệ"]},{"id":10,"title_vi":"Ba Con Rận Kiện Nhau","title_zh_simp":"三虱相讼","title_zh_trad":"三虱相訟","title_pinyin":"Sān shī xiāng sòng","title_han_viet":"TAM SẤT TƯƠNG TỤNG","title_en":"Three Lice Suing Each Other","source_book":"《庄子》 / 《韩非子》","source_author":"Trang Chu (Trang Tử) / Hàn Phi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"三虱相与讼。一虱过之，曰：“讼者奚说？”三虱曰：“争肥铙之地。”一虱曰：“若亦不患腊之至而焦釜之烹乎？若何相争也？”三虱乃悟，共聚而食，彘瘦而不杀，三虱得以全生。","content_zh_trad":"三虱相與訟。一虱過之，曰：「訟者奚說？」三虱曰：「爭肥饒之地。」一虱曰：「若亦不患臘之至而焦釜之烹乎？若何相爭也？」三虱乃悟，共聚而食，彘瘦而不殺，三虱得以全生。","content_pinyin":"Sān shī xiāng yǔ sòng. Yī shī guò zhī, yuē: “Sòng zhě xī shuō?” Sān shī yuē: “Zhēng féi ráo zhī dì.” Yī shī yuē: “Ruò yì bù huàn là zhī zhì ér jiāo fǔ zhī pēng hū? Ruò hé xiāng zhēng yě?” Sān shī nǎi wù, gòng jù ér shí, zhì shòu ér bù shā, sān shī dé yǐ quán shēng.","content_han_viet":"Tam sắt tương dữ tụng. Nhất sắt quá chi, viết: \"Tụng giả hề thuyết?\" Tam sắt viết: \"Tranh phì nhiêu chi địa.\" Nhất sắt viết: \"Nhược diệc bất hoạn lạp chi chí nhi tiêu phủ chi phanh hồ? Nhược hà tương tranh dã?\" Tam sắt nãi ngộ, cộng tụ nhi thực, trĩ sấu nhi bất sát, tam sắt đắc dĩ toàn sinh.","content_vi":"Ba con rận hút máu một con lợn, tranh nhau ăn, đem nhau đi kiện. Một con rận khác gặp, hỏi:\n\n'Ba anh kiện nhau về việc gì thế?'\n\n- Ba con rận đáp: 'Chúng tôi kiện nhau, vì tranh nhau một chỗ đất mầu mỡ.'\n\n- Con rận kia nói: 'Tôi tưởng các anh chẳng nên tranh lẫn nhau thế làm gì. Các anh chỉ nên lo đến con dao của người đồ tể giết lợn, ngọn lửa của bó rơm thui lợn mà thôi.'\n\nBa con rận nghe ra, biết là dại, thôi không đi kiện nữa, cùng nhau quần tụ làm ăn với nhau, dù no dù đói cũng không bỏ nhau. Con lợn thành mỗi ngày một gầy, người ta không làm thịt cứ để nuôi, ba con rận nhờ thế mà no đủ mãi.","loi_ban_vi":"Nhân dân một xứ mà cứ tranh giành lẫn nhau cái lợi trước mắt, không nghĩ gì đến cái việc lâu dài cho cả toàn thể, thì trí khôn thật không bằng mấy con rận nói trong truyện nầy.\n\nTranh nhau, cãi nhau, đánh nhau, kiện nhau, thì oan oan tương kết, lợi chẳng thấy đâu chỉ thấy hại, hại cho một mình lại hại cho cả đàn, cả lũ nữa. Sao không biết: Sâu đục cây, cây đổ thì sâu cũng chẳng còn; trùng hại vật, vật chết thì trùng cũng hết kiếp!","giai_nghia":["Tam sắt tương tụng: Ba con rận kiện nhau, thành ngữ ngụ ý nội bộ lục đục tranh lợi nhỏ mà rước họa diệt vong.","Đồ tể: Người mổ gia súc gia cầm.","Quần tụ: Đoàn kết gắn bó sinh sống cùng nhau."],"tags":["Đoàn kết","Tầm nhìn","Trang Tử","Ngụ ngôn"]},{"id":11,"title_vi":"Đạo Vợ Chồng","title_zh_simp":"夫妇之道 / 房玄龄妻卢氏","title_zh_trad":"夫婦之道 / 房玄齡妻盧氏","title_pinyin":"Fū fù zhī dào / Fáng Xuánlíng qī Lú shì","title_han_viet":"PHU PHỤ CHI ĐẠO / PHÒNG HUYỀN LINH THÊ LƯ THỊ","title_en":"The Sacred Vow of Husband and Wife","source_book":"《新唐书》 / 《后汉书》","source_author":"Âu Dương Tu / Phạm Diệp","source_period":"Đường Triều","content_zh_simp":"房玄龄微时，尝病甚，将死，谓妻卢氏曰：“吾病革，卿年少，不可枉居，善事他人。”卢泣入帷中，剜一目以示玄龄，示无他意。玄龄疾愈，礼敬特甚。后玄龄为相，太宗赐美人，卢氏宁饮鸩不纳，帝叹曰：“我尚畏之，况玄龄乎！”","content_zh_trad":"房玄齡微時，嘗病甚，將死，謂妻盧氏曰：「吾病革，卿年少，不可枉居，善事他人。」盧泣入帷中，剜一目以示玄齡，示無他意。玄齡疾愈，禮敬特甚。後玄齡為相，太宗賜美人，盧氏寧飲鴆不納，帝嘆曰：「我尚畏之，況玄齡乎！」","content_pinyin":"Fáng Xuánlíng wēi shí, cháng bìng shèn, jiāng sǐ, wèi qī Lú shì yuē: “Wú bìng jí, qīng niánshào, bù kě wǎng jū, shàn shì tā rén.” Lú qì rù wéi zhōng, wān yī mù yǐ shì Xuánlíng, shì wú tā yì. Xuánlíng jí yù, lǐ jìng tè shèn. Hòu Xuánlíng wéi xiàng, Tàizōng cì měirén, Lú shì nìng yǐn zhèn bù nà, dì tàn yuē: “Wǒ shàng wèi zhī, kuàng Xuánlíng hū!”","content_han_viet":"Phòng Huyền Linh vi thời, thường bệnh thậm, tương tử, vị thê Lư thị viết: \"Ngô bệnh cách, khanh niên thiếu, bất khả uổng cư, thiện sự tha nhân.\" Lư khấp nhập duy trung, oản nhất mục dĩ thị Huyền Linh, thị vô tha ý. Huyền Linh tật dũ, lễ kính đặc thậm. Hậu Huyền Linh vi tướng, Thái Tông tứ mỹ nhân, Lư thị ninh ẩm trẫm bất nạp, đế thán viết: \"Ngã thượng úy chi, huống Huyền Linh hồ!\"","content_vi":"Lư phu nhân, vợ ông Phòng Huyền Linh, là người tuyệt đẹp và đoan trang. Lúc ông Huyền Linh chưa hiển đạt, mắc bệnh nặng thập tử nhất sinh, bèn bảo vợ rằng: 'Bệnh tôi khó qua khỏi. Nàng tuổi còn son trẻ, không nên ở vậy mà uổng phí tuổi xuân, hãy liệu bề tái giá'.\n\nLư phu nhân nghe nói, khóc lóc đi vào buồng, tự khoét một con mắt đem ra đưa cho chồng xem để tỏ ý chí son sắt trọn đời không lấy ai khác.\n\nSau Phòng Huyền Linh khỏi bệnh, làm quan đến Tể tướng dưới triều Đường Thái Tông, đối với vợ muôn phần kính trọng, một dạ thủy chung son sắt cho đến trọn đời.","loi_ban_vi":"Tưởng mình sắp chết, thấy vợ trẻ trung không muốn để cho ở vậy, thế là quá yêu thương vợ, thể tất cho vợ lắm. Sợ chồng tiếc đẹp, chết đi không dứt, mà khoét mắt để tỏ ra thành tật cho yên lòng chồng, thế là chí tình và nhất tâm với chồng lắm.\n\nMay khỏi bệnh, sau lại làm đến Tể tướng, ông chỉ biết có một bà vợ tật nguyền thuở hàn vi mà thôi, kính yêu quý trọng trọn tình trọn nghĩa. Đạo vợ chồng gắn bó thủy chung như thế thật đáng lưu danh thiên cổ, khiến đời sau soi vào mà cảm phục.","giai_nghia":["Phòng Huyền Linh: Tể tướng lừng danh thời Trinh Quán triều Đường, cánh tay đắc lực của Đường Thái Tông Lý Thế Dân.","Lư phu nhân: Hình mẫu tiết phụ kiên trinh nổi tiếng bậc nhất sử sách.","Hàn vi: Thuở nghèo túng, cơ hàn khi chưa làm nên sự nghiệp."],"tags":["Tình nghĩa","Thủy chung","Đường Triều","Gia đình"]},{"id":12,"title_vi":"Mong Làm Điều Phải","title_zh_simp":"慕柳下惠 / 学柳下惠之为人","title_zh_trad":"慕柳下惠 / 學柳下惠之為人","title_pinyin":"Mù Liǔ Xià Huì / Xué Liǔ Xià Huì zhī wéirén","title_han_viet":"MỘ LIỄU HẠ HUỆ / HỌC LIỄU HẠ HUỆ CHI VI NHÂN","title_en":"Striving to Do What Is Right","source_book":"《吕氏春秋》","source_author":"Lã Bất Vi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"鲁人身善，独处室。邻之嫠妇亦独处室。夜暴风雨，嫠妇室坏，趋而托焉。鲁人闭门而不纳。妇人曰：“子何不纳我乎？”鲁人曰：“吾闻男女不六十不同居。今子幼，吾亦幼，是以不敢纳尔也。”妇人曰：“子何不如柳下惠然，妪不逮门之女，国人不称其乱？”鲁人曰：“柳下惠则可，吾固不可。吾以吾之不可，学柳下惠之可，未为不可也。”孔子闻之曰：“善哉！学柳下惠者，莫若此子矣。”","content_zh_trad":"魯人身善，獨處室。鄰之嫠婦亦獨處室。夜暴風雨，嫠婦室壞，趨而托焉。魯人閉門而不納。婦人曰：「子何不納我乎？」魯人曰：「吾聞男女不六十不同居。今子幼，吾亦幼，是以不敢納爾也。」婦人曰：「子何不如柳下惠然，嫗不逮門之女，國人不稱其亂？」魯人曰：「柳下惠則可，吾固不可。吾以吾之不可，學柳下惠之可，未為不可也。」孔子聞之曰：「善哉！學柳下惠者，莫若此子矣。」","content_pinyin":"Lǔ rén shēn shàn, dú chǔ shì. Lín zhī lí fù yì dú chǔ shì. Yè bào fēng yǔ, lí fù shì huài, qū ér tuō yān. Lǔ rén bì mén ér bù nà. Fùrén yuē: “Zǐ hé bù nà wǒ hū?” Lǔ rén yuē: “Wú wén nán nǚ bù liù shí bù tóng jū. Jīn zǐ yòu, wú yì yòu, shì yǐ bù gǎn nà ěr yě.” Fùrén yuē: “Zǐ hé bù rú Liǔ Xià Huì rán, yù bù dǎi mén zhī nǚ, guó rén bù chēng qí luàn?” Lǔ rén yuē: “Liǔ Xià Huì zé kě, wú gù bù kě. Wú yǐ wú zhī bù kě, xué Liǔ Xià Huì zhī kě, wèi wéi bù kě yě.” Kǒngzǐ wén zhī yuē: “Shàn zāi! Xué Liǔ Xià Huì zhě, mò ruò cǐ zǐ yǐ.”","content_han_viet":"Lỗ nhân thân thiện, độc xứ thất. Lân chi li phụ diệc độc xứ thất. Dạ bạo phong vũ, li phụ thất hoại, xu nhi thác yên. Lỗ nhân bế môn nhi bất nạp. Phụ nhân viết: \"Tử hà bất nạp ngã hồ?\" Lỗ nhân viết: \"Ngô văn nam nữ bất lục thập bất đồng cư. Kim tử ấu, ngô diệc ấu, thị dĩ bất cảm nạp nhĩ dã.\" Phụ nhân viết: \"Tử hà bất như Liễu Hạ Huệ nhiên, ẩu bất đãi môn chi nữ, quốc nhân bất xưng kỳ loạn?\" Lỗ nhân viết: \"Liễu Hạ Huệ tắc khả, ngô cố bất khả. Ngô dĩ ngô chi bất khả, học Liễu Hạ Huệ chi khả, vị vi bất khả dã.\" Khổng Tử văn chi viết: \"Thiện tai! Học Liễu Hạ Huệ giả, mạc nhược thử tử hĩ.\"","content_vi":"Nước Lỗ có người ở một mình một nhà. Bên láng giềng có người đàn bà góa cũng ở một mình. Một đêm mưa to gió lớn làm đổ sập nhà người đàn bà, bà ta chạy sang xin ngủ nhờ.\n\nNgười đàn ông đóng chặt cửa không cho vào. Người đàn bà đứng ngoài vách than thở: 'Sao chàng lại tuyệt tình không mở cửa? Sao không bắt chước đức Liễu Hạ Huệ ngày xưa, ôm ấp cô gái rét mướt qua đêm nơi cổng thành mà không vướng bụi trần tà niệm?'\n\nNgười đàn ông đáp: 'Liễu Hạ Huệ đạo hạnh cao vời thì làm được, còn tôi sức tu chưa tới ắt không thể làm được. Tôi lấy cái không thể của tôi mà giữ gìn phẩm hạnh, chính là đang học theo cái tâm trong sạch của Liễu Hạ Huệ vậy!'\n\nĐức Khổng Tử nghe chuyện tấm tắc khen: 'Học theo Liễu Hạ Huệ mà thấu suốt và sáng suốt như thế, thật chưa ai bằng người này!'","loi_ban_vi":"Mong làm điều rất phải không bắt chước hình thức cách làm, mà giữ được cái gốc của sự phải, thế mới thật là khôn!\n\nLiễu Hạ Huệ mở lòng cứu người mà tâm bất động là bậc thánh nhân. Người trai nước Lỗ biết tự lượng sức mình, biết giữ gìn giới hạn để không sa ngã, tuy đóng cửa mà thực tế là bảo toàn danh tiết và lòng trong sạch cho cả hai. Biết mình là ai để giữ thân chính trực chính là đỉnh cao của sự khôn ngoan.","giai_nghia":["Liễu Hạ Huệ: Người nước Lỗ thời Xuân Thu, nổi tiếng thanh cao, 'tọa hoài bất loạn' (người đẹp ngồi vào lòng mà lòng dạ không hề xao xuyến).","Tự lượng sức: Biết rõ giới hạn của bản thân để phòng ngừa cám dỗ."],"tags":["Liêm chính","Khổng Tử","Tự biết mình","Lã Thị Xuân Thu"]},{"id":13,"title_vi":"Yêu Nên Tốt, Ghét Nên Xấu","title_zh_simp":"弥子瑕失宠 / 余桃之罪","title_zh_trad":"彌子瑕失寵 / 餘桃之罪","title_pinyin":"Mí Zǐ Xiá shī chǒng / Yú táo zhī zuì","title_han_viet":"DI TỬ HÀ THẤT SỦNG / DƯ ĐÀO CHI TỘI","title_en":"Loved Means Perfect, Hated Means Flawed","source_book":"《韩非子·说难》","source_author":"Hàn Phi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"昔者弥子瑕有宠于卫灵公。卫国之法，窃驾君车者罪刖。弥子瑕母病，人疾呼之，弥子瑕乘君车而出。公闻而贤之曰：“孝哉！为母之故，忘其刖罪。”异日，与君游于果园，食桃而甘，不尽，以其半啖君。公曰：“爱我哉！忘其口味以啖寡人。”及弥子瑕色衰爱弛，得罪于君，君曰：“是固尝矫驾吾车，又尝食我以余桃。”","content_zh_trad":"昔者彌子瑕有寵於衛靈公。衛國之法，竊駕君車者罪刖。彌子瑕母病，人疾呼之，彌子瑕乘君車而出。公聞而賢之曰：「孝哉！為母之故，忘其刖罪。」異日，與君遊於果園，食桃而甘，不盡，以其半啖君。公曰：「愛我哉！忘其口味以啖寡人。」及彌子瑕色衰愛弛，得罪於君，君曰：「是固嘗矯駕吾車，又嘗食我以餘桃。」","content_pinyin":"Xī zhě Mí Zǐ Xiá yǒu chǒng yú Wèi Líng Gōng. Wèi guó zhī fǎ, qiè jià jūn chē zhě zuì yuè. Mí Zǐ Xiá mǔ bìng, rén jí hū zhī, Mí Zǐ Xiá chéng jūn chē ér chū. Gōng wén ér xián zhī yuē: “Xiào zāi! Wèi mǔ zhī gù, wàng qí yuè zuì.” Yì rì, yǔ jūn yóu yú guǒyuán, shí táo ér gān, bù jìn, yǐ qí bàn dàn jūn. Gōng yuē: “Ài wǒ zāi! Wàng qí kǒuwèi yǐ dàn guǎrén.” Jí Mí Zǐ Xiá sè shuāi ài chí, dézuì yú jūn, jūn yuē: “Shì gù cháng jiǎo jià wú chē, yòu cháng shí wǒ yǐ yú táo.”","content_han_viet":"Tích giả Di Tử Hà hữu sủng ư Vệ Linh Công. Vệ quốc chi pháp, thiết giá quân xa giả tội nguyệt. Di Tử Hà mẫu bệnh, nhân tật hô chi, Di Tử Hà thừa quân xa nhi xuất. Công văn nhi hiền chi viết: \"Hiếu tai! Vi mẫu chi cố, vong kỳ nguyệt tội.\" Dị nhật, dữ quân du ư quả viên, thực đào nhi cam, bất tận, dĩ kỳ bán đạm quân. Công viết: \"Ái ngã tai! Vong kỳ khẩu vị dĩ đạm quả nhân.\" Cập Di Tử Hà sắc suy ái trì, đắc tội ư quân, quân viết: \"Thị cố thường kiệu giá ngô xa, hữu thường thực ngã dĩ dư đào.\"","content_vi":"Trước kia vua nước Vệ rất yêu quý chàng Di Tử Hà. Phép nước Vệ ai tự tiện đi xe của vua thì bị tội chặt chân. Một đêm, mẹ Di Tử Hà ốm nặng, người nhà chạy đến báo, chàng vội lấy xe của vua đánh về thăm mẹ. Vua khen: 'Hiếu thảo thay! Vì mẹ mà quên cả tội chặt chân'.\n\nMột hôm theo vua dạo chơi vườn quả, Di Tử Hà ăn quả đào thấy ngọt, bèn để dành nửa quả còn lại đưa cho vua ăn. Vua lại khen: 'Yêu ta thay! Ăn ngon mà biết nhớ nhường cho ta'.\n\nVề sau Di Tử Hà nhan sắc phai nhạt, vua đổi lòng ghét bỏ, đay nghiến rằng: 'Thằng này ngày xưa từng tự tiện trộm xe của ta, lại còn dám đưa quả đào cắn dở cho ta ăn!'","loi_ban_vi":"Sự yêu, ghét thường làm cho người ta mờ mắt đi, không rõ hẳn được cái giá trị thực của người được yêu hay bị ghét. Lúc yêu thì khen chanh cũng ngọt, lúc ghét thì chê hồng cũng chua! Cùng một hành vi, lúc đang sủng ái thì xem là có hiếu có nghĩa, lúc đã căm ghét thì xem là phạm thượng đại nghịch.\n\nCho nên người khôn ngoan chớ cậy vào sự sủng ái bốc đồng nhất thời của người đời, vì lòng yêu ghét của kẻ hẹp hòi thay đổi nhanh hơn trở bàn tay.","giai_nghia":["Di Tử Hà: Bầy tôi được sủng ái của Vệ Linh Công thời Xuân Thu.","Tội nguyệt: Hình phạt chặt chân thời cổ đại.","Dư đào chi tội: Tội đưa quả đào cắn dở, thành ngữ chỉ sự trớ trêu của lòng người khi yêu nên tốt, ghét nên xấu."],"tags":["Lòng người","Hàn Phi Tử","Cảnh tỉnh","Xử thế"]},{"id":14,"title_vi":"Cảm Tình","title_zh_simp":"燕人哭燕","title_zh_trad":"燕人哭燕","title_pinyin":"Yān rén kū Yān","title_han_viet":"YÊN NHÂN KHỐC YÊN","title_en":"Sentiments and Shared Nostalgia","source_book":"《列子·周穆王》","source_author":"Liệt Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"燕人生于燕，长于楚，及老而还本国。过晋国，同行者戏之，指城曰：“此燕国之城。”其人愀然变容。指社曰：“此若里之社。”其人喟然而叹。指舍曰：“此若先人之庐。”其人澘然而泣。指冢曰：“此若先人之冢。”其人哭不自禁。同行者笑曰：“予戏若耳，此晋国也。”其人甚惭。及至燕，真见其城社冢庐，其悲心反薄矣。","content_zh_trad":"燕人生於燕，長於楚，及老而還本國。過晉國，同行者戲之，指城曰：「此燕國之城。」其人愀然變容。指社曰：「此若里之社。」其人喟然而嘆。指舍曰：「此若先人之廬。」其人潸然而泣。指塚曰：「此若先人之塚。」其人哭不自禁。同行者笑曰：「予戲若耳，此晉國也。」其人甚慚。及至燕，真見其城社塚廬，其悲心反薄矣。","content_pinyin":"Yān rén shēng yú Yān, zhǎng yú Chǔ, jí lǎo ér huán běn guó. Guò Jìn guó, tóngxíng zhě xì zhī, zhǐ chéng yuē: “Cǐ Yān guó zhī chéng.” Qí rén qiǎo rán biàn róng. Zhǐ shè yuē: “Cǐ ruò lǐ zhī shè.” Qí rén kuì rán ér tàn. Zhǐ shè yuē: “Cǐ ruò xiānrén zhī lú.” Qí rén shān rán ér qì. Zhǐ zhǒng yuē: “Cǐ ruò xiānrén zhī zhǒng.” Qí rén kū bù zì jìn. Tóngxíng zhě xiào yuē: “Yǔ xì ruò ěr, cǐ Jìn guó yě.” Qí rén shèn cán. Jí zhì Yān, zhēn jiàn qí chéng shè zhǒng lú, qí bēi xīn fǎn bó yǐ.","content_han_viet":"Yên nhân sinh ư Yên, trưởng ư Sở, cập lão nhi hoàn bản quốc. Quá Tấn quốc, đồng hành giả hí chi, chỉ thành viết: \"Thử Yên quốc chi thành.\" Kỳ nhân tiễu nhiên biến dung. Chỉ xã viết: \"Thử nhược lý chi xã.\" Kỳ nhân vị nhiên nhi thán. Chỉ xá viết: \"Thử nhược tiên nhân chi lư.\" Kỳ nhân san nhiên nhi khấp. Chỉ trủng viết: \"Thử nhược tiên nhân chi trủng.\" Kỳ nhân khốc bất tự cấm. Đồng hành giả tiếu viết: \"Dữ hí nhược nhĩ, thử Tấn quốc dã.\" Kỳ nhân thậm tàm. Cập chí Yên, chân kiến kỳ thành xã trủng lư, kỳ bi tâm phản bạc hĩ.","content_vi":"Một người sinh ở nước Yên, lớn lên ở nước Sở, đến lúc già mới quay về quê hương nước Yên. Đi qua địa phận nước Tấn, bạn đồng hành đùa bỡn, trỏ vào một ngôi thành nói: 'Đây là bờ cõi nước Yên đó!'\n\nNgười kia nghe vậy mặt mày lộ vẻ ngậm ngùi. Bạn lại trỏ vào đền thờ làng: 'Đây là miếu thờ làng quê của bác!' Bác ta thở dài não ruột. Bạn trỏ ngôi nhà cũ: 'Đây là nhà tổ tiên bác!' Bác ta ứa nước mắt. Bạn trỏ nấm mồ hoang: 'Đây là mồ mả ông bà bác!' Bác ta bật khóc nức nở.\n\nNgười bạn cười rộ lên: 'Tôi đùa bác đấy thôi, đây vẫn là đất nước Tấn mà!' Người kia ngượng ngùng vô cùng. Đến lúc về tới nước Yên thật, nhìn thấy thành quách mồ mả ông cha thật thì cảm xúc buồn rầu lại nhạt đi rồi.","loi_ban_vi":"Con người ta ai cũng có sẵn mối cảm tình thiêng liêng với cội nguồn. Khi có điều khêu gợi động chạm đến tấm lòng thì tình cảm ấy bộc phát rất chân thành mãnh liệt, dẫu chưa đúng thực cảnh.\n\nNhưng truyện này cũng ngầm cười cái thói đa cảm nông nổi: tình cảm nương vào hư tưởng thường bốc lên dữ dội, nhưng khi đối diện với thực tế trần trụi thì lại chai lỳ nguội lạnh. Sự sâu sắc bền vững phải đến từ nhận thức chân xác chứ không phải cảm xúc bồng bột nhất thời.","giai_nghia":["Nước Yên: Nước chư hầu ở phía bắc Trung Quốc (vùng Bắc Kinh, Hà Bắc ngày nay).","Nước Tấn: Vùng đất trung nguyên (nay là tỉnh Sơn Tây).","Đa cảm: Quá nhiều cảm xúc xúc động bộc phát."],"tags":["Tình quê","Tâm lý","Liệt Tử","Cội nguồn"]},{"id":15,"title_vi":"Khéo Can Được Vua","title_zh_simp":"晏子谏景公 / 晏子谏马","title_zh_trad":"晏子諫景公 / 晏子諫馬","title_pinyin":"Yànzǐ jiàn Jǐng Gōng / Yànzǐ jiàn mǎ","title_han_viet":"ÁN TỬ GIÁN CẢNH CÔNG / ÁN TỬ GIÁN MÃ","title_en":"Tactful Persuasion of the Monarch","source_book":"《晏子春秋》","source_author":"Án Anh (Án Tử)","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"齐景公有马，不死于病而死于鲉。公怒，令人肢解之。晏子曰：“古者圣王肢解人，不审自何人始？”公惧曰：“自寡人始。”晏子曰：“臣请数其罪而杀之。”公曰：“诺。”晏子按刀曰：“尔有三罪：公使汝养马而杀之，当死；又杀公所爱马，当死；使公以马之故杀人，百姓闻之怨公，诸侯闻之轻国，汝当死！”公叹曰：“夫子释之，勿伤吾仁。”","content_zh_trad":"齊景公有馬，不死於病而死於鯈。公怒，令人肢解之。晏子曰：「古者聖王肢解人，不審自何人始？」公懼曰：「自寡人始。」晏子曰：「臣請數其罪而殺之。」公曰：「諾。」晏子按刀曰：「爾有三罪：公使汝養馬而殺之，當死；又殺公所愛馬，當死；使公以馬之故殺人，百姓聞之怨公，諸侯聞之輕國，汝當死！」公嘆曰：「夫子釋之，勿傷吾仁。」","content_pinyin":"Qí Jǐng Gōng yǒu mǎ, bù sǐ yú bìng ér sǐ yú yóu. Gōng nù, lìng rén zhījiě zhī. Yànzǐ yuē: “Gǔ zhě shèng wáng zhījiě rén, bù shěn zì hé rén shǐ?” Gōng jù yuē: “Zì guǎrén shǐ.” Yànzǐ yuē: “Chén qǐng shǔ qí zuì ér shā zhī.” Gōng yuē: “Nuò.” Yànzǐ àn dāo yuē: “Ěr yǒu sān zuì: gōng shǐ rǔ yǎng mǎ ér shā zhī, dāng sǐ; yòu shā gōng suǒ ài mǎ, dāng sǐ; shǐ gōng yǐ mǎ zhī gù shā rén, bǎixìng wén zhī yuàn gōng, zhūhóu wén zhī qīng guó, rǔ dāng sǐ!” Gōng tàn yuē: “Fūzǐ shì zhī, wù shāng wú rén.”","content_han_viet":"Tề Cảnh Công hữu mã, bất tử ư bệnh nhi tử ư du. Công nộ, lệnh nhân chi giải chi. Án Tử viết: \"Cổ giả thánh vương chi giải nhân, bất thẩm tự hà nhân thủy?\" Công cụ viết: \"Tự quả nhân thủy.\" Án Tử viết: \"Thần thỉnh sổ kỳ tội nhi sát chi.\" Công viết: \"Nặc.\" Án Tử án đao viết: \"Nhĩ hữu tam tội: công sử nhữ dưỡng mã nhi sát chi, đương tử; hựu sát công sở ái mã, đương tử; sử công dĩ mã chi cố sát nhân, bách tính văn chi oán công, chư hầu văn chi khinh quốc, nhữ đương tử!\" Công thán viết: \"Phu tử thích chi, vật thương ngô nhân.\"","content_vi":"Vua Cảnh Công nước Tề có con ngựa quý đột nhiên lăn ra chết. Vua nổi trận lôi đình, sai quân lôi người nuôi ngựa ra phanh thây.\n\nÁn Tử bước tới hỏi: 'Thời xưa các bậc thánh vương phanh thây người chẳng hay bắt đầu từ vị nào?' Cảnh Công xấu hổ đáp: 'Bắt đầu từ ta'. Án Tử lại tâu: 'Xin chúa công cho thần kể tội kẻ này trước khi hành quyết'. Vua thuận tình.\n\nÁn Tử tuốt gươm, chỉ vào mặt người nuôi ngựa mắng lớn: 'Ngươi phạm ba đại tội đáng chết: Thứ nhất, nuôi ngựa để ngựa chết, đáng chết! Thứ hai, làm chết con ngựa yêu của chúa công, đáng chết! Thứ ba, ngươi làm cho chúa công vì một con súc vật mà giết mạng người, khiến trăm họ oán giận, chư hầu khinh khi nước Tề, tội ấy đáng muôn chết!'\n\nVua Cảnh Công giật mình tỉnh ngộ, vội ngăn: 'Thôi, thầy tha cho nó đi, đừng để ta mang tiếng bất nhân!'","loi_ban_vi":"Vua Cảnh Công vì con ngựa chết mà toan phanh thây người là đang cơn giận mất hết lý trí. Án Tử can gián không đao to búa lớn mà dùng thuật kể tội thuận dòng nghịch lý, giúp nhà vua tự soi vào hậu quả nhục nhã của cơn cuồng nộ mà dừng tay lại.\n\nCan ngăn người trên phải biết khéo léo nhu thuận, gợi lên lòng trắc ẩn và lương tri chứ không lấy cứng đối cứng, ấy là nghệ thuật hùng biện và trí tuệ đỉnh cao.","giai_nghia":["Án Tử: Án Anh, tướng quốc kiệt xuất nước Tề, nổi tiếng với tài ngoại giao và lòng liêm chính.","Tề Cảnh Công: Vua nước Tề thời Xuân Thu.","Phanh thây: Hình phạt xẻ xé thân thể cực kỳ tàn khốc thời cổ."],"tags":["Can gián","Án Tử","Trí tuệ","Lòng nhân ái"]},{"id":16,"title_vi":"Cậy Người Không Bằng Chắc Ở Mình","title_zh_simp":"滕文公问国 / 求人不如求己","title_zh_trad":"滕文公問國 / 求人不如求己","title_pinyin":"Téng Wén Gōng wèn guó / Qiú rén bù rú qiú jǐ","title_han_viet":"ĐẰNG VĂN CÔNG VẤN QUỐC / CẦU NHÂN BẤT NHƯ CẦU KỶ","title_en":"Relying on Oneself Rather than Others","source_book":"《孟子·滕文公》","source_author":"Mạnh Kha (Mạnh Tử)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"滕文公问曰：“滕，小国也，间于齐楚。事齐乎？事楚乎？”孟子对曰：“是谋非吾所能及也。无已，则有一焉：凿斯池也，筑斯城也，与民守之，效死而民弗去，则是可为也。”","content_zh_trad":"滕文公問曰：「滕，小國也，間於齊楚。事齊乎？事楚乎？」孟子對曰：「是謀非吾所能及也。無已，則有一焉：鑿斯池也，築斯城也，與民守之，效死而民弗去，則是可為也。」","content_pinyin":"Téng Wén Gōng wèn yuē: “Téng, xiǎo guó yě, jiān yú Qí Chǔ. Shì Qí hū? Shì Chǔ hū?” Mèngzǐ duì yuē: “Shì móu fēi wú suǒ néng jí yě. Wú yǐ, zé yǒu yī yān: záo sī chí yě, zhù sī chéng yě, yǔ mín shǒu zhī, xiào sǐ ér mín fú qù, zé shì kě wéi yě.”","content_han_viet":"Đằng Văn Công vấn viết: \"Đằng, tiểu quốc dã, gian ư Tề Sở. Sự Tề hồ? Sự Sở hồ?\" Mạnh Tử đối viết: \"Thị mưu phi ngô sở năng cập dã. Vô dĩ, tắc hữu nhất yên: tạc tư trì dã, trúc tư thành dã, dữ dân thủ chi, hiệu tử nhi dân phất khứ, tắc thị khả vi dã.\"","content_vi":"Vua Đằng Văn Công hỏi Đức Mạnh Tử: 'Nước Đằng là nước nhỏ, nằm kẹt giữa hai nước lớn là Tề và Sở. Vậy nên phụng sự nước Tề hay phụng sự nước Sở thì tốt hơn?'\n\nMạnh Tử đáp: 'Mưu kế luồn cúi ấy không phải điều tôi có thể chỉ dạy. Bằng như vạn bất đắc dĩ, chỉ có một con đường: Đào sâu hào rãnh, đắp cao thành trì, hết lòng thương yêu dân chúng để cùng dân đồng lòng giữ nước. Khi chúa công chết vì nước mà dân cũng liều chết không bỏ chúa công, thế thì nước ắt đứng vững được!'","loi_ban_vi":"Người làm chủ vận mệnh một nước hay một đời người, điều tối quan trọng là phải đứng vững trên đôi chân của mình. Nước nhỏ mà chỉ lo nịnh nọt nước lớn này để chống nước lớn kia thì chẳng khác nào bèo dạt mây trôi, sớm muộn cũng bị nước lớn nuốt chửng.\n\nPhàm ở đời cậy nhờ người khác không bằng tự cậy lấy mình; xây dựng nội lực và thu phục lòng dân mới là kế sách ngàn đời bền vững.","giai_nghia":["Đằng Văn Công: Vị vua hiền minh nước Đằng, thời Chiến Quốc hay hỏi kế Mạnh Tử.","Tề, Sở: Hai cường quốc hùng mạnh thời Chiến Quốc.","Mạnh Tử: Mạnh Kha, Á thánh của Nho gia, người kế thừa và phát triển tư tưởng Khổng Tử."],"tags":["Tự lực","Quốc trị","Mạnh Tử","Lòng dân"]},{"id":17,"title_vi":"Bệnh Quên","title_zh_simp":"华子疾忘 / 华子之忘","title_zh_trad":"華子疾忘 / 華子之忘","title_pinyin":"Huá Zǐ jí wàng / Huá Zǐ zhī wàng","title_han_viet":"HOA TỬ TẬT VONG / HOA TỬ CHI VONG","title_en":"The Sickness of Forgetting","source_book":"《列子·周穆王》","source_author":"Liệt Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"宋阳里华子中年病忘，朝取而夕忘，夕与而朝忘；在途则忘行，在室则忘坐；今不识后，后不识今。阖室毒之。竭巫医之术莫能已。鲁儒生自告能治，留宿其室，易其衣食，化其志虑，其疾遂愈。华子既悟，乃大怒，黜妻罚子，操戈逐儒生。人问其故，华子曰：“向吾忘也，荡荡然不觉天地之有无。今既寤矣，数十载存亡得失哀乐沸乱，其能少息乎？”","content_zh_trad":"宋陽里華子中年病忘，朝取而夕忘，夕與而朝忘；在途則忘行，在室則忘坐；今不識後，後不識今。闔室毒之。竭巫醫之術莫能已。魯儒生自告能治，留宿其室，易其衣食，化其志慮，其疾遂愈。華子既悟，乃大怒，黜妻罰子，操戈逐儒生。人問其故，華子曰：「向吾忘也，蕩蕩然不覺天地之有無。今既寤矣，數十載存亡得失哀樂沸亂，其能少息乎？」","content_pinyin":"Sòng yáng lǐ Huá Zǐ zhōngnián bìng wàng, zhāo qǔ ér xī wàng, xī yǔ ér zhāo wàng; zài tú zé wàng xíng, zài shì zé wàng zuò; jīn bù shí hòu, hòu bù shí jīn. Hé shì dú zhī. Jié wū yī zhī shù mò néng yǐ. Lǔ rúshēng zì gào néng zhì, liú sù qí shì, yì qí yī shí, huà qí zhì lǜ, qí jí suì yù. Huá Zǐ jì wù, nǎi dà nù, chù qī fá zǐ, cāo gē zhú rúshēng. Rén wèn qí gù, Huá Zǐ yuē: “Xiàng wú wàng yě, dàng dàng rán bù jué tiāndì zhī yǒuwú. Jīn jì wù yǐ, shù shí zǎi cúnwáng déshī āi lè fèi luàn, qí néng shǎo xī hū?”","content_han_viet":"Tống dương lý Hoa Tử trung niên bệnh vong, triêu thủ nhi tịch vong, tịch dữ nhi triêu vong; tại đồ tắc vong hành, tại thất tắc vong tọa; kim bất thức hậu, hậu bất thức kim. Hạp thất độc chi. Kiệt vu y chi thuật mạc năng dĩ. Lỗ nho sinh tự cáo năng trị, lưu túc kỳ thất, dịch kỳ y thực, hóa kỳ chí lự, kỳ tật toại dũ. Hoa Tử ký ngộ, nãi đại nộ, truất thê phạt tử, thao qua trục nho sinh. Nhân vấn kỳ cố, Hoa Tử viết: \"Hướng ngô vong dã, đãng đãng nhiên bất giác thiên địa chi hữu vô. Kim ký ngụ hĩ, sổ thập tái tồn vong đắc thất ai lạc phí loạn, kỳ năng thiểu tức hồ?\"","content_vi":"Hoa Tử nước Tống đến tuổi trung niên mắc chứng bệnh quên kỳ lạ: sớm nhận đồ chiều quên, chiều cho ai sáng quên; đi ra đường quên đi, ngồi trong nhà quên ngồi; việc trước không nhớ việc sau. Cả nhà lo sợ, mời thầy bói thầy thuốc khắp nơi không khỏi.\n\nCó anh học trò nước Lỗ xin chữa, đến ở cùng nhà, điều dưỡng khí sắc tâm thần ít lâu thì Hoa Tử khỏi hẳn bệnh quên. Thế nhưng khi vừa tỉnh táo nhớ lại mọi việc, Hoa Tử bỗng nổi trận lôi đình, đuổi vợ đánh con, vác gươm rượt đuổi người học trò.\n\nNgười làng can hỏi duyên cớ, Hoa Tử phẫn uất kêu lên: 'Trước kia lúc ta quên, lòng ta thênh thang thanh thản không vướng bận trời đất được mất! Nay vừa tỉnh lại, bao nhiêu nỗi lo toan, thù hận, ân oán, sầu khổ của mấy mươi năm ùa về cắn xé tâm can ta, làm sao ta sống cho yên được nữa!'","loi_ban_vi":"Lòng người rối bời, việc đời ấm lạnh được mất chỉ vì tâm trí nhớ quá nhiều điều tham sân si. Bệnh quên tuy người đời cho là khổ, nhưng xét về phương diện giải thoát, buông bỏ được những phiền não vương vấn của dĩ vãng lại chính là liều thuốc an thần tuyệt diệu.\n\nNgười có trí tuệ ở đời cần học cách 'quên' đi những ân oán vụn vặt, quên đi danh lợi hão huyền để giữ cho tâm hồn được an nhiên tự tại.","giai_nghia":["Bệnh vong: Chứng bệnh hay quên thời xưa.","Đãng đãng nhiên: Trạng thái thênh thang khoáng đạt, không bị ràng buộc bởi vật chất.","Phiền não: Lo âu, muộn phiền sinh ra từ lòng tham và sự chấp trước."],"tags":["Triết lý","Liệt Tử","Buông bỏ","Tâm an"]},{"id":18,"title_vi":"Đáng Sợ Gì Hơn Cả","title_zh_simp":"阅微草堂笔记 / 厉鬼与伪君子","title_zh_trad":"閱微草堂筆記 / 厲鬼與偽君子","title_pinyin":"Yuè wēi cǎotáng bǐjì / Lìguǐ yǔ wěijūnzǐ","title_han_viet":"DUYỆT VI THẢO ĐƯỜNG BÚT KÝ / LỆ QUỶ DỮ NGỤY QUÂN TỬ","title_en":"What Is Truly Most Frightening","source_book":"《阅微草堂笔记》","source_author":"Kỷ Hiểu Lam (Kỷ Quân)","source_period":"Thanh Triều","content_zh_simp":"有书生夜宿古寺，见一鬼披发曚目，状甚狰狞。书生唾曰：“尔何鬼也？”鬼曰：“吾疫死之鬼也。”书生曰：“尔貌虽厉，吾何畏焉！人世间有冠履齐整、言辞儒雅，而心怀鸩毒、暗箭中人者，其毒远胜于尔。吾见尔不过形骸之变，见彼则性命难保矣。”鬼闻之，长叹隐去。","content_zh_trad":"有書生夜宿古寺，見一鬼披髮曚目，狀甚獰惡。書生唾曰：「爾何鬼也？」鬼曰：「吾疫死之鬼也。」書生曰：「爾貌雖厲，吾何畏焉！人世間有冠履齊整、言辭儒雅，而心懷鴆毒、暗箭中人者，其毒遠勝於爾。吾見爾不過形骸之變，見彼則性命難保矣。」鬼聞之，長嘆隱去。","content_pinyin":"Yǒu shūshēng yè sù gǔ sì, jiàn yī guǐ pī fà méng mù, zhuàng shèn zhēngníng. Shūshēng tuò yuē: “Ěr hé guǐ yě?” Guǐ yuē: “Wú yì sǐ zhī guǐ yě.” Shūshēng yuē: “Ěr mào suī lì, wú hé wèi yān! Rén shìjiān yǒu guān lǚ qízhěng, yáncí rúyǎ, ér xīnhuái zhèndú, ànjiàn zhòng rén zhě, qí dú yuǎn shèng yú ěr. Wú jiàn ěr bùguò xínghái zhī biàn, jiàn bǐ zé xìngmìng nán bǎo yǐ.” Guǐ wén zhī, cháng tàn yǐn qù.","content_han_viet":"Hữu thư sinh dạ túc cổ tự, kiến nhất quỷ phi phát mông mục, trạng thậm tranh ninh. Thư sinh thoa viết: \"Nhĩ hà quỷ dã?\" Quỷ viết: \"Ngô dịch tử chi quỷ dã.\" Thư sinh viết: \"Nhĩ mạo suī lệ, ngô hà úy yên! Nhân thế gian hữu quan lữ tề chỉnh, ngôn từ nho nhã, nhi tâm hoài trẫm độc, ám tiễn trúng nhân giả, kỳ độc viễn thắng ư nhĩ. Ngô kiến nhĩ bất quá hình hài chi biến, kiến bỉ tắc tính mệnh nan bảo hĩ.\" Quỷ văn chi, trường thán ẩn khứ.","content_vi":"Loài yếu sợ loài khỏe, kẻ dại sợ kẻ khôn, người sợ ma quỷ là thói thường. Một thầy đồ ngủ trọ trong ngôi chùa cổ hoang vu, nửa đêm thấy một bóng ma mặt mày nanh ác, máu me rùng rợn hiện ra toan dọa nạt.\n\nThầy đồ chẳng những không sợ hãi mà còn bình thản bảo ma rằng: 'Mày là quỷ dữ hình thù ghê rợn, cùng lắm chỉ làm ta giật mình sợ hãi chốc lát mà thôi. Chứ ở cõi người, có những kẻ mũ cao áo dài, mở miệng nói toàn điều nhân nghĩa đạo đức nhưng bụng dạ hiểm độc như lang sói, chuyên ngấm ngầm bắn tên lén hãm hại người lương thiện. Cái độc ác của bọn ngụy quân tử ấy độc hại gấp vạn lần loài quỷ sứ chúng mày!'\n\nCon ma nghe xong thở dài sườn sượt rồi lủi mất dạng.","loi_ban_vi":"Ma quỷ dẫu hình thù quái dị nhưng bản tính lộ rõ ra ngoài, người ta còn biết đường mà tránh. Còn phường hiểm độc lừa thầy phản bạn, bề ngoài ra vẻ chính nhân quân tử mà trong lòng chứa dao găm thuốc độc mới thật là giống đáng sợ nhất trần gian.\n\nBởi vậy cổ nhân có câu: 'Họa hổ họa bì nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm'. Sống ở đời, cần phải sáng mắt tinh đời để nhận rõ chân tướng kẻ đạo đức giả.","giai_nghia":["Duyệt Vi Thảo Đường Bút Ký: Tác phẩm bút ký nổi tiếng của đại học sĩ Kỷ Hiểu Lam đời nhà Thanh.","Ngụy quân tử: Kẻ giả danh đạo đức, bên ngoài đoan trang mà bên trong xấu xa hiểm ác.","Tri nhân tri diện bất tri tâm: Biết người biết mặt chứ khó biết lòng."],"tags":["Đạo đức","Cảnh giác","Kỷ Hiểu Lam","Xử thế"]},{"id":19,"title_vi":"Cách Đâm Hổ","title_zh_simp":"卞庄子刺虎 / 两虎相争","title_zh_trad":"卞莊子刺虎 / 兩虎相爭","title_pinyin":"Biàn Zhuāngzǐ cì hǔ / Liǎng hǔ xiāng zhēng","title_han_viet":"BIỆN TRANG TỬ THÍCH HỔ / LƯỠNG HỔ TƯƠNG TRANH","title_en":"The Art of Slaying Tigers","source_book":"《战国策》 / 《史记》","source_author":"Tư Mã Thiên / Lưu Hướng","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"卞庄子欲刺虎，馆竖子止之，曰：“两虎方且食牛，食甘必争，争则必斗，斗则大者伤，小者死。从伤而刺之，一举而有双虎之名。”卞庄子以为然，立须之。有顷，两虎果斗，大者伤，小者死。庄子从伤而刺之，一举果有双虎之功。","content_zh_trad":"卞莊子欲刺虎，館豎子止之，曰：「兩虎方且食牛，食甘必爭，爭則必鬥，鬥則大者傷，小者死。從傷而刺之，一舉而有雙虎之名。」卞莊子以為然，立須之。有頃，兩虎果鬥，大者傷，小者死。莊子從傷而刺之，一舉果有雙虎之功。","content_pinyin":"Biàn Zhuāngzǐ yù cì hǔ, guǎn shùzǐ zhǐ zhī, yuē: “Liǎng hǔ fāng qiě shí niú, shí gān bì zhēng, zhēng zé bì dòu, dòu zé dà zhě shāng, xiǎo zhě sǐ. Cóng shāng ér cì zhī, yī jǔ ér yǒu shuāng hǔ zhī míng.” Biàn Zhuāngzǐ yǐwéi rán, lì xū zhī. Yǒu qǐng, liǎng hǔ guǒ dòu, dà zhě shāng, xiǎo zhě sǐ. Zhuāngzǐ cóng shāng ér cì zhī, yī jǔ guǒ yǒu shuāng hǔ zhī gōng.","content_han_viet":"Biện Trang Tử dục thích hổ, quán thụ tử chỉ chi, viết: \"Lưỡng hổ phương thả thực ngưu, thực cam tất tranh, tranh tắc tất đấu, đấu tắc đại giả thương, tiểu giả tử. Tòng thương nhi thích chi, nhất cử nhi hữu song hổ chi danh.\" Biện Trang Tử dĩ vi nhiên, lập tu chi. Hữu khoảnh, lưỡng hổ quả đấu, đại giả thương, tiểu giả tử. Trang Tử tòng thương nhi thích chi, nhất cử quả hữu song hổ chi công.","content_vi":"Biện Trang Tử trông thấy hai con hổ đang vồ một con trâu ăn thịt, bèn rút gươm toan xông lại đâm. Đứa bé tiểu đồng đứng cạnh can rằng:\n\n'Hai con hổ đang ăn trâu, ắt vì tranh mồi ngon mà cắn nhau. Khi chúng cắn nhau, thế nào con nhỏ cũng chết, con lớn cũng bị trọng thương. Lúc bấy giờ ông hãy nhảy ra đâm chết con hổ bị thương, chẳng phải tốn một chút sức lực mà được tiếng đâm chết hai con hổ ru!'\n\nBiện Trang Tử cho là phải, đứng yên chờ đợi. Quả nhiên một lát sau hai con hổ chồm lên cắn xé nhau tơi bời, con nhỏ chết gục, con lớn thương tích đầy mình. Biện Trang Tử bấy giờ mới vung gươm lao ra đâm chết con hổ bị thương, lập nên chiến công diệt đôi hổ lẫy lừng.","loi_ban_vi":"Bài này ngụ ý răn người ta làm việc gì cũng cần phải biết chờ thời cơ, không nên cậy sức mạnh hăng hái mù quáng. Mạnh Tử có câu: 'Dẫu có trí tuệ khôn ngoan, không bằng thừa thời cơ thuận lợi; dẫu có cày bừa sắc bén, không bằng đợi lúc mưa ẩm tốt tươi'.\n\nNgười mưu việc lớn phải có sự nhẫn nại quan sát sự biến chuyển của cục diện, hành động đúng thời khắc mấu chốt thì thành công rực rỡ mà tổn hao ít nhất.","giai_nghia":["Biện Trang Tử: Dũng sĩ nổi danh nước Lỗ thời Xuân Thu.","Lưỡng hổ tương tranh: Hai hổ cắn nhau, để người ngoài thủ lợi (Tọa sơn quan hổ đấu).","Thừa thế: Lợi dụng thời cơ thuận lợi để hành động."],"tags":["Trí tuệ","Thời cơ","Chiến Quốc Sách","Mưu lược"]},{"id":20,"title_vi":"Báo Thù","title_zh_simp":"伍子胥报父兄之仇","title_zh_trad":"伍子胥報父兄之仇","title_pinyin":"Wǔ Zǐxū bào fù xiōng zhī chóu","title_han_viet":"NGŨ TỬ TƯ BÁO PHỤ HUYNH CHI THÙ","title_en":"Vengeance and Boundless Determination","source_book":"《史记·伍子胥列传》","source_author":"Tư Mã Thiên","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"楚平王无道，杀伍子胥父奢与兄尚。子胥亡命奔吴，白发过昭关，乞食于市。后佐吴王阖闾破楚入郢。平王已死，子胥掘楚平王墓，出其尸，鞭之三百，然后已。申包胥责之曰：“子之报雠，其亦甚乎！”子胥曰：“吾日暮途远，吾故倒行而逆施之。”","content_zh_trad":"楚平王無道，殺伍子胥父奢與兄尚。子胥亡命奔吳，白髮過昭關，乞食於市。後佐吳王闔閭破楚入郢。平王已死，子胥掘楚平王墓，出其屍，鞭之三百，然後已。申包胥責之曰：「子之報讎，其亦甚乎！」子胥曰：「吾日暮途遠，吾故倒行而逆施之。」","content_pinyin":"Chǔ Píng Wáng wú dào, shā Wǔ Zǐxū fù Shē yǔ xiōng Shàng. Zǐxū wángmìng bēn Wú, bái fà guò Zhāo Guān, qǐ shí yú shì. Hòu zuǒ Wú wáng Hélǘ pò Chǔ rù Yǐng. Píng Wáng yǐ sǐ, Zǐxū jué Chǔ Píng Wáng mù, chū qí shī, biān zhī sān bǎi, ránhòu yǐ. Shēn Bāoxū zé zhī yuē: “Zǐ zhī bào chóu, qí yì shèn hū!” Zǐxū yuē: “Wú rì mù tú yuǎn, wú gù dào xíng ér nì shī zhī.”","content_han_viet":"Sở Bình Vương vô đạo, sát Ngũ Tử Tư phụ Xa dữ huynh Thượng. Tử Tư vong mệnh bôn Ngô, bạch phát quá Chiêu Quan, khất thực ư thị. Hậu tá Ngô vương Hạp Lư phá Sở nhập Dĩnh. Bình Vương dĩ tử, Tử Tư quật Sở Bình Vương mộ, xuất kỳ thi, tiên chi tam bách, nhiên hậu dĩ. Thân Bao Tư trách chi viết: \"Tử chi báo thù, kỳ diệc thậm hồ!\" Tử Tư viết: \"Ngô nhật mộ đồ viễn, ngô cố đảo hành nhi nghịch thi chi.\"","content_vi":"Vua Sở Bình Vương hôn ám bạo ngược, nghe lời sàm tấu giết oan cha và anh của Ngũ Tử Tư. Tử Tư thề báo thù, trốn sang nước Ngô, vì đau đớn lo nghĩ mà đầu bạc trắng chỉ sau một đêm ở cửa Ải Chiêu Quan, từng phải thổi tiêu ăn mày nơi chợ búa.\n\nSau Ngũ Tử Tư phò vua Ngô Hạp Lư huấn luyện quân đội, đánh tan quân Sở chiếm kinh đô Dĩnh. Bình Vương bấy giờ đã chết, Ngũ Tử Tư sai đào mả Bình Vương lên, quất roi vào thây ba trăm roi cho hả giận thù sâu.\n\nBạn là Thân Bao Tư trách: 'Báo thù như thế chẳng quá tàn nhẫn lắm ru!' Ngũ Tử Tư đáp: 'Ngày đã xế bóng mà đường còn xa vời, nên ta phải đi ngược đạo thường vậy!'","loi_ban_vi":"Ngũ Tử Tư một lòng báo thù cha anh, trải bao gian truân ngậm đắng nuốt cay đầu bạc áo rách, chí khí sắt đá dời non lấp biển khiến đời sau kinh hãi. Song quật mồ tiên thi người chết là quá hung bạo trái với đức khoan dung trung thứ.\n\nNgười đời khen chí khí kiên định của ông nhưng chê sự báo thù quá khắc nghiệt. Việc nghĩa lớn dẫu cần lòng kiên cường nhưng chớ để hận thù thiêu đốt mất thiên lương nhân đạo.","giai_nghia":["Ngũ Tử Tư: Danh tướng kiệt xuất thời Xuân Thu giúp nước Ngô xưng bá.","Chiêu Quan: Cửa ải hiểm trở ngăn giữa hai nước Sở và Ngô.","Nhật mộ đồ viễn: Ngày tàn đường xa, thành ngữ chỉ tuổi tác đã muộn mà việc lớn chưa xong, đành phải gấp gáp hành sự."],"tags":["Chí khí","Lịch sử","Sử Ký","Tư Mã Thiên"]},{"id":21,"title_vi":"Hết Lòng Vì Nước","title_zh_simp":"申包胥哭秦庭 / 申包胥乞师","title_zh_trad":"申包胥哭秦庭 / 申包胥乞師","title_pinyin":"Shēn Bāoxū kū Qín tíng / Shēn Bāoxū qǐ shī","title_han_viet":"THÂN BAO TƯ KHỐC TẦN ĐÌNH / THÂN BAO TƯ KHẤT SƯ","title_en":"Devotion to the Motherland","source_book":"《说苑·复恩》 / 《左传》","source_author":"Lưu Hướng / Tả Khâu Minh","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"吴伐楚，入郢。申包胥如秦乞师，倚于庭墙而哭，日夜不绝声，勺饮不入口七日。秦哀公曰：“楚虽无道，有臣若是，可无存乎！”乃出车五百乘救楚，大败吴师。申包胥反，楚昭王赏之，辞曰：“吾为存君，非为身也。君既存，吾何赏之有？”遂逃入山中，终身不出。","content_zh_trad":"吳伐楚，入郢。申包胥如秦乞師，倚於庭牆而哭，日夜不絕聲，勺飲不入口七日。秦哀公曰：「楚雖無道，有臣若是，可無存乎！」乃出車五百乘救楚，大敗吳師。申包胥反，楚昭王賞之，辭曰：「吾為存君，非為身也。君既存，吾何賞之有？」遂逃入山中，終身不出。","content_pinyin":"Wú fá Chǔ, rù Yǐng. Shēn Bāoxū rú Qín qǐ shī, yǐ yú tíng qiáng ér kū, rì yè bù jué shēng, sháo yǐn bù rù kǒu qī rì. Qín Āi Gōng yuē: “Chǔ suī wú dào, yǒu chén ruò shì, kě wú cún hū!” Nǎi chū chē wǔ bǎi shèng jiù Chǔ, dà bài Wú shī. Shēn Bāoxū fǎn, Chǔ Zhāo Wáng shǎng zhī, cí yuē: “Wú wèi cún jūn, fēi wèi shēn yě. Jūn jì cún, wú hé shǎng zhī yǒu?” Suì táo rù shān zhōng, zhōngshēn bù chū.","content_han_viet":"Ngô phạt Sở, nhập Dĩnh. Thân Bao Tư như Tần khất sư, ỷ ư đình tường nhi khốc, nhật dạ bất tuyệt thanh, chước ẩm bất nhập khẩu thất nhật. Tần Ai Công viết: \"Sở tuy vô đạo, hữu thần nhược thị, khả vô tồn hồ!\" Nãi xuất xa ngũ bách thừa cứu Sở, đại bại Ngô sư. Thân Bao Tư phản, Sở Chiêu Vương thưởng chi, từ viết: \"Ngô vi tồn quân, phi vi thân dã. Quân ký tồn, ngô hà thưởng chi hữu?\" Toại đào nhập sơn trung, chung thân bất xuất.","content_vi":"Quân Ngô đánh chiếm kinh đô nước Sở. Thần tử nước Sở là Thân Bao Tư vượt ngàn dặm sang nước Tần cầu cứu viện. Vua Tần do dự chưa quyết, Thân Bao Tư tựa lưng vào tường cung điện mà khóc, tiếng khóc than vang dội ngày đêm không dứt, bảy ngày bảy đêm liền giọt nước không thấm môi.\n\nVua Tần Ai Công cảm động sâu sắc, than rằng: 'Vua Sở tuy vô đạo, nhưng có bầy tôi trung liệt tận tụy dường này, lẽ nào nước Sở lại bị diệt vong!' Liền điều động năm trăm cỗ chiến xa tinh nhuệ sang cứu Sở, đánh tan quân Ngô, phục hồi bờ cõi.\n\nVua Sở Chiêu Vương trọng thưởng tước lộc cao nhất, Thân Bao Tư kiên quyết từ chối: 'Tôi khóc cầu viện là vì sự sống còn của giang sơn xã tắc chứ đâu phải vì bổng lộc vinh thân!' Nói đoạn lui về ẩn cư trong núi sâu trọn đời.","loi_ban_vi":"Ngũ Tử Tư vì thù cha anh mà mượn quân Ngô tàn phá quê cha đất tổ; Thân Bao Tư vì non sông mà khóc cạn nước mắt bảy ngày ở Tần đình cứu vãn cơ đồ. Hai người bạn thân mỗi người một chí hướng, song sự hết lòng vì nước của Thân Bao Tư thực là tấm gương trung trinh tiết liệt muôn thuở soi chung.\n\nĐã cứu được nước lại thoái thác danh lợi lui về ở ẩn, phẩm cách thanh cao ấy chẳng phải là tột đỉnh của bậc đại trượng phu sao!","giai_nghia":["Thân Bao Tư khốc Tần đình: Điển cố nổi tiếng bậc nhất về tấm lòng trung liệt ái quốc.","Tần Ai Công: Vị vua nước Tần thời Xuân Thu.","Phục quốc: Khôi phục lại đất nước từ bờ vực diệt vong."],"tags":["Trung trinh","Ái quốc","Xuân Thu","Thuyết Uyển"]},{"id":22,"title_vi":"Cáo Mượn Oai Hổ","title_zh_simp":"狐假虎威","title_zh_trad":"狐假虎威","title_pinyin":"Hú jiǎ hǔ wēi","title_han_viet":"HỒ GIẢ HỔ UY","title_en":"The Fox Borrowing the Tiger's Might","source_book":"《战国策·楚策一》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"虎求百兽而食之，得狐。狐曰：“子无敢食我也！天帝使我长百兽，今子食我，是逆天帝命也。子以我为不信，吾为子先行，子随我后，观百兽之见我而敢不走乎？”虎以为然，故遂与之行。兽见之皆走。虎不知兽畏己而走也，以为畏狐也。","content_zh_trad":"虎求百獸而食之，得狐。狐曰：「子無敢食我也！天帝使我長百獸，今子食我，是逆天帝命也。子以我為不信，吾為子先行，子隨我後，觀百獸之見我而敢不走乎？」虎以為然，故遂與之行。獸見之皆走。虎不知獸畏己而走也，以為畏狐也。","content_pinyin":"Hǔ qiú bǎi shòu ér shí zhī, dé hú. Hú yuē: “Zǐ wú gǎn shí wǒ yě! Tiāndì shǐ wǒ zhǎng bǎi shòu, jīn zǐ shí wǒ, shì nì tiāndì mìng yě. Zǐ yǐ wǒ wéi bù xìn, wú wèi zǐ xiān xíng, zǐ suí wǒ hòu, guān bǎi shòu zhī jiàn wǒ ér gǎn bù zǒu hū?” Hǔ yǐwéi rán, gù suì yǔ zhī xíng. Shòu jiàn zhī jiē zǒu. Hǔ bù zhī shòu wèi jǐ ér zǒu yě, yǐwéi wèi hú yě.","content_han_viet":"Hổ cầu bách thú nhi thực chi, đắc hồ. Hồ viết: \"Tử vô cảm thực ngã dã! Thiên đế sử ngã trưởng bách thú, kim tử thực ngã, thị nghịch thiên đế mệnh dã. Tử dĩ ngã vi bất tín, ngô vi tử tiên hành, tử tùy ngô hậu, quan bách thú chi kiến ngô nhi cảm bất tẩu hồ?\" Hổ dĩ vi nhiên, cố toại dữ chi hành. Thú kiến chi giai tẩu. Hổ bất tri thú úy kỷ nhi tẩu dã, dĩ vi úy hồ dã.","content_vi":"Con hổ săn lùng muôn thú để ăn thịt, tóm được một con cáo. Cáo vội nhanh trí dọa rằng: 'Ngươi chớ có đụng vào ta! Thượng Đế sai ta xuống cai quản muôn loài muông thú, ngươi ăn thịt ta tức là chống lại mệnh trời. Ngươi không tin thì cứ đi sau lưng ta xem, hễ các loài thú thấy ta có đứa nào dám không chạy trốn tán loạn chăng?'\n\nHổ tin là thật, bèn rảo bước theo sau cáo. Quả nhiên bầy hươu, thỏ, vượn hễ thấy bóng đều khiếp hãi chạy trốn bạt mạng. Hổ ngu ngốc không hề biết rằng muông thú sợ cái oai hùm của chính mình đằng sau, mà cứ ngỡ chúng sợ con cáo!","loi_ban_vi":"Kẻ bất tài vô đức trong xã hội thường hay nương tựa bóng ô dù của người có thế lực để hống hách diễu võ giương oai, dọa nạt dân lành. Kẻ quyền thế u mê thì lại tự đắc trao quyền cho những đứa xảo trá mà không hề hay biết mình đang bị biến thành công cụ.\n\nNgười sáng suốt khi nhìn thấy ai kiêu căng lộng quyền thì phải xét xem cái 'oai' ấy do tài đức tự thân hay chỉ là phường cáo già mượn oai cọp mà thôi.","giai_nghia":["Hồ giả hổ uy: Cáo mượn oai cọp, thành ngữ chỉ kẻ mượn thế lực của người khác để thị uy.","Chiến Quốc Sách: Bộ sử liệu kiệt xuất ghi chép mưu chược các chính khách thời Chiến Quốc.","Tự tri chi minh: Sự sáng suốt biết rõ bản thân mình."],"tags":["Thành ngữ","Ngụ ngôn","Chiến Quốc Sách","Quyền lực"]},{"id":23,"title_vi":"Vua Tôi Bàn Việc","title_zh_simp":"魏武侯浮西河 / 荀子议政","title_zh_trad":"魏武侯浮西河 / 荀子議政","title_pinyin":"Wèi Wǔ Hóu fú Xīhé / Xúnzǐ yì zhèng","title_han_viet":"NGỤY VŨ HẦU PHÙ TÂY HÀ / TUÂN TỬ NGHỊ CHÍNH","title_en":"The Sovereign and Minister Deliberate","source_book":"《史记·孙子吴起列传》 / 《荀子》","source_author":"Tư Mã Thiên / Tuân Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"魏武侯浮西河而下，中流，顾而谓吴起曰：“美哉乎山河之固，此魏国之宝也！”吴起对曰：“在德不在险。昔三苗氏左洞庭，右彭蠡，德义不修，禹灭之；夏桀之居，左河济，右泰华，伊阙在其南，羊肠在其北，修政不仁，汤放之。由此观之，在德不在险。若君不修德，舟中之人尽为敌国也！”武侯曰：“善。”","content_zh_trad":"魏武侯浮西河而下，中流，顧而謂吳起曰：「美哉乎山河之固，此魏國之寶也！」吳起對曰：「在德不在險。昔三苗氏左洞庭，右彭蠡，德義不修，禹滅之；夏桀之居，左河濟，右泰華，伊闕在其南，羊腸在其北，修政不仁，湯放之。由此觀之，在德不在險。若君不修德，舟中之人盡為敵國也！」武侯曰：「善。」","content_pinyin":"Wèi Wǔ Hóu fú Xīhé ér xià, zhōngliú, gù ér wèi Wú Qǐ yuē: “Měi zāi hū shānhé zhī gù, cǐ Wèi guó zhī bǎo yě!” Wú Qǐ duì yuē: “Zài dé bù zài xiǎn. Xī Sānmiáo shì zuǒ Dòngtíng, yòu Pénglǐ, dé yì bù xiū, Yǔ miè zhī; Xià Jié zhī jū, zuǒ Hé Jì, yòu Tàihuá, Yīquē zài qí nán, Yángcháng zài qí běi, xiū zhèng bù rén, Tāng fàng zhī. Yóu cǐ guān zhī, zài dé bù zài xiǎn. Ruò jūn bù xiū dé, zhōu zhōng zhī rén jìn wéi díguó yě!” Wǔ Hóu yuē: “Shàn.”","content_han_viet":"Ngụy Vũ Hầu phù Tây Hà nhi hạ, trung lưu, cố nhi vị Ngô Khởi viết: \"Mỹ tai hồ sơn hà chi cố, thử Ngụy quốc chi bảo dã!\" Ngô Khởi đối viết: \"Tại đức bất tại hiểm. Tích Tam Miêu thị tả Động Đình, hữu Bành Lệ, đức nghĩa bất tu, Vũ diệt chi; Hạ Kiệt chi cư, tả Hà Tế, hữu Thái Hoa, Y Khuyết tại kỳ nam, Dương Tràng tại kỳ bắc, tu chính bất nhân, Thang phóng chi. Do thử quan chi, tại đức bất tại hiểm. Nhược quân bất tu đức, chu trung chi nhân tận vi địch quốc dã!\" Vũ Hầu viết: \"Thiện.\"","content_vi":"Vua Ngụy Vũ Hầu cùng quần thần đi thuyền ngoạn cảnh xuôi dòng Tây Hà. Đến giữa dòng nước cuồn cuộn, trông cảnh núi non trùng điệp hùng vĩ, vua quay lại bảo danh tướng Ngô Khởi rằng: 'Đẹp đẽ thay non sông hiểm trở vững chắc! Đây chính là bảo vật giữ nước muôn đời của nước Ngụy ta vậy!'\n\nNgô Khởi khẳng khái đáp: 'Cơ đồ giữ được là ở Đức hạnh chứ không phải ở nơi đất đai hiểm trở! Thuở xưa họ Tam Miêu bên tả có hồ Động Đình, bên hữu có hồ Bành Lệ hiểm yếu vô cùng, nhưng vì không tu dưỡng đạo đức nên bị vua Vũ diệt mất. Vua Kiệt nhà Hạ cung điện hiểm cố, sông ngòi núi thẳm bao bọc bốn phương, nhưng vì bạo ngược bất nhân nên bị vua Thang đày đuổi.\n\nXem đó thì biết, việc giữ nước cốt ở Đức chứ không ở Hiểm! Nếu chúa công không chăm lo tu đức thương dân, thì ngay những người cùng chung một con thuyền này cũng đều biến thành kẻ thù nghịch cả!' Vua Ngụy Vũ Hầu nghe xong giật mình khen phải.","loi_ban_vi":"Núi non sông ngòi dẫu hiểm yếu đến đâu cũng chỉ là ngoại cảnh. Lòng người mới là thành trì vững chắc nhất! Kẻ nắm quyền sinh sát nếu chỉ cậy vào công nghệ, khí tài, ải hiểm mà phụ bạc lòng dân thì ngày sụp đổ chỉ trong gang tấc.\n\nCâu nói 'Tại đức bất tại hiểm' của Ngô Khởi là bài học trị quốc an dân muôn đời bất hủ cho bất kỳ thời đại nào.","giai_nghia":["Tại đức bất tại hiểm: Thành bại của một quốc gia cốt ở đạo đức thương dân chứ không ở thế đất hiểm trở.","Ngô Khởi: Danh tướng lỗi lạc thời Chiến Quốc, tác giả Binh Pháp Ngô Khởi.","Tam Miêu, Hạ Kiệt: Những triều đại hôn quân bạo chúa bị diệt vong thời cổ đại."],"tags":["Quốc trị","Đạo đức","Sử Ký","Ngô Khởi"]},{"id":24,"title_vi":"Câu Nói Của Người Đánh Cá","title_zh_simp":"晋文公田猎 / 渔夫之言","title_zh_trad":"晉文公田獵 / 漁夫之言","title_pinyin":"Jìn Wén Gōng tián liè / Yúfū zhī yán","title_han_viet":"TẤN VĂN CÔNG ĐIỀN LIỆT / NGƯ PHU CHI NGÔN","title_en":"The Words of the Humble Fisherman","source_book":"《说苑·尊贤》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"晋文公出猎，逐鹿而迷于大泽。见一渔者，文公曰：“寡人迷道，子指我归途，吾厚赏子。”渔者曰：“臣闻明主爱民，暴君玩物。今君驰骋田猎，忘乎国政，迷于广泽，安得不危？君欲出泽，当依正道；君欲安国，当求贤才。”文公悟，厚赉之，渔者不受，曰：“君行其道，臣之愿足矣。”","content_zh_trad":"晉文公出獵，逐鹿而迷於大澤。見一漁者，文公曰：「寡人迷道，子指我歸途，吾厚賞子。」漁者曰：「臣聞明主愛民，暴君玩物。今君馳騁田獵，忘乎國政，迷於廣澤，安得不危？君欲出澤，當依正道；君欲安國，當求賢才。」文公悟，厚賚之，漁者不受，曰：「君行其道，臣之願足矣。」","content_pinyin":"Jìn Wén Gōng chū liè, zhú lù ér mí yú dà zé. Jiàn yī yúzhě, Wén Gōng yuē: “Guǎrén mí dào, zǐ zhǐ wǒ guī tú, wú hòu shǎng zǐ.” Yúzhě yuē: “Chén wén míng zhǔ ài mín, bào jūn wán wù. Jīn jūn chíchěng tiánliè, wàng hū guózhèng, mí yú guǎng zé, ān dé bù wēi? Jūn yù chū zé, dāng yī zhèngdào; jūn yù ān guó, dāng qiú xiáncái.” Wén Gōng wù, hòu lài zhī, yúzhě bù shòu, yuē: “Jūn xíng qí dào, chén zhī yuàn zú yǐ.”","content_han_viet":"Tấn Văn Công xuất liệt, trục lộc nhi mê ư đại trạch. Kiến nhất ngư giả, Văn Công viết: \"Quả nhân mê đạo, tử chỉ ngã quy đồ, ngô hậu thưởng tử.\" Ngư giả viết: \"Thần văn minh chủ ái dân, bạo quân ngoạn vật. Kim quân trì sính điền liệt, vong hồ quốc chính, mê ư quảng trạch, an đắc bất nguy? Quân dục xuất trạch, đương y chính đạo; quân dục an quốc, đương cầu hiền tài.\" Văn Công ngộ, hậu lãi chi, ngư giả bất thụ, viết: \"Quân hành kỳ đạo, thần chi nguyện túc hĩ.\"","content_vi":"Vua Tấn Văn Công đi săn mải đuổi theo một con thú, quá chân lạc vào trong một đầm lầy lớn không biết lối ra. May gặp một ông lão đánh cá, vua bèn bảo: 'Ta là vua đây. Ta lỡ lạc đường, nhà ngươi chỉ lối cho ta ra khỏi chầm, ta sẽ trọng thưởng cho ngươi vạn lạng vàng'.\n\nNgười đánh cá thong thả đáp: 'Kẻ bề tôi hèn mọn xin hiến nhà vua một lời can: Chúa sáng thì chăm lo yêu dân, vua bạo thì mê mải săn bắn hưởng lạc. Nay chúa công buông thả rong ruổi nơi hiểm địa, quên bẵng việc triều chính, lạc bước giữa đầm sâu, há chẳng nguy hiểm lắm sao? Muốn ra khỏi chầm thì cứ men theo đường chính; muốn giữ yên bờ cõi thì phải biết cầu người hiền tài!'\n\nVua Văn Công giật mình tỉnh ngộ, cúi đầu nhận lỗi và đem vàng bạc tạ ơn, nhưng người đánh cá khoát tay từ chối: 'Nhà vua làm theo lời ấy cho trăm họ được nhờ, tấm lòng thảo dân đã mãn nguyện lắm rồi!'","loi_ban_vi":"Người đánh cá đây là bậc ẩn sĩ hiền đức, khuyên vua Văn Công hai điều sâu sắc: chớ ham mê chơi bời săn bắn quá độ mà hại thân mất nước; và muốn trị nước phải đi theo đường chính đạo trọng đãi hiền lương.\n\nLại đến khi vua ban thưởng vàng ngọc, ông lão một mực khước từ. Khuyên vua bằng lời ngay thẳng mà không vụ lợi, đó chính là phong thái của bậc cao sĩ thanh bạch rạng ngời thời cổ.","giai_nghia":["Tấn Văn Công: Công tử Trùng Nhĩ, một trong Ngũ Bá thời Xuân Thu, nổi tiếng trọng đãi hiền tài.","Đại trạch: Đầm lầy hoang vu rộng lớn.","Ẩn sĩ: Bậc tài đức lui về sống ẩn dật, coi nhẹ công danh phú quý."],"tags":["Khuyên can","Hiền tài","Thuyết Uyển","Trị quốc"]},{"id":25,"title_vi":"Lá Dó","title_zh_simp":"宋人刻楮 / 刻楮以成叶","title_zh_trad":"宋人刻楮 / 刻楮以成葉","title_pinyin":"Sòng rén kè chǔ / Kè chǔ yǐ chéng yè","title_han_viet":"TỐNG NHÂN KHẮC CHỬ / KHẮC CHỬ DĨ THÀNH DIỆP","title_en":"Carving a Mulberry Leaf in Jade","source_book":"《列子·汤问》 / 《韩非子》","source_author":"Liệt Tử / Hàn Phi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"宋人有为君雕楮叶者，三年而成。成而观之，茎叶、毫芒、浓淡皆如真叶，混诸楮叶中而不可别也。此人遂以巧食宋国。列子闻之，曰：“使天地之生物，三年而成一叶，则物之有叶者寡矣！故圣人不贵雕琢之巧，而贵化育之功。”","content_zh_trad":"宋人有為君雕楮葉者，三年而成。成而觀之，莖葉、毫芒、濃淡皆如真葉，混諸楮葉中而不可別也。此人遂以巧食宋國。列子聞之，曰：「使天地之生物，三年而成一葉，則物之有葉者寡矣！故聖人不貴雕琢之巧，而貴化育之功。」","content_pinyin":"Sòng rén yǒu wèi jūn diāo chǔ yè zhě, sān nián ér chéng. Chéng ér guān zhī, jīng yè, háománg, nóng dàn jiē rú zhēn yè, hùn zhū chǔ yè zhōng ér bù kě bié yě. Cǐ rén suì yǐ qiǎo shí Sòng guó. Lièzǐ wén zhī, yuē: “Shǐ tiāndì zhī shēng wù, sān nián ér chéng yī yè, zé wù zhī yǒu yè zhě guǎ yǐ! Gù shèng rén bù guì diāozhuó zhī qiǎo, ér guì huàyù zhī gōng.”","content_han_viet":"Tống nhân hữu vi quân điêu chử diệp giả, tam niên nhi thành. Thành nhi quan chi, cành diệp, hào mang, nồng đạm giai như chân diệp, hỗn chư chử diệp trung nhi bất khả biệt dã. Thử nhân toại dĩ xảo thực Tống quốc. Liệt Tử văn chi, viết: \"Sử thiên địa chi sinh vật, tam niên nhi thành nhất diệp, tắc vật chi hữu diệp giả quả hĩ! Cố thánh nhân bất quý điêu trác chi xảo, nhi quý hóa dục chi công.\"","content_vi":"Một người thợ khéo nước Tống vì vua chạm một chiếc lá dó bằng ngọc, mất ròng rã ba năm trời mới xong. Chiếc lá làm tinh xảo đến nỗi cuống lá, gân tơ, răng cưa, sắc màu xanh đậm nhạt mỏng manh hệt như lá thật, lẫn vào đống lá thật thì không ai tài nào phân biệt nổi. Người thợ ấy nhờ hoa tay khéo léo mà được nhà vua ban bổng lộc nuôi thân suốt đời.\n\nLiệt Tử nghe chuyện cười bảo: 'Nếu trời đất hóa sinh muôn loài mà phải mất ba năm mới làm xong một chiếc lá, thì cây cối trong gầm trời này rụng trơ trụi chẳng còn chiếc lá nào! Cho nên bậc thánh nhân không chuộng những trò xảo xảo khéo léo vụn vặt vô bổ, mà quý trọng công lao nuôi dưỡng hóa dục thiết thực muôn dân'.","loi_ban_vi":"Sự tinh xảo kỳ dị chỉ để làm đồ chơi giải trí cho kẻ nhàn hạ chốc lát, chứ không đem lại lợi ích thiết thực gì cho đời sống muôn người. Tốn phí ba năm trời ròng rã cho một chiếc lá vô tri là sự lãng phí tài năng và thời gian ghê gớm.\n\nNgười làm việc lớn phải biết hướng trí tuệ vào những việc ích quốc lợi dân, thiết thực xây dựng đời sống, chớ sa đà vào những trò hư danh viển vông.","giai_nghia":["Khắc chử dĩ thành diệp: Khắc lá dó bằng ngọc, thành ngữ chê trách những việc tỉ mỉ vô bổ, tốn hao công sức mà không có giá trị thực tiễn.","Lá dó: Loại lá cây vỏ dùng làm giấy hoặc đồ thủ công thời xưa.","Hóa dục chi công: Công lao sinh sôi, nuôi dưỡng vạn vật của trời đất và chính đạo."],"tags":["Thực tế","Liệt Tử","Ngụ ngôn","Trí tuệ"]},{"id":26,"title_vi":"Trước Khi Đánh Người Phải Biết Giữ Mình","title_zh_simp":"螳螂捕蝉黄雀在后","title_zh_trad":"螳螂捕蟬黃雀在後","title_pinyin":"Tángláng bǔ chán, huángquè zài hòu","title_han_viet":"ĐƯỜNG LANGBỔ THIỀN, HOÀNG TƯỚC TẠI HẬU","title_en":"The Mantis Stalks the Cicada, Unaware of the Oriole","source_book":"《说苑·正谏》 / 《庄子》","source_author":"Lưu Hướng / Trang Tử","source_period":"Xuân Thu Chiến Quốc","content_zh_simp":"吴王欲伐楚，告其左右曰：“敢有谏者死！”少孺子欲谏，怀丸操弹游后园，露沾其衣。王问之，对曰：“园中有树，其上有蝉，高居悲鸣饮露，不知螳螂在其后也；螳螂委身曲附，欲取蝉，而不知黄雀在其旁也；黄雀延颈欲啄螳螂，而不知弹丸在其下也！此三者皆务欲得其前利，而不顾其后之有患也。”吴王大悟，乃止罢兵。","content_zh_trad":"吳王欲伐楚，告其左右曰：「敢有諫者死！」少孺子欲諫，懷丸操彈遊後園，露沾其衣。王問之，對曰：「園中有樹，其上有蟬，高居悲鳴飲露，不知螳螂在其後也；螳螂委身曲附，欲取蟬，而不知黃雀在其旁也；黃雀延頸欲啄螳螂，而不知彈丸在其下也！此三者皆務欲得其前利，而不顧其後之有患也。」吳王大悟，乃止罷兵。","content_pinyin":"Wú wáng yù fá Chǔ, gào qí zuǒyòu yuē: “Gǎn yǒu jiàn zhě sǐ!” Shào rúzǐ yù jiàn, huái wán cāo dàn yóu hòuyuán, lù zhān qí yī. Wáng wèn zhī, duì yuē: “Yuán zhōng yǒu shù, qí shàng yǒu chán, gāo jū bēi míng yǐn lù, bù zhī tángláng zài qí hòu yě; tángláng wěi shēn qū fù, yù qǔ chán, ér bù zhī huángquè zài qí páng yě; huángquè yán jǐng yù zhuó tángláng, ér bù zhī dànwán zài qí xià yě! Cǐ sān zhě jiē wù yù dé qí qián lì, ér bù gù qí hòu zhī yǒu huàn yě.” Wú wáng dà wù, nǎi zhǐ bà bīng.","content_han_viet":"Ngô vương dục phạt Sở, cáo kỳ tả hữu viết: \"Cảm hữu gián giả tử!\" Thiếu nhũ tử dục gián, hoài hoàn thao đàn du hậu viên, lộ triêm kỳ y. Vương vấn chi, đối viết: \"Viên trung hữu thù, kỳ thượng hữu thiền, cao cư bi minh ẩm lộ, bất tri đường lang tại kỳ hậu dã; đường lang ủy thân khúc phụ, dục thủ thiền, nhi bất tri hoàng tước tại kỳ bàng dã; hoàng tước diên cảnh dục trác đường lang, nhi bất tri đàn hoàn tại kỳ hạ dã! Thử tam giả giai vụ dục đắc kỳ tiền lợi, nhi bất cố kỳ hậu chi hữu hoạn dã.\" Ngô vương đại ngộ, nãi chỉ bãi binh.","content_vi":"Vua nước Ngô muốn cất quân đánh nước Sở, ra lệnh nghiêm ngặt: 'Kẻ nào dám can gián sẽ bị xử chém!'\n\nCó một viên thị đồng trẻ tuổi muốn can, bèn cầm súng cao su ngậm viên đạn đi thơ thẩn ở vườn sau suốt ba buổi sáng, sương đêm ướt đẫm áo. Vua Ngô thấy lạ hỏi duyên cớ.\n\nNgười thiếu niên tâu: 'Trong vườn có cái cây, trên cây có con ve sầu đậu cành cao uống giọt sương mai vui sướng cất tiếng kêu, không ngờ sau lưng có con bọ ngựa đang giương vuốt rình chộp; bọ ngựa cúi mình toan vồ ve, nào ngờ trên cành cạnh đó có con chim sẻ đang rướn cổ toan mổ nó; chim sẻ chăm chú rình bọ ngựa mà không hay dưới đất thần đang giương súng nhắm thẳng vào nó! Ba con vật ấy đều chỉ mải mê cái lợi mồi ngon trước mắt mà quên bẵng hiểm họa chết người rập rình sau lưng!'\n\nVua Ngô nghe xong giật mình tỉnh ngộ, nhận ra nước Ngô đem quân đánh Sở sẽ bị các nước Tề, Tấn thừa cơ tập kích sau lưng, bèn bãi binh ngay tức khắc.","loi_ban_vi":"Bài ngụ ngôn tuyệt hảo này nhắc nhở chúng ta: phàm làm việc gì chỉ chăm chăm nhìn vào cái lợi béo bở trước mắt mà không phòng ngừa hậu họa đằng sau thì sớm muộn cũng chuốc lấy diệt vong.\n\nTrước khi mưu toan đánh người hay lấn lướt thiên hạ, trước hết phải biết củng cố và giữ gìn chính bản thân mình. Trí tuệ thấu suốt toàn cục mới là kim chỉ nam của sự an toàn lâu dài.","giai_nghia":["Đường lang bổ thiền, hoàng tước tại hậu: Bọ ngựa bắt ve sầu, chim sẻ rình sau lưng; thành ngữ chỉ sự thiển cận tham lợi trước mắt mà quên họa lớn phía sau.","Thiếu nhũ tử: Kẻ hầu cận trẻ tuổi khéo dùng ẩn dụ khuyên vua.","Bãi binh: Rút quân về, hủy bỏ cuộc xuất chinh."],"tags":["Thành ngữ","Mưu lược","Thuyết Uyển","Trang Tử"]},{"id":27,"title_vi":"Mạnh Thường Quân và Nước Tần","title_zh_simp":"苏秦谏孟尝君 / 土偶与桃梗","title_zh_trad":"蘇秦諫孟嘗君 / 土偶與桃梗","title_pinyin":"Sū Qín jiàn Mèngcháng Jūn / Tǔ'ǒu yǔ táogěng","title_han_viet":"TÔ TẦN GIÁN MẠNH THƯỜNG QUÂN / THỔ NGẪU DỮ ĐÀO NGẠNH","title_en":"Lord Mengchang and the State of Qin","source_book":"《战国策·齐策》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"孟尝君将入秦，宾客谏者千数，不听。苏秦欲谏，孟尝君曰：“人事者吾已尽知，客若语及鬼神者，请见。”苏秦曰：“臣来自东，见土偶与桃梗相与语。桃梗曰：‘子土也，雨落则坏。’土偶曰：‘不然。吾土也，坏则复归为土；子东海桃梗也，雨落随流，不知漂泊止于何所。’今秦，虎狼之国也，君如入之，臣恐君不得复归于齐矣！”孟尝君乃止。","content_zh_trad":"孟嘗君將入秦，賓客諫者千數，不聽。蘇秦欲諫，孟嘗君曰：「人事者吾已盡知，客若語及鬼神者，請見。」蘇秦曰：「臣來自東，見土偶與桃梗相與語。桃梗曰：『子土也，雨落則壞。』土偶曰：『不然。吾土也，壞則復歸為土；子東海桃梗也，雨落隨流，不知漂泊止於何所。』今秦，虎狼之國也，君如入之，臣恐君不得復歸於齊矣！」孟嘗君乃止。","content_pinyin":"Mèngcháng Jūn jiāng rù Qín, bīnkè jiàn zhě qiān shǔ, bù tīng. Sū Qín yù jiàn, Mèngcháng Jūn yuē: “Rénshì zhě wú yǐ jìn zhī, kè ruò yǔ jí guǐshén zhě, qǐng jiàn.” Sū Qín yuē: “Chén lái zì dōng, jiàn tǔ'ǒu yǔ táogěng xiāng yǔ yǔ. Táogěng yuē: ‘Zǐ tǔ yě, yǔ luò zé huài.’ Tǔ'ǒu yuē: ‘Bùrán. Wú tǔ yě, huài zé fù guī wéi tǔ; zǐ Dōnghǎi táogěng yě, yǔ luò suí liú, bù zhī piāobó zhǐ yú hé suǒ.’ Jīn Qín, hǔláng zhī guó yě, jūn rú rù zhī, chén kǒng jūn bù dé fù guī yú Qí yǐ!” Mèngcháng Jūn nǎi zhǐ.","content_han_viet":"Mạnh Thường Quân tương nhập Tần, tân khách gián giả thiên sổ, bất thính. Tô Tần dục gián, Mạnh Thường Quân viết: \"Nhân sự giả ngô dĩ tận tri, khách nhược ngữ cập quỷ thần giả, thỉnh kiến.\" Tô Tần viết: \"Thần lai tự đông, kiến thổ ngẫu dữ đào ngạnh tương dữ ngữ. Đào ngạnh viết: 'Tử thổ dã, vũ lạc tắc hoại.' Thổ ngẫu viết: 'Bất nhiên. Ngô thổ dã, hoại tắc phục quy vi thổ; tử Đông Hải đào ngạnh dã, vũ lạc tùy lưu, bất tri phiêu bạt chỉ ư hà sở.' Kim Tần, hổ lang chi quốc dã, quân như nhập chi, thần khủng quân bất đắc phục quy ư Tề hĩ!\" Mạnh Thường Quân nãi chỉ.","content_vi":"Mạnh Thường Quân là bậc quý tộc nổi tiếng nước Tề, nuôi ba nghìn thực khách. Vua Tần mời sang nước Tần làm Tể tướng, thực khách hàng nghìn người can ngăn không nên đi, ông đều gạt phăng đi. Thuyết khách Tô Tần (hoặc Tô Đại) xin vào gặp, Mạnh Thường Quân bảo: 'Chuyện thế sự ở đời ta đã nghe mòn tai rồi, trừ phi có chuyện quỷ thần thì ta mới tiếp!'\n\nTô Tần vào tâu: 'Thần từ phương đông đến đây, bên bờ sông thấy một pho tượng bằng đất cãi cọ với một cành gỗ đào. Khúc gỗ đào chế nhạo: Anh nặn bằng đất bùn, gặp mưa bão trôi sông thì tan nát hết! Pho tượng đất điềm đạm đáp: Tôi vốn là đất ở đây, mưa trôi tan ra thì tôi vẫn là đất cố hương này. Còn anh là khúc gỗ từ rừng Đông Hải trôi giạt tới đây, nay gặp lũ cuốn trôi dạt vô định thì biết dừng lại nơi bờ bến nào?'\n\nTô Tần nhìn thẳng vào Mạnh Thường Quân dõng dạc: 'Nay nước Tần là nước hiểm ác như hổ sói. Chúa công rời bỏ đất Tề sang đấy, thần e chúa công chẳng khác nào khúc gỗ trôi sông, một đi không bao giờ còn trở về được quê nhà!' Mạnh Thường Quân bừng tỉnh, lập tức hủy chuyến đi.","loi_ban_vi":"Thuyết khách khuyên can người quyền quý cố chấp không dùng lý lẽ khô khan mà mượn hình ảnh ngụ ngôn đất sét và gỗ trôi sông vô cùng thâm thúy, đánh thẳng vào nỗi sợ xa rời cội nguồn.\n\nĐang yên ấm vinh hiển nơi quê hương xứ sở mà vì mồi phú quý viển vông dấn thân vào hang hùm miệng cọp, thì cái giá phải trả đôi khi là cả tính mạng lẫn danh tiết.","giai_nghia":["Mạnh Thường Quân: Điền Văn, một trong 'Chiến Quốc Tứ công tử' nổi tiếng nuôi ba nghìn tân khách.","Tô Tần: Tung hoành gia kiệt xuất thời Chiến Quốc, người đeo ấn tướng quốc sáu nước.","Thổ ngẫu dữ đào ngạnh: Tượng đất và cành gỗ đào trôi sông, ngụ ngôn kinh điển về gốc rễ quê hương."],"tags":["Mưu lược","Chiến Quốc Sách","Mạnh Thường Quân","Quê hương"]},{"id":28,"title_vi":"Bỏ Quên Con Sinh","title_zh_simp":"公索氏牺牲 / 孔子谏祀","title_zh_trad":"公索氏犧牲 / 孔子諫祀","title_pinyin":"Gōng Suǒ shì xīshēng / Kǒngzǐ jiàn sì","title_han_viet":"CÔNG SÁCH THỊ HY SINH / KHỔNG TỬ GIÁN TẾ","title_en":"Forgetting the Sacrificial Offering","source_book":"《孔子家语》","source_author":"Khổng Tử Môn Nhân","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"公索氏将祭而亡其牺牲。孔子闻之曰：“公索氏不及二年必亡矣。”门人曰：“夫子何以知其亡也？”孔子曰：“夫祭者，事神之至礼也。祭而忘其牺牲，其于治国治家，不怠惰遗脱者寡矣！怠而失礼，亡其谁尤？”居二年，公索氏果亡。","content_zh_trad":"公索氏將祭而亡其犧牲。孔子聞之曰：「公索氏不及二年必亡矣。」門人曰：「夫子何以知其亡也？」孔子曰：「夫祭者，事神之至禮也。祭而忘其犧牲，其於治國治家，不怠惰遺脫者寡矣！怠而失禮，亡其誰尤？」居二年，公索氏果亡。","content_pinyin":"Gōng Suǒ shì jiāng jì ér wáng qí xīshēng. Kǒngzǐ wén zhī yuē: “Gōng Suǒ shì bù jí èr nián bì wáng yǐ.” Ménrén yuē: “Fūzǐ hé yǐ zhī qí wáng yě?” Kǒngzǐ yuē: “Fū jì zhě, shì shén zhī zhì lǐ yě. Jì ér wàng qí xīshēng, qí yú zhì guó zhì jiā, bù dàiduò yítuō zhě guǎ yǐ! Dài ér shī lǐ, wáng qí shuí yóu?” Jū èr nián, Gōng Suǒ shì guǒ wáng.","content_han_viet":"Công Sách thị tương tế nhi vong kỳ hy sinh. Khổng Tử văn chi viết: \"Công Sách thị bất cập nhị niên tất vong hĩ.\" Môn nhân viết: \"Phu tử hà dĩ tri kỳ vong dã?\" Khổng Tử viết: \"Phu tế giả, sự thần chi chí lễ dã. Tế nhi vong kỳ hy sinh, kỳ ư trị quốc trị gia, bất đãi đọa di thoát giả quả hĩ! Đãi nhi thất lễ, vong kỳ thùy vưu?\" Cư nhị niên, Công Sách thị quả vong.","content_vi":"Họ Công Sách là dòng dõi quý tộc lớn ở nước Lỗ sắp làm lễ tế tổ tiên, đến giờ cử hành đại lễ bỗng tá hỏa phát hiện bỏ quên con sinh (vật nuôi tế thần linh như dê, bò, lợn).\n\nĐức Khổng Tử nghe tin thở dài bảo học trò: 'Họ Công Sách không quá hai năm nữa ắt sẽ lụi bại diệt vong!' Các môn đệ kinh ngạc hỏi cớ sao thầy biết được điều ấy.\n\nKhổng Tử dạy: 'Lễ tế tự là việc trọng đại thiêng liêng nhất của một gia tộc để tỏ lòng thành kính với tổ tiên. Việc hệ trọng bậc nhất ấy mà còn chểnh mảng bỏ quên cả con vật tế, thì việc trị gia, giữ nước, coi sóc dân chúng thử hỏi làm sao mà chu đáo không trễ nải tắc trách được? Bỏ bê cội nguồn, coi thường lễ nghi quy củ, sụp đổ há chẳng phải là tất yếu sao?' Quả nhiên hai năm sau dòng họ Công Sách suy vi tiêu vong thật.","loi_ban_vi":"Cái gốc có vững thì cành lá mới tốt tươi; việc lớn thành công bắt nguồn từ sự cẩn trọng tỉ mỉ trong từng chi tiết nhỏ. Người làm ăn, quản lý gia đình hay điều hành đất nước mà khinh suất, đãng trí cả những việc thiêng liêng cốt tử thì sự sụp đổ chỉ là vấn đề thời gian.\n\nKhổng Tử nhìn việc nhỏ thấy mầm mống việc lớn ('Kiến vi nhi tri trước'), ấy là bài học cảnh tỉnh sâu sắc về trách nhiệm và kỷ cương.","giai_nghia":["Con sinh (Hy sinh): Súc vật dùng để cúng tế trời đất tổ tiên (tam sinh gồm trâu, dê, lợn).","Công Sách thị: Một dòng dõi quý tộc nước Lỗ thời Xuân Thu.","Kiến vi tri trước: Nhìn thấy dấu hiệu manh nha nhỏ bé mà đoán biết trước được đại sự tương lai."],"tags":["Cẩn trọng","Trách nhiệm","Khổng Tử","Gia phong"]},{"id":29,"title_vi":"Dung Người Được Báo","title_zh_simp":"绝缨之会 / 楚庄王绝缨","title_zh_trad":"絕纓之會 / 楚莊王絕纓","title_pinyin":"Jué yīng zhī huì / Chǔ Zhuāng Wáng jué yīng","title_han_viet":"TUYỆT ANH CHI HỘI / SỞ TRANG VƯƠNG TUYỆT ANH","title_en":"Forgiving the Broken Plume","source_book":"《说苑·复恩》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"楚庄王赐群臣酒，日暮酒酣，灯烛灭。乃有引美人之衣者。美人援绝其冠缨，以告王曰：“适烛灭，有引妾衣者，妾援得其缨，趣火视之。”王曰：“赐人酒，使醉失礼，奈何欲显妇人之节而辱士乎？”乃命左右曰：“今日与寡人饮，不绝缨者不欢。”群臣百有余人皆绝缨，乃点烛，遂尽欢而罢。后秦楚战，有一将常在前死战，庄王怪问之，对曰：“臣即昔日绝缨之士唐狡也！”","content_zh_trad":"楚莊王賜群臣酒，日暮酒酣，燈燭滅。乃有引美人之衣者。美人援絕其冠纓，以告王曰：「適燭滅，有引妾衣者，妾援得其纓，趣火視之。」王曰：「賜人酒，使醉失禮，奈何欲顯婦人之節而辱士乎？」乃命左右曰：「今日與寡人飲，不絕纓者不歡。」群臣百有餘人皆絕纓，乃點燭，遂盡歡而罷。後秦楚戰，有一將常在前死戰，莊王怪問之，對曰：「臣即昔日絕纓之士唐狡也！」","content_pinyin":"Chǔ Zhuāng Wáng cì qúnchén jiǔ, rì mù jiǔ hān, dēngzhú miè. Nǎi yǒu yǐn měirén zhī yī zhě. Měirén yuán jué qí guānyīng, yǐ gào wáng yuē: “Shì zhú miè, yǒu yǐn qiè yī zhě, qiè yuán dé qí yīng, qù huǒ shì zhī.” Wáng yuē: “Cì rén jiǔ, shǐ zuì shī lǐ, nàihé yù xiǎn fùrén zhī jié ér rǔ shì hū?” Nǎi mìng zuǒyòu yuē: “Jīnrì yǔ guǎrén yǐn, bù jué yīng zhě bù huān.” Qúnchén bǎi yǒu yú rén jiē jué yīng, nǎi diǎn zhú, suì jìn huān ér bà. Hòu Qín Chǔ zhàn, yǒu yī jiàng cháng zài qián sǐ zhàn, Zhuāng Wáng guài wèn zhī, duì yuē: “Chén jí xīrì jué yīng zhī shì Táng Jiǎo yě!”","content_han_viet":"Sở Trang Vương tứ quần thần tửu, nhật mộ tửu hàm, đăng chúc diệt. Nãi hữu dẫn mỹ nhân chi y giả. Mỹ nhân viện tuyệt kỳ quan anh, dĩ cáo vương viết: \"Thích chúc diệt, hữu dẫn thiếp y giả, thiếp viện đắc kỳ anh, thú hỏa thị chi.\" Vương viết: \"Tứ nhân tửu, sử túy thất lễ, nại hà dục hiển phụ nhân chi tiết nhi nhục sĩ hồ?\" Nãi mệnh tả hữu viết: \"Kim nhật dữ quả nhân ẩm, bất tuyệt anh giả bất hoan.\" Quần thần bách hữu dư nhân giai tuyệt anh, nãi điểm chúc, toại tận hoan nhi bãi. Hậu Tần Sở chiến, hữu nhất tướng thường tại tiền tử chiến, Trang Vương quái vấn chi, đối viết: \"Thần tức tích nhật tuyệt anh chi sĩ Đường Xảo dã!\"","content_vi":"Vua Sở Trang Vương mở tiệc rượu chiêu đãi các tướng lĩnh và đại thần lập công. Đang lúc tiệc vui say sưa thì bỗng một cơn gió lốc thổi tắt ngọn đèn đuốc trong sảnh. Trong bóng tối mù mịt, có một viên tướng say rượu vô ý níu lấy dải áo của một nàng ái cơ của vua. Nàng ái cơ nhanh tay giật đứt dải mũ của người ấy, rồi chạy đến ghé tai vua tâu: 'Có kẻ nhân lúc tối tắt đèn dám sàm sỡ thiếp, thiếp đã giật đứt dải mũ của hắn, xin chúa công cho thắp đèn lên ngay để bắt tội!'\n\nSở Trang Vương nghe xong điềm đạm bảo: 'Ta ban rượu cho người ta say, nay vì một chút sơ ý mà làm nhục một dũng tướng thì còn mặt mũi nào!' Vua bèn truyền lớn trước khi thắp lửa: 'Đêm nay ai cùng ta uống rượu mà không bẻ dải mũ của mình đi thì chưa trọn tình!' Hơn trăm tướng sĩ đều vâng lệnh bẻ đứt dải mũ, bấy giờ vua mới cho châm đèn, tiệc rượu lại rộn ràng vui vẻ đến sáng mà không một ai phải hổ thẹn.\n\nVề sau khi nước Sở giao tranh kịch liệt với quân Tần, có một viên dũng tướng luôn đi đầu xông pha tên đạn, liều chết chém tướng cướp cờ bảo vệ Sở Trang Vương. Vua ngạc nhiên hỏi, tướng ấy quỳ thụp xuống thưa: 'Kẻ tội đồ đứt dải mũ năm xưa được chúa công rộng lòng tha chết chính là thần, viên tướng Đường Xảo đây!'","loi_ban_vi":"Lòng khoan dung độ lượng của người lãnh đạo có sức cảm hóa mạnh mẽ hơn trăm ngàn roi vọt hình phạt. Sở Trang Vương vì trọng nghĩa khí của bầy tôi mà bao dung cho lỗi lầm vô ý trong lúc say rượu, bảo vệ danh dự cho thuộc cấp.\n\nƠn nghĩa sâu dày ấy đã biến một kẻ phạm lỗi thành một dũng tướng trung thành liều chết cứu chúa. Lấy đức báo oán, lấy lượng khoan hồng mà đãi người, ấy là cái thuật thu phục lòng người siêu việt của bậc đế vương minh triết.","giai_nghia":["Tuyệt anh chi hội: Tiệc bẻ dải mũ, thành ngữ kinh điển ca ngợi lòng bao dung độ lượng của người lãnh tụ.","Sở Trang Vương: Vị minh quân thời Xuân Thu, đưa nước Sở trở thành bá chủ.","Đường Xảo: Viên dũng tướng xả thân đền ơn cứu mạng."],"tags":["Khoan dung","Bao dung","Sở Trang Vương","Thuyết Uyển"]},{"id":30,"title_vi":"Biết Rõ Chữ \"Nghĩa\"","title_zh_simp":"华歆王朗乘船避难","title_zh_trad":"華歆王朗乘船避難","title_pinyin":"Huá Xīn, Wáng Lǎng chéng chuán bìnàn","title_han_viet":"HOA HÂM, VƯƠNG LÃNG THỪA THUYỀN TỊ NẠN","title_en":"True Loyalty to Righteousness","source_book":"《世说新语·德行》","source_author":"Lưu Nghĩa Khánh","source_period":"Nam Bắc Triều","content_zh_simp":"华歆、王朗俱乘船避难，有一人欲依附，歆辄难之。朗曰：“幸尚宽，何为不可？”后贼追至，王朗欲舍所携人。歆曰：“本所以疑者，正为此耳。既已纳其自托，宁可以急相弃邪？”遂携拯如初。世以此定华、王之优劣。","content_zh_trad":"華歆、王朗俱乘船避難，有一人欲依附，歆輒難之。朗曰：「幸尚寬，何為不可？」後賊追至，王朗欲捨所攜人。歆曰：「本所以疑者，正為此耳。既已納其自託，寧可以急相棄邪？」遂攜拯如初。世以此定華、王之優劣。","content_pinyin":"Huá Xīn, Wáng Lǎng jù chéng chuán bìnàn, yǒu yī rén yù yīfù, Xīn zhé nán zhī. Lǎng yuē: “Xìng shàng kuān, hé wéi bù kě?” Hòu zéi zhuī zhì, Wáng Lǎng yù shě suǒ xié rén. Xīn yuē: “Běn suǒyǐ yí zhě, zhèng wèi cǐ ěr. Jì yǐ nà qí zì tuō, nìng kě yǐ jí xiāng qì xié?” Suì xié zhěng rú chū. Shì yǐ cǐ dìng Huá, Wáng zhī yōuliè.","content_han_viet":"Hoa Hâm, Vương Lãng câu thừa thuyền tị nạn, hữu nhất nhân dục y phụ, Hâm triếp nan chi. Lãng viết: \"Hạnh thượng khoan, hà vi bất khả?\" Hậu tặc truy chí, Vương Lãng dục xả sở huề nhân. Hâm viết: \"Bản sở dĩ nghi giả, chính vi thử nhĩ. Ký dĩ nạp kỳ tự thác, ninh khả dĩ cấp tương khí tà?\" Toại huề chửng như sơ. Thế dĩ thử định Hoa, Vương chi ưu liệt.","content_vi":"Hoa Hâm và Vương Lãng cùng ngồi chung một chiếc thuyền chạy loạn. Khi thuyền sắp nhổ neo, có một người dân lạ chạy đến xin cùng đi nhờ. Hoa Hâm ngần ngại không muốn cho lên, nhưng Vương Lãng xởi lởi bảo: 'Thuyền may còn rộng rãi, cứu một mạng người có sao đâu!'\n\nThế rồi đi được một đoạn, giặc cướp đuổi theo sát nút phía sau. Thuyền nặng đi chậm, Vương Lãng hốt hoảng toan đẩy người khách đi nhờ xuống sông để thoát thân. Hoa Hâm nghiêm giọng can:\n\n'Lúc đầu ta ngần ngại chính là vì lo ngại lúc nguy nan thế này! Nhưng nay ta đã nhận lời cưu mang người ta rồi, lẽ nào thấy hoạn nạn lại đang tâm vứt bỏ người ta cho giặc giết? Làm thế sao xứng là kẻ trượng phu!'\n\nNói đoạn, Hoa Hâm vẫn cùng chèo chống che chở cho người ấy đến nơi an toàn. Người đời sau dựa vào câu chuyện này mà định rõ phẩm cách cao thấp, trọng Hoa Hâm hơn hẳn Vương Lãng vậy.","loi_ban_vi":"Vương Lãng ban đầu mở miệng cứu người rất dễ dàng, nhưng lúc nguy biến thì sẵn sàng vứt bỏ người ta để giữ lấy mạng mình, ấy là lòng nhân hời hợt nông cạn. Hoa Hâm lúc đầu đắn đo suy nghĩ chín chắn, nhưng một khi đã hứa thì dù chết cũng giữ trọn lời cam kết, ấy mới là chữ 'Nghĩa' chân chính của bậc quân tử.\n\nỞ đời chớ vội tin những lời hứa hẹn dễ dãi lúc phong lưu; chỉ trong gian nan hoạn nạn mới đo được độ sâu của nhân cách và chữ Tín.","giai_nghia":["Hoa Hâm, Vương Lãng: Hai danh sĩ thời Tam Quốc triều Ngụy.","Thế Thuyết Tân Ngữ: Tác phẩm văn xuôi nổi tiếng của Lưu Nghĩa Khánh thời Nam Bắc Triều ghi chép lời nói, hành trạng danh nhân.","Đức hạnh: Tiêu chuẩn đạo đức tối thượng để đánh giá phẩm cách con người."],"tags":["Chữ Tín","Nghĩa khí","Thế Thuyết Tân Ngữ","Tam Quốc"]},{"id":31,"title_vi":"Không Nhận Cá","title_zh_simp":"公仪休不受鱼","title_zh_trad":"公儀休不受魚","title_pinyin":"Gōng Yí Xiū bù shòu yú","title_han_viet":"CÔNG NGHI HƯU BẤT THỤ NGƯ","title_en":"Refusing the Gift of Fish","source_book":"《史记·循吏列传》 / 《韩诗外传》","source_author":"Tư Mã Thiên","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"公仪休相鲁而嗜鱼，一国尽争买鱼而献之，公仪休不受。其弟谏曰：“夫子嗜鱼而不受者，何也？”对曰：“夫唯嗜鱼，故不受也。夫即受鱼，必有下人之色；有下人之色，将枉于法；枉于法，则免于相。虽嗜鱼，此不必致我鱼，我又不能自给鱼。即无受鱼而不免于相，虽嗜鱼，我能长自给鱼。”","content_zh_trad":"公儀休相魯而嗜魚，一國盡爭買魚而獻之，公儀休不受。其弟諫曰：「夫子嗜魚而不受者，何也？」對曰：「夫唯嗜魚，故不受也。夫即受魚，必有下人之色；有下人之色，將枉於法；枉於法，則免於相。雖嗜魚，此不必致我魚，我又不能自給魚。即無受魚而不免於相，雖嗜魚，我能長自給魚。」","content_pinyin":"Gōng Yí Xiū xiāng Lǔ ér shì yú, yī guó jìn zhēng mǎi yú ér xiàn zhī, Gōng Yí Xiū bù shòu. Qí dì jiàn yuē: “Fūzǐ shì yú ér bù shòu zhě, hé yě?” Duì yuē: “Fū wéi shì yú, gù bù shòu yě. Fū jí shòu yú, bì yǒu xià rén zhī sè; yǒu xià rén zhī sè, jiāng wǎng yú fǎ; wǎng yú fǎ, zé miǎn yú xiāng. Suī shì yú, cǐ bù bì zhì wǒ yú, wǒ yòu bù néng zì jǐ yú. Jí wú shòu yú ér bù miǎn yú xiāng, suī shì yú, wǒ néng cháng zì jǐ yú.”","content_han_viet":"Công Nghi Hưu tướng Lỗ nhi thị ngư, nhất quốc tận tranh mãi ngư nhi hiến chi, Công Nghi Hưu bất thụ. Kỳ đệ gián viết: \"Phu tử thị ngư nhi bất thụ giả, hà dã?\" Đối viết: \"Phu duy thị ngư, cố bất thụ dã. Phu tức thụ ngư, tất hữu hạ nhân chi sắc; hữu hạ nhân chi sắc, tương uổng ư pháp; uổng ư pháp, tắc miễn ư tướng. Tuy thị ngư, thử bất tất trí ngã ngư, ngã hữu bất năng tự cấp ngư. Tức vô thụ ngư nhi bất miễn ư tướng, tuy thị ngư, ngã năng trường tự cấp ngư.\"","content_vi":"Công Nghi Hưu làm Tướng quốc nước Lỗ, tính rất thích ăn cá tươi. Người trong nước tranh nhau đem cá ngon đến biếu, nhưng ông một mực khước từ không nhận một con nào.\n\nNgười em thấy vậy thắc mắc hỏi: 'Anh thích ăn cá mà người ta đem biếu tại sao lại không nhận?'\n\nCông Nghi Hưu điềm đạm đáp: 'Chính vì ta thích ăn cá nên ta mới không nhận! Nếu ta nhận cá của người, ắt miệng ăn của người ta thì mặt phải nể người ta; nể người ta thì ắt có lúc bẻ cong phép nước; bẻ cong phép nước thì sẽ bị bãi chức Tướng quốc. Một khi đã mất chức rồi, kẻ biếu cá liệu có còn mang cá đến cho ta ăn nữa không, mà bổng lộc của ta cũng hết lấy đâu tiền mua cá? Còn nếu ta không nhận cá, giữ mình liêm khiết không bị mất chức, thì dẫu thích ăn cá, ta vẫn có thể dùng bổng lộc trong sạch của mình mà mua cá ăn mãi mãi trọn đời!'","loi_ban_vi":"Làm quan thanh liêm như Công Nghi Hưu thật là sâu sắc và thấu triệt lẽ đời. Nhận một món quà nhỏ tưởng chừng vô hại, nhưng thực chất là đã tự tay trao cái đuôi cho người khác nắm, dần dà biến mình thành nô lệ của kẻ hối lộ.\n\nBiết kìm hãm cái sở thích tầm thường trước mắt để giữ trọn danh dự và sự nghiệp bền vững lâu dài, ấy mới là sự khôn ngoan chân chính của bậc đại trí liêm khiết.","giai_nghia":["Công Nghi Hưu: Bậc hiền tướng thanh liêm nước Lỗ thời Chiến Quốc, nêu gương trong Sử Ký thiên Tuần Lại Liệt Truyện.","Uổng pháp: Bẻ cong luật pháp để bao che cho kẻ hối lộ.","Liêm khiết: Trong sạch, không tơ hào tham nhũng của công lẫn của tư."],"tags":["Liêm chính","Tư Mã Thiên","Sử Ký","Tự chủ"]},{"id":32,"title_vi":"Ông Quan Thanh Bạch","title_zh_simp":"杨震四知 / 天知地知你知我知","title_zh_trad":"楊震四知 / 天知地知你知我知","title_pinyin":"Yáng Zhèn sì zhī / Tiān zhī dì zhī nǐ zhī wǒ zhī","title_han_viet":"DƯƠNG CHẤN TỨ TRI / THIÊN TRI ĐỊA TRI NHĨ TRI NGÃ TRI","title_en":"The Four Who Know","source_book":"《后汉书·杨震传》","source_author":"Phạm Diệp","source_period":"Nam Bắc Triều","content_zh_simp":"杨震迁东莱太守。当之镇，过昌邑，故所举荆州茂才王密为昌邑令，谒见，至夜怀金十斤以遗震。震曰：“故人知君，君不知故人，何也？”密曰：“暮夜无知者。”震曰：“天知，神知，我知，子知。何谓无知！”密愧而出。震性公廉，不受私谒。子孙常蔬食步行，故旧或欲令为开产业，震不肯，曰：“使后世称为清白吏子孙，以此遗之，不亦厚乎！”","content_zh_trad":"楊震遷東萊太守。當之鎮，過昌邑，故所舉荊州茂才王密為昌邑令，謁見，至夜懷金十斤以遺震。震曰：「故人知君，君不知故人，何也？」密曰：「暮夜無知者。」震曰：「天知，神知，我知，子知。何謂無知！」密愧而出。震性公廉，不受私謁。子孫常蔬食步行，故舊或欲令為開產業，震不肯，曰：「使後世稱為清白吏子孫，以此遺之，不亦厚乎！」","content_pinyin":"Yáng Zhèn qiān Dōnglái tàishǒu. Dāng zhī zhèn, guò Chāngyì, gù suǒ jǔ Jīngzhōu màocái Wáng Mì wéi Chāngyì lìng, yèjiàn, zhì yè huái jīn shí jīn yǐ yí Zhèn. Zhèn yuē: “Gùrén zhī jūn, jūn bù zhī gùrén, hé yě?” Mì yuē: “Mù yè wú zhī zhě.” Zhèn yuē: “Tiān zhī, shén zhī, wǒ zhī, zǐ zhī. Hé wèi wú zhī!” Mì kuì ér chū. Zhèn xìng gōng lián, bù shòu sī yè. Zǐsūn cháng shū shí bù xíng, gùjiù huò yù lìng wèi kāi chǎnyè, Zhèn bù kěn, yuē: “Shǐ hòushì chēng wéi qīngbái lì zǐsūn, yǐ cǐ yí zhī, bù yì hòu hū!”","content_han_viet":"Dương Chấn thiên Đông Lai thái thú. Đương chi trấn, quá Xương Ấp, cố sở cử Kinh Châu mậu tài Vương Mật vi Xương Ấp lệnh, yết kiến, chí dạ hoài kim thập cân dĩ di Chấn. Chấn viết: \"Cố nhân tri quân, quân bất tri cố nhân, hà dã?\" Mật viết: \"Mộ dạ vô tri giả.\" Chấn viết: \"Thiên tri, thần tri, ngã tri, tử tri. Hà vị vô tri!\" Mật quỷ nhi xuất. Chấn tính công liêm, bất thụ tư yết. Tử tôn thường sơ thực bộ hành, cố cựu hoặc dục lệnh vi khai sản nghiệp, Chấn bất khẳng, viết: \"Sử hậu thế xưng vi thanh bạch lại tử tôn, dĩ thử di chi, bất diệc hậu hồ!\"","content_vi":"Dương Chấn được triều đình bổ nhiệm làm Thái thú quận Đông Lai. Trên đường đến nhiệm sở, ông đi qua huyện Xương Ấp. Quan huyện ở đó là Vương Mật vốn là kẻ thuở xưa được Dương Chấn tiến cử nên có lòng biết ơn. Đêm khuya thanh vắng, Vương Mật bí mật mang mười cân vàng ròng vào phòng trọ biếu Dương Chấn.\n\nDương Chấn nghiêm nét mặt từ chối: 'Ta hiểu ngươi là người có tài nên mới tiến cử, thế mà ngươi lại chẳng hiểu bụng dạ ta chút nào sao?'\n\nVương Mật ngập ngừng thưa: 'Đêm hôm khuya khoắt nơi phòng kín, không có ai hay biết đâu ạ!'\n\nDương Chấn trừng mắt quát: 'Trời biết, Đất biết, Ngươi biết, Ta biết! Sao lại dám bảo là không ai biết!' Vương Mật hổ thẹn tột cùng, đành ôm vàng cúi đầu lủi thủi lui ra.\n\nDương Chấn cả đời liêm khiết, con cháu chỉ ăn rau đạm bạc đi bộ như thường dân. Có người khuyên ông mua sắm ruộng vườn để lại cho con cháu, ông cười bảo: 'Để cho con cháu đời sau được mang danh là con cháu của một vị quan thanh bạch, gia tài tinh thần ấy để lại chẳng phải là vô giá và dồi dào lắm ru!'","loi_ban_vi":"Bốn chữ 'Dương Chấn Tứ Tri' (Trời biết, Đất biết, Ngươi biết, Ta biết) đã trở thành kim ngôn ngàn đời răn dạy kẻ làm quan và người làm người. Lương tâm chính là vị thần giám sát nghiêm khắc nhất; không ai nhìn thấy bóng đêm nhưng tòa án lương tâm trong lồng ngực tự khắc ghi nhận.\n\nĐể lại vàng bạc châu báu cho con cháu chỉ nuôi dưỡng thói ăn chơi trác táng; để lại gia phong thanh bạch chính trực mới là phúc ấm muôn đời của dòng tộc.","giai_nghia":["Dương Chấn tứ tri: Tứ tri là 4 người biết (Trời, Đất, Mày, Tao), biểu tượng bất tử của sự trong sạch liêm khiết.","Thanh bạch lại: Quan lại liêm chính, không tham nhũng tơ hào.","Di trạch: Phúc đức lưu lại cho con cháu muôn đời."],"tags":["Liêm khiết","Lương tâm","Hậu Hán Thư","Gia phong"]},{"id":33,"title_vi":"Thầy Tăng Sâm","title_zh_simp":"曾参受杖 / 曾子受杖","title_zh_trad":"曾參受杖 / 曾子受杖","title_pinyin":"Zēng Shēn shòu zhàng / Zēngzǐ shòu zhàng","title_han_viet":"TĂNG SÂM THỤ TRƯỢNG / TĂNG TỬ THỤ TRƯỢNG","title_en":"Zengzi Enduring the Rod","source_book":"《说苑·建本》 / 《孔子家语》","source_author":"Lưu Hướng / Khổng Tử","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"曾子芸瓜而误斩其根，曾皙怒，建大杖以击其背，曾子仆地而不知人者久之。有顷乃苏，欣然而起，进于曾皙曰：“向也参得罪于大人，大人用力教参，得无疾乎？”退而齐齐弹琴而歌，欲令曾皙闻之，知其体康也。孔子闻之怒，告门者曰：“参来，勿内！”曾子自以无罪，使人谢孔子。孔子曰：“昔舜事父，小杖则受，大杖则走，使父不陷于不义。今参委身以待暴怒，死则陷父于不义，不孝孰大焉！”曾子大悟，向孔子谢罪。","content_zh_trad":"曾子芸瓜而誤斬其根，曾皙怒，建大杖以擊其背，曾子僕地而不知人者久之。有頃乃蘇，欣然而起，進於曾皙曰：「向也參得罪於大人，大人用力教參，得無疾乎？」退而齊齊彈琴而歌，欲令曾皙聞之，知其體康也。孔子聞之怒，告門者曰：「參來，勿內！」曾子自以無罪，使人謝孔子。孔子曰：「昔舜事父，小杖則受，大杖則走，使父不陷於不義。今參委身以待暴怒，死則陷父於不義，不孝孰大焉！」曾子大悟，向孔子謝罪。","content_pinyin":"Zēngzǐ yún guā ér wù zhǎn qí gēn, Zēng Xī nù, jiàn dà zhàng yǐ jī qí bèi, Zēngzǐ pū dì ér bù zhī rén zhě jiǔ zhī. Yǒu qǐng nǎi sū, xīnrán ér qǐ, jìn yú Zēng Xī yuē: “Xiàng yě Shēn dézuì yú dàrén, dàrén yònglì jiào Shēn, dé wú jí hū?” Tuì ér qíqí tán qín ér gē, yù lìng Zēng Xī wén zhī, zhī qí tǐ kāng yě. Kǒngzǐ wén zhī nù, gào mén zhě yuē: “Shēn lái, wù nèi!” Zēngzǐ zì yǐ wú zuì, shǐ rén xiè Kǒngzǐ. Kǒngzǐ yuē: “Xī Shùn shì fù, xiǎo zhàng zé shòu, dà zhàng zé zǒu, shǐ fù bù xiàn yú bù yì. Jīn Shēn wěi shēn yǐ dài bàonù, sǐ zé xiàn fù yú bù yì, bùxiào shú dà yān!” Zēngzǐ dà wù, xiàng Kǒngzǐ xiè zuì.","content_han_viet":"Tăng Tử vân qua nhi ngộ trảm kỳ căn, Tăng Tích nộ, kiến đại trượng dĩ kích kỳ bối, Tăng Tử phác địa nhi bất tri nhân giả cửu chi. Hữu khoảnh nãi tô, hân nhiên nhi khởi, tiến ư Tăng Tích viết: \"Hướng dã Sâm đắc tội ư đại nhân, đại nhân dụng lực giáo Sâm, đắc vô tật hồ?\" Thoái nhi tề tề đàn cầm nhi ca, dục lệnh Tăng Tích văn chi, tri kỳ thể khang dã. Khổng Tử văn chi nộ, cáo môn giả viết: \"Sâm lai, vật nội!\" Tăng Tử tự dĩ vô tội, sử nhân tạ Khổng Tử. Khổng Tử viết: \"Tích Thuấn sự phụ, tiểu trượng tắc thụ, đại trượng tắc tẩu, sử phụ bất hãm ư bất nghĩa. Kim Sâm ủy thân dĩ đãi bạo nộ, tử tắc hãm phụ ư bất nghĩa, bất hiếu thục đại yên!\" Tăng Tử đại ngộ, hướng Khổng Tử tạ tội.","content_vi":"Thầy Tăng Sâm làm cỏ dưa, vô ý cuốc đứt một rễ dưa. Người cha là Tăng Tích nổi cơn thịnh nộ, vớ lấy cây gậy to đánh tới tấp vào lưng con. Tăng Sâm vì hiếu thảo không dám né tránh, gục xuống đất ngất lịm đi hồi lâu mới tỉnh lại.\n\nKhi tỉnh dậy, Tăng Sâm tươi cười chạy vào chào cha thưa: 'Vừa rồi con có lỗi để cha phải mỏi nhọc đánh dạy con, cha có bị mệt nhọc đau đớn chân tay chăng?' Đoạn lui về phòng gảy đàn cất tiếng hát vang để cha yên lòng rằng mình vẫn khỏe mạnh.\n\nĐức Khổng Tử nghe chuyện đùng đùng nổi giận, dặn học trò gác cửa: 'Hễ thằng Sâm đến, tuyệt đối cấm không cho vào cửa!'\n\nTăng Sâm ngơ ngác không hiểu mình phạm tội gì, nhờ bạn vào thưa với thầy. Khổng Tử răn dạy: 'Thuở xưa vua Thuấn phụng dưỡng cha già mù lòa độc ác: cha đánh bằng roi nhỏ thì đứng yên chịu phạt, cha vác gậy gộc to toan đánh chết thì nhanh chân chạy trốn! Nhờ thế mà cha không phạm tội giết con để mang tiếng ác với muôn đời. Nay thằng Sâm đứng im phơi thân cho cha đánh mù quáng, lỡ cha đánh chết thì chẳng phải biến cha thành kẻ giết con bất nhân bất nghĩa ru? Tội đại bất hiếu nào còn lớn hơn thế nữa!' Tăng Sâm nghe xong giật mình tỉnh ngộ, vội quỳ lạy tạ tội với Khổng Tử.","loi_ban_vi":"Người ta thường lầm tưởng hiếu thảo là cha mẹ bảo sao nghe vậy, đánh chết cũng đứng im chịu đựng. Khổng Tử dạy như thế là 'Ngu hiếu' chứ không phải chân hiếu.\n\nNgười con có hiếu thực sự phải có trí tuệ: biết lựa lời can gián khi cha mẹ sai lầm, biết lánh mặt lúc cha mẹ đang cơn cuồng nộ để cha mẹ không vướng vào tội ác tày trời. Đạo hiếu gắn liền với Trí tuệ và Đức nghĩa, chớ mù quáng câu nệ hình thức.","giai_nghia":["Tăng Sâm: Tăng Tử, học trò nổi tiếng chí hiếu của Khổng Tử, tác giả thiên Hiếu Kinh.","Tiểu trượng tắc thụ, đại trượng tắc tẩu: Gậy nhỏ thì chịu, gậy lớn thì chạy; bài học xử thế chuẩn mực về đạo hiếu.","Ngu hiếu: Sự hiếu thảo ngu muội, thiếu sáng suốt làm hại cha mẹ."],"tags":["Đạo hiếu","Khổng Tử","Trí tuệ","Thuyết Uyển"]},{"id":34,"title_vi":"Tăng Sâm Giết Người","title_zh_simp":"三人成虎 / 曾参杀人","title_zh_trad":"三人成虎 / 曾參殺人","title_pinyin":"Sān rén chéng hǔ / Zēng Shēn shā rén","title_han_viet":"TAM NHÂN THÀNH HỔ / TĂNG SÂM SÁT NHÂN","title_en":"Three Voices Make a Tiger / The Rumor of Zengzi","source_book":"《战国策·秦策二》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"昔者曾子处费，费人有与曾子同名族者而杀人。人告其母曰：“曾参杀人！”曾子之母曰：“吾子不杀人。”织自若。有顷，一人又曰：“曾参杀人！”其母尚织自若也。顷之，一人又曰：“曾参杀人！”其母惧，投杼逾墙而走。夫以曾参之贤与其母之信也，三人疑之，则慈母不能信也。今臣之贤不及曾子，而王之信臣又不及曾母，疑臣者非特三人，臣恐大王之投杼也！","content_zh_trad":"昔者曾子處費，費人有與曾子同名族者而殺人。人告其母曰：「曾參殺人！」曾子之母曰：「吾子不殺人。」織自若。有頃，一人又曰：「曾參殺人！」其母尚織自若也。頃之，一人又曰：「曾參殺人！」其母懼，投杼逾牆而走。夫以曾參之賢與其母之信也，三人疑之，則慈母不能信也。今臣之賢不及曾子，而王之信臣又不及曾母，疑臣者非特三人，臣恐大王之投杼也！","content_pinyin":"Xī zhě Zēngzǐ chǔ Bì, Bì rén yǒu yǔ Zēngzǐ tóng míng zú zhě ér shā rén. Rén gào qí mǔ yuē: “Zēng Shēn shā rén!” Zēngzǐ zhī mǔ yuē: “Wú zǐ bù shā rén.” Zhī zìruò. Yǒu qǐng, yī rén yòu yuē: “Zēng Shēn shā rén!” Qí mǔ shàng zhī zìruò yě. Qǐng zhī, yī rén yòu yuē: “Zēng Shēn shā rén!” Qí mǔ jù, tóu zhù yú qiáng ér zǒu. Fū yǐ Zēng Shēn zhī xián yǔ qí mǔ zhī xìn yě, sān rén yí zhī, zé címǔ bù néng xìn yě. Jīn chén zhī xián bù jí Zēngzǐ, ér wáng zhī xìn chén yòu bù jí Zēng mǔ, yí chén zhě fēi tè sān rén, chén kǒng dwiwáng zhī tóu zhù yě!","content_han_viet":"Tích giả Tăng Tử xứ Phí, Phí nhân hữu dữ Tăng Tử đồng danh tộc giả nhi sát nhân. Nhân cáo kỳ mẫu viết: \"Tăng Sâm sát nhân!\" Tăng Tử chi mẫu viết: \"Ngô tử bất sát nhân.\" Chức tự nhược. Hữu khoảnh, nhất nhân hữu viết: \"Tăng Sâm sát nhân!\" Kỳ mẫu thượng chức tự nhược dã. Khoảnh chi, nhất nhân hữu viết: \"Tăng Sâm sát nhân!\" Kỳ mẫu cụ, đầu trữ du tường nhi tẩu. Phu dĩ Tăng Sâm chi hiền dữ kỳ mẫu chi tín dã, tam nhân nghi chi, tắc từ mẫu bất năng tín dã. Kim thần chi hiền bất cập Tăng Tử, nhi vương chi tín thần hữu bất cập Tăng mẫu, nghi thần giả phi đặc tam nhân, thần khủng đại vương chi đầu trữ dã!","content_vi":"Thầy Tăng Sâm ở đất Phí, trong ấp tình cờ có kẻ trùng họ trùng tên giết chết người ta. Một người chạy lại hớt hải bảo bà mẹ: 'Thằng Sâm giết người rồi!' Bà mẹ điềm nhiên ngồi dệt cửi: 'Con ta hiền đức hiếu thảo, chẳng bao giờ giết người!'\n\nMột lát sau, người thứ hai lại chạy vào bảo: 'Tăng Sâm giết người thật rồi!' Bà mẹ vẫn thản nhiên đưa thoi dệt cửi. Lại một lát nữa, người thứ ba hoảng hốt xông vào la lớn: 'Tăng Sâm giết người bị quan bắt rồi!'\n\nBấy giờ bà mẹ sợ hãi cuống cuồng, buông thoi quẳng khung cửi, trèo qua tường chạy trốn!\n\nHiền đức như Tăng Sâm, lòng mẹ tin con sâu sắc dường ấy, thế mà ba người vào nói xằng bậy cũng khiến lòng dạ người mẹ lung lay khiếp đảm. Bởi vậy dư luận đồn nhảm lặp đi lặp lại có sức tàn phá lòng tin khủng khiếp biết bao!","loi_ban_vi":"Lời gièm pha đồn đại lặp đi lặp lại nhiều lần có thể biến trắng thành đen, biến điều không tưởng thành sự thật trong đầu người đời. Tục ngữ có câu 'Ba người nói có cọp giữa chợ thì cả chợ đều tin là có cọp'.\n\nNgười lãnh đạo và kẻ hành sự ở đời nếu không có định lực sắt đá, không suy xét chứng cứ rõ ràng mà chỉ nghe miệng đời đưa đẩy, thì ắt có ngày quẳng thoi nghi oan cho trung thần bạn hữu.","giai_nghia":["Tam nhân thành hổ: Ba người nói có hổ thì người ta tin là có hổ thật; chỉ sức mạnh thao túng của tin đồn ác ý.","Đầu trữ du tường: Quẳng thoi trèo tường chạy trốn; ngụ ý lòng tin sụp đổ trước dư luận dối trá.","Chiến Quốc Sách: Điển tích dùng để nhắc nhở các bậc quân vương giữ vững lòng tin nơi trung thần."],"tags":["Dư luận","Lòng tin","Chiến Quốc Sách","Tâm lý"]},{"id":35,"title_vi":"Bán Mộc Bán Giáo","title_zh_simp":"自相矛盾 / 卖矛盾","title_zh_trad":"自相矛盾 / 賣矛盾","title_pinyin":"Zì xiāng máodùn / Mài máo dùn","title_han_viet":"TỰ TƯƠNG MÂU THUẪN / MẠI MÂU THUẪN","title_en":"The Contradiction of the Spear and Shield","source_book":"《韩非子·难一》","source_author":"Hàn Phi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"楚人有鬻盾与矛者，誉之曰：“吾盾之坚，物莫能陷也。”又誉其矛曰：“吾矛之利，于物无不陷也。”或曰：“以子之矛陷子之盾，何如？”其人弗能应也。夫不可陷之盾与无不陷之矛，不可同世而立。","content_zh_trad":"楚人有鬻盾與矛者，譽之曰：「吾盾之堅，物莫能陷也。」又譽其矛曰：「吾矛之利，於物無不陷也。」或曰：「以子之矛陷子之盾，何如？」其人弗能應也。夫不可陷之盾與無不陷之矛，不可同世而立。","content_pinyin":"Chǔ rén yǒu yù dùn yǔ máo zhě, yù zhī yuē: “Wú dùn zhī jiān, wù mò néng xiàn yě.” Yòu yù qí máo yuē: “Wú máo zhī lì, yú wù wú bù xiàn yě.” Huò yuē: “Yǐ zǐ zhī máo xiàn zǐ zhī dùn, hé rú?” Qí rén fú néng yīng yě. Fū bù kě xiàn zhī dùn yǔ wú bù xiàn zhī máo, bù kě tóng shì ér lì.","content_han_viet":"Sở nhân hữu chúc thuẫn dữ mâu giả, dự chi viết: \"Ngô thuẫn chi kiên, vật mạc năng hãm dã.\" Hựu dự kỳ mâu viết: \"Ngô mâu chi lợi, ư vật vô bất hãm dã.\" Hoặc viết: \"Dĩ tử chi mâu hãm tử chi thuẫn, hà như?\" Kỳ nhân phất năng ứng dã. Phu bất khả hãm chi thuẫn dữ vô bất hãm chi mâu, bất khả đồng thế nhi lập.","content_vi":"Một người nước Sở mang vừa mộc vừa giáo ra chợ bán. Cầm chiếc mộc lên, anh ta khoe khoang: 'Mộc này của tôi cứng vô cùng, không có mũi giáo sắc nào trong gầm trời này đâm thủng được!'\n\nĐoạn, cầm ngọn giáo lên, anh ta lại huênh hoang: 'Ngọn giáo này của tôi sắc bén tột bực, bất cứ vật gì cứng rắn đến đâu đâm vào cũng thủng ngay tức khắc!'\n\nNgười trong chợ nghe thấy liền hỏi vặc lại: 'Thế lấy ngọn giáo của bác đâm vào chiếc mộc của bác thì sẽ ra sao?'\n\nAnh bán hàng nghẹn họng cứng lưỡi, không sao đáp lại được. Chiếc mộc không gì đâm thủng và ngọn giáo đâm thủng được mọi vật trên đời, làm sao có thể cùng tồn tại với nhau được!","loi_ban_vi":"Nói năng khoác lác tiền hậu bất nhất, tự mình cắn đuôi mình gọi là 'Tự tương mâu thuẫn'. Kẻ ham quảng cáo quá lời, bốc phét cho sướng miệng thường để lộ những lỗ hổng logic buồn cười mà chính mình không nhận ra.\n\nNgười chân chính làm việc hay nói lời gì cũng phải giữ chữ 'Thực', trước sau nhất quán, chớ để thói huênh hoang biến mình thành trò cười cho thiên hạ.","giai_nghia":["Tự tương mâu thuẫn: Tự mình mâu thuẫn với chính mình, nguồn gốc thành ngữ 'Mâu thuẫn' ngày nay.","Mộc (Thuẫn): Tấm khiên che chắn vũ khí thời cổ.","Giáo (Mâu): Binh khí mũi nhọn dùng để đâm."],"tags":["Thành ngữ","Hàn Phi Tử","Logic","Chân thực"]},{"id":36,"title_vi":"Giáp Ất Tranh Luận","title_zh_simp":"铜钟空谷 / 欧阳修辩钟","title_zh_trad":"銅鐘空谷 / 歐陽修辯鐘","title_pinyin":"Tóng zhōng kōng gǔ / Ōuyáng Xiū biàn zhōng","title_han_viet":"ĐỒNG CHUNG KHÔNG CỐC / ÂU DƯƠNG TU BIỆN CHUNG","title_en":"The Debate on the Resonating Bronze Bell","source_book":"《欧阳文忠公集》","source_author":"Âu Dương Tu","source_period":"Bắc Tống","content_zh_simp":"有古寺铜钟，日夜自鸣。甲曰：“钟有灵也，必神魅依之。”乙曰：“非也，地下有空穴，地气动则钟鸣。”二人争论不休。欧阳修闻而笑曰：“二子皆妄也。昔曹绍夔见洛阳僧房磬夜鸣，求其故，乃钟楼大钟声律相协，钟动则磬应，此声应之理也。今钟鸣，必城中有叩相应之律者，岂神魅地气之故哉！”验之果然。","content_zh_trad":"有古寺銅鐘，日夜自鳴。甲曰：「鐘有靈也，必神魅依之。」乙曰：「非也，地下有空穴，地氣動則鐘鳴。」二人爭論不休。歐陽修聞而笑曰：「二子皆妄也。昔曹紹夔見洛陽僧房磬夜鳴，求其故，乃鐘樓大鐘聲律相協，鐘動則磬應，此聲應之理也。今鐘鳴，必城中有叩相應之律者，豈神魅地氣之故哉！」驗之果然。","content_pinyin":"Yǒu gǔ sì tóng zhōng, rì yè zì míng. Jiǎ yuē: “Zhōng yǒu líng yě, bì shénmèi yī zhī.” Yǐ yuē: “Fēi yě, dì xià yǒu kōng xué, dì qì dòng zé zhōng míng.” Èr rén zhēnglùn bùxiū. Ōuyáng Xiū wén ér xiào yuē: “Èr zǐ jiē wàng yě. Xī Cáo Shàokuí jiàn Luòyáng sēng fáng qìng yè míng, qiú qí gù, nǎi zhōnglóu dà zhōng shēnglǜ xiāng xié, zhōng dòng zé qìng yìng, cǐ shēng yìng zhī lǐ yě. Jīn zhōng míng, bì chéng zhōng yǒu kòu xiāngyìng zhī lǜ zhě, qǐ shénmèi dì qì zhī gù zāi!” Yàn zhī guǒrán.","content_han_viet":"Hữu cổ tự đồng chung, nhật dạ tự minh. Giáp viết: \"Chung hữu linh dã, tất thần mị y chi.\" Ất viết: \"Phi dã, địa hạ hữu không huyệt, địa khí động tắc chung minh.\" Nhị nhân tranh luận bất hưu. Âu Dương Tu văn nhi tiếu viết: \"Nhị tử giai vọng dã. Tích Tào Thiệu Quỳ kiến Lạc Dương tăng phòng khánh dạ minh, cầu kỳ cố, nãi chung lầu đại chung thanh luật tương hiệp, chung động tắc khánh ứng, thử thanh ứng chi lý dã. Kim chung minh, tất thành trung hữu khấu tương ứng chi luật giả, khởi thần mị địa khí chi cố tai!\" Nghiệm chi quả nhiên.","content_vi":"Trong một ngôi chùa cổ có quả chuông đồng lớn, chẳng ai đánh mà thỉnh thoảng cứ tự ngân vang lanh lảnh. Người tên Giáp quả quyết: 'Chuông này hiển linh, ắt có quỷ thần ẩn náu bên trong!' Người tên Ất gạt phăng: 'Không phải! Dưới đất có hang rỗng thông gió, địa khí chuyển động bốc lên làm rung chuông mà kêu đấy thôi!' Hai người cãi cọ bất phân thắng bại.\n\nĐại danh sĩ Âu Dương Tu nghe thấy cười bảo: 'Cả hai bác đều đoán mò sai cả rồi! Xưa có chuyện chiếc khánh đá trong chùa cứ nửa đêm tự kêu, quan Tào Thiệu Quỳ tìm ra duyên cớ là do chiếc chuông lớn ngoài lầu đánh cùng một tần số âm luật với khánh đá; chuông ngoài đập rung thì khánh trong tự ngân theo, ấy là lẽ cộng hưởng âm thanh vậy. Nay quả chuông này rung kêu, ắt trong thành có tiếng chày hay tiếng gõ có cùng âm luật tương ứng, chứ thần quỷ hay địa khí gì ở đây!' Đi điều tra thì quả đúng như vậy.","loi_ban_vi":"Người đời khi thấy hiện tượng lạ kỳ thường hay mê tín gán cho quỷ thần, hoặc suy đoán vu vơ thiếu căn cứ khoa học thực nghiệm. Bậc học giả chân chính quan sát vạn vật bằng con mắt trí tuệ khách quan, dùng quy luật tự nhiên và lý tính để giải mã bí ẩn.\n\nMuốn thấu suốt chân lý, cần phải trau dồi tri thức thực chứng, dẹp bỏ mê tín dị đoan và suy diễn chủ quan.","giai_nghia":["Âu Dương Tu: Đại văn hào và học giả lừng danh thời Bắc Tống, một trong 'Đường Tống Bát đại gia'.","Đồng thanh tương ứng: Hiện tượng cộng hưởng âm học, những âm thanh cùng tần số sẽ kích thích rung chuyển nhau.","Thực chứng: Tìm hiểu chân lý dựa trên bằng chứng thực tế và quy luật khoa học."],"tags":["Khoa học","Âu Dương Tu","Lý tính","Bài trừ mê tín"]},{"id":37,"title_vi":"Chết Mà Còn Răn Được Vua","title_zh_simp":"卫灵公与史鱼 / 史鱼尸谏","title_zh_trad":"衛靈公與史魚 / 史魚屍諫","title_pinyin":"Wèi Líng Gōng yǔ Shǐ Yú / Shǐ Yú shī jiàn","title_han_viet":"VỆ LINH CÔNG DỮ SỬ NGƯ / SỬ NGƯ THI GIÁN","title_en":"Remonstrating the King from Beyond the Grave","source_book":"《孔子家语》 / 《韩诗外传》","source_author":"Khổng Tử Môn Nhân","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"卫大夫史鱼病且死，谓其子曰：“我数进蘧伯玉而不能用，退弥子瑕而不能去。生不能进贤退不肖，死无以反于牖下。我死，汝置我尸于牖下，勿敛，以见灵公。”灵公往吊，怪而问之。子以父言告。灵公蹴然易容曰：“是寡人之过也！”乃召蘧伯玉而贵之，退弥子瑕。孔子闻之曰：“古之直臣，若史鱼者，生以身谏，死以尸谏，可谓直矣！”","content_zh_trad":"衛大夫史魚病且死，謂其子曰：「我數進蘧伯玉而不能用，退彌子瑕而不能去。生不能進賢退不肖，死無以反於牖下。我死，汝置我屍於牖下，勿斂，以見靈公。」靈公往弔，怪而問之。子以父言告。靈公蹴然易容曰：「是寡人之過也！」乃召蘧伯玉而貴之，退彌子瑕。孔子聞之曰：「古之直臣，若史魚者，生以身諫，死以屍諫，可謂直矣！」","content_pinyin":"Wèi dàfū Shǐ Yú bìng qiě sǐ, wèi qí zǐ yuē: “Wǒ shuò jìn Qú Bóyù ér bù néng yòng, tuì Mí Zǐxiá ér bù néng qù. Shēng bù néng jìn xián tuì bùxiào, sǐ wú yǐ fǎn yú yǒu xià. Wǒ sǐ, rǔ zhì wǒ shī yú yǒu xià, wù liǎn, yǐ jiàn Líng Gōng.” Líng Gōng wǎng diào, guài ér wèn zhī. Zǐ yǐ fù yán gào. Líng Gōng cù rán yì róng yuē: “Shì guǎrén zhī guò yě!” Nǎi zhào Qú Bóyù ér guì zhī, tuì Mí Zǐxiá. Kǒngzǐ wén zhī yuē: “Gǔ zhī zhí chén, ruò Shǐ Yú zhě, shēng yǐ shēn jiàn, sǐ yǐ shī jiàn, kě wèi zhí yǐ!”","content_han_viet":"Vệ đại phu Sử Ngư bệnh thả tử, vị kỳ tử viết: \"Ngã sổ tiến Cừ Bá Ngọc nhi bất năng dụng, thoái Di Tử Hà nhi bất năng khứ. Sinh bất năng tiến hiền thoái bất tiếu, tử vô dĩ phản ư dũ hạ. Ngã tử, nhữ trí ngã thi ư dũ hạ, vật liệm, dĩ kiến Linh Công.\" Linh Công vãng điếu, quái nhi vấn chi. Tử dĩ phụ ngôn cáo. Linh Công xúc nhiên dịch dung viết: \"Thị quả nhân chi quá dã!\" Nãi triệu Cừ Bá Ngọc nhi quý chi, thoái Di Tử Hà. Khổng Tử văn chi viết: \"Cổ chi trực thần, nhược Sử Ngư giả, sinh dĩ thân gián, tử dĩ thi gián, khả vị trực hĩ!\"","content_vi":"Quan Đại phu nước Vệ là Sử Ngư lâm bệnh nặng sắp qua đời, gọi con trai đến trăn trối rằng:\n\n'Lúc còn sống, ta nhiều lần dâng sớ khuyên vua Vệ Linh Công trọng dụng bậc hiền thần Cừ Bá Ngọc nhưng vua không nghe; khuyên vua phế bỏ kẻ gian nịnh sủng thần Di Tử Hà mà vua không trừ. Sống không tiến cử được người hiền, không đuổi được kẻ ác, thì chết đi không xứng đáng được cử hành tang lễ đàng hoàng trong nhà chính! Khi ta nhắm mắt, con chớ khâm liệm thi thể ta vào quan tài, cứ để xác trần ở dưới cửa sổ cho vua Linh Công trông thấy!'\n\nVệ Linh Công đến viếng tang, thấy thi thể Sử Ngư nằm trơ trọi dưới đất chưa khâm liệm, kinh ngạc hỏi cớ sự. Người con đem lời trăn trối của cha thưa lại. Linh Công giật mình biến sắc, rơi lệ thốt lên: 'Đó chính là lỗi lầm to lớn của quả nhân vậy!'\n\nVua lập tức hạ lệnh đón hiền sĩ Cừ Bá Ngọc vào triều phong làm Thượng khanh, tước bỏ quyền hành của kẻ nịnh thần Di Tử Hà, rồi mới làm lễ an táng trọng thể cho Sử Ngư. Đức Khổng Tử nghe chuyện khen rằng: 'Bậc trung thần cương trực thời xưa như Sử Ngư, sống lấy thân can gián, chết lấy xác can gián, thực xứng danh là bậc cương trực vĩ đại!'","loi_ban_vi":"Sử Ngư đem cả cái chết để lay động lương tri của nhà vua, lấy xác chết làm lời can gián cuối cùng ('Thi gián'). Tấm lòng trung trinh thiết tha vì vận mệnh đất nước ấy thật dũng liệt nghìn thu.\n\nNgười chính trực dẫu chết đi danh thơm vẫn tỏa sáng muôn đời; kẻ làm quan có được dũng khí kiên trinh như Sử Ngư thì quốc gia không bao giờ lo suy vong.","giai_nghia":["Sử Ngư thi gián: Sử Ngư dùng xác chết để can gián vua, tấm gương trung trực sáng ngời trong lịch sử.","Cừ Bá Ngọc: Đại hiền thần nước Vệ, được Khổng Tử vô cùng kính trọng.","Khâm liệm: Nghi thức tắm rửa và khép quan tài cho người quá cố."],"tags":["Chính trực","Khổng Tử","Xuân Thu","Can gián"]},{"id":38,"title_vi":"Lợn Mẹ Giết Lợn Con","title_zh_simp":"子华子戒残害 / 母猪噬子","title_zh_trad":"子華子戒殘害 / 母豬噬子","title_pinyin":"Zǐ Huázǐ jiè cánhài / Mǔzhū shì zǐ","title_han_viet":"TỬ HOA TỬ GIỚI TÀN HẠI / MẪU TRƯ PHỆ TỬ","title_en":"The Sow that Mauled Her Own Piglets","source_book":"《子华子》","source_author":"Tử Hoa Tử (Trình Bản)","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"子华子曰：“客有见彘于圈者，母子相哺甚欢。俄而雨霁，小彘戏于涂，泥滓涂其身，黑白失度。母彘见之，怪其非常，以为异兽也，突前啮杀之。呜呼！形色之异，乃使母子相残若是，况世人以利害异同而相攻乎！”","content_zh_trad":"子華子曰：「客有見彘於圈者，母子相哺甚歡。俄而雨霽，小彘戲於塗，泥滓塗其身，黑白失度。母彘見之，怪其非常，以為異獸也，突前齧殺之。嗚呼！形色之異，乃使母子相殘若是，況世人以利害異同而相攻乎！」","content_pinyin":"Zǐ Huázǐ yuē: “Kè yǒu jiàn zhì yú juān zhě, mǔ zǐ xiāng bǔ shèn huān. É'ér yǔ jì, xiǎo zhì xì yú tú, nízǐ tú qí shēn, hēibái shī dù. Mǔ zhì jiàn zhī, guài qí fēicháng, yǐwéi yì shòu yě, tū qián niè shā zhī. Wūhū! Xíngsè zhī yì, nǎi shǐ mǔ zǐ xiāng cán ruò shì, kuàng shìrén yǐ lìhài yìtóng ér xiāng gōng hū!”","content_han_viet":"Tử Hoa Tử viết: \"Khách hữu kiến trĩ ư quyển giả, mẫu tử tương bộ thậm hoan. Nga nhi vũ tễ, tiểu trĩ hí ư đồ, nê chỉ đồ kỳ thân, hắc bạch thất độ. Mẫu trĩ kiến chi, quái kỳ phi thường, dĩ vi dị thú dã, đột tiền nghiệt sát chi. Ô hô! Hình sắc chi dị, nãi sử mẫu tử tương tàn nhược thị, huống thế nhân dĩ lợi hại dị đồng nhi tương công hồ!\"","content_vi":"Triết gia Tử Hoa Tử kể chuyện: Có người khách nhìn vào chuồng lợn, thấy lợn mẹ đang cho bầy lợn con bú mớm rất đỗi âu yếm quấn quýt. Lát sau mưa tạnh, mấy con lợn con chạy nhảy đùa giỡn trong vũng bùn lầy, đất bùn đen sì trát khắp mình mẩy, biến đổi hình dạng khác hẳn lúc trước.\n\nCon lợn mẹ nhìn thấy bầy lợn con lem luốc bùn đất đen ngòm, lấy làm kỳ quái lạ lùng, tưởng là loài dã thú quái dị ở đâu xông vào chuồng, bèn nổi cơn điên cuồng lao tới cắn chết tươi mấy con lợn con của chính mình!\n\nThan ôi! Chỉ vì một chút màu sắc hình hài bên ngoài biến đổi mà đến nỗi mẹ con ruột thịt tàn sát lẫn nhau thương tâm dường ấy!","loi_ban_vi":"Thói thường ở đời, hễ thấy ai giống mình, cùng phe cánh sở thích với mình thì vồn vã yêu mến; hễ thấy ai khác mình về quan điểm, địa vị, xuất thân thì sinh lòng nghi kỵ thù địch, coi như kẻ cướp kẻ thù.\n\nNgười quân tử có tầm nhìn khoáng đạt thấu suốt bản chất bên trong, không bao giờ lấy hình thức bên ngoài hay sự bất đồng ý kiến nhất thời mà sinh lòng thù ghét tàn hại đồng loại.","giai_nghia":["Tử Hoa Tử: Bộ sách triết học do Trình Bản thời Xuân Thu trước tác.","Hình sắc chi dị: Sự khác biệt về hình thức bên ngoài làm mờ mắt bản chất bên trong.","Tương tàn: Cùng một nòi giống mà lại xâu xé tàn sát lẫn nhau."],"tags":["Thành kiến","Tử Hoa Tử","Nhân văn","Ngụ ngôn"]},{"id":39,"title_vi":"Tài Nghề Con Lừa","title_zh_simp":"黔驴技穷 / 黔之驴","title_zh_trad":"黔驢技窮 / 黔之驢","title_pinyin":"Qián lǘ jì qióng / Qián zhī lǘ","title_han_viet":"KIỀM LƯ KỸ CÙNG / KIỀM CHI LƯ","title_en":"The Donkey of Qian Has Exhausted Its Tricks","source_book":"《柳河东集·三戒》","source_author":"Liễu Tôn Nguyên","source_period":"Đường Triều","content_zh_simp":"黔无驴，有好事者船载以入。至则无可用，放之山下。虎见之，庞然大物也，以为神，蔽林间窥之。稍出近之，慭慭然，莫相知。他日，驴一鸣，虎大骇，远遁；以为且噬己也，甚恐。然往来视之，觉无异能者；益习其声，又近出前后，终不敢搏。稍近益狎，荡倚冲冒。驴不胜怒，蹄之。虎因喜，计之曰：“技止此耳！”因跳踉大㘎，断其喉，尽其肉，乃去。","content_zh_trad":"黔無驢，有好事者船載以入。至則無可用，放之山下。虎見之，龐然大物也，以為神，蔽林間窺之。稍出近之，憖憖然，莫相知。他日，驢一鳴，虎大駭，遠遁；以為且噬己也，甚恐。然往來視之，覺無異能者；益習其聲，又近出前後，終不敢搏。稍近益狎，蕩倚沖冒。驢不勝怒，蹄之。虎因喜，計之曰：「技止此耳！」因跳踉大㘎，斷其喉，盡其肉，乃去。","content_pinyin":"Qián wú lǘ, yǒu hàoshì zhě chuán zài yǐ rù. Zhì zé wú kě yòng, fàng zhī shān xià. Hǔ jiàn zhī, pángrán dà wù yě, yǐwéi shén, bì lín jiān kuī zhī. Shāo chū jìn zhī, yìnyìn rán, mò xiāng zhī. Tā rì, lǘ yī míng, hǔ dà hài, yuǎn dùn; yǐwéi qiě shì jǐ yě, shèn kǒng. Rán wǎnglái shì zhī, jué wú yì néng zhě; yì xí qí shēng, yòu jìn chū qiánhòu, zhōng bù gǎn bó. Shāo jìn yì xiá, dàng yǐ chōng mào. Lǘ bù shèng nù, tí zhī. Hǔ yīn xǐ, jì zhī yuē: “Jì zhǐ cǐ ěr!” Yīn tiào liáng dà hǎn, duàn qí hóu, jìn qí ròu, nǎi qù.","content_han_viet":"Kiềm vô lư, hữu hiếu sự giả thuyền tái dĩ nhập. Chí tắc vô khả dụng, phóng chi sơn hạ. Hổ kiến chi, bàng nhiên đại vật dã, dĩ vi thần, tế lâm gian khuy chi. Sảo xuất cận chi, ngân ngân nhiên, mạc tương tri. Tha nhật, lư nhất minh, hổ đại hãi, viễn độn; dĩ vi thả phệ kỷ dã, thậm khủng. Nhiên vãng lai thị chi, giác vô dị năng giả; ích tập kỳ thanh, hữu cận xuất tiền hậu, chung bất cảm bác. Sảo cận ích hiệp, đãng ỷ xung mạo. Lư bất thắng nộ, đề chi. Hổ nhân hỷ, kế chi viết: \"Kỹ chỉ thử nhĩ!\" Nhân khiêu lương đại hạm, đoạn kỳ hầu, tận kỳ nhục, nãi khứ.","content_vi":"Đất Kiềm xưa nay vốn không có loài lừa. Có người hiếu sự chở một con lừa bằng thuyền đến đấy, nhưng thấy chẳng dùng được việc gì bèn thả rông ở chân núi. Con hổ trong rừng ra nhìn thấy lừa to xác lừng lững, tưởng là giống thú thần linh ghê gớm lắm, bèn nấp kín trong bụi rậm rình mò.\n\nMột hôm, con lừa bỗng cất tiếng kêu tướng lên 'be be', hổ giật thót mình khiếp đảm cắm đầu bỏ chạy vì tưởng nó sắp vồ ăn thịt mình. Nhưng rồi hổ quay lại dò xét nhiều ngày, thấy con lừa chỉ kêu rống chứ chẳng có ngón đòn nào khác, bèn mon men lại gần trêu chọc va chạm.\n\nLừa hết chịu nổi nổi giận giơ vó sau đá túi bụi. Hổ mừng rỡ reo thầm: 'Hóa ra bản lĩnh của mày chỉ có ngần ấy thôi à!' Liền gầm lên một tiếng long trời lở đất, chồm tới cắn đứt họng lừa, ăn hết thịt rồi mới bỏ đi.","loi_ban_vi":"Ở đời có lắm người hình thức to tát phô trương khiến người mới gặp e dè sợ hãi, nhưng bên trong thực tài rỗng tuếch chẳng có gì. Đến khi lộ hết ngón nghề kém cỏi thì bị người ta khinh bỉ và đánh bại dễ dàng.\n\nNgười khôn ngoan không bao giờ phô trương khoác lác để lộ hết ruột gan cho kẻ khác nắm; phải luôn khiêm tốn trau dồi thực tài, giữ kín bản lĩnh mới có thể tự bảo vệ mình trong cuộc đời đầy cạm bẫy.","giai_nghia":["Kiềm lư kỹ cùng: Con lừa đất Kiềm hết ngón nghề, thành ngữ chỉ kẻ bất tài lộ tẩy điểm yếu.","Liễu Tôn Nguyên: Đại văn hào đời Đường, tác giả kiệt tác 'Tam Giới'.","Bàng nhiên đại vật: Vật khổng lồ to xác nhưng hữu dũng vô mưu."],"tags":["Thành ngữ","Liễu Tôn Nguyên","Ngụ ngôn","Thực tài"]},{"id":40,"title_vi":"Vẽ Gì Khó","title_zh_simp":"画鬼最易 / 画犬马难","title_zh_trad":"畫鬼最易 / 畫犬馬難","title_pinyin":"Huà guǐ zuì yì / Huà quǎn mǎ nán","title_han_viet":"HỌA QUỶ TỐI DỊ / HỌA KHUYỂN MÃ NAN","title_en":"Drawing Ghosts Is Easy, Drawing Dogs and Horses Is Hard","source_book":"《韩非子·外储说左上》","source_author":"Hàn Phi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"客有为齐王画者，齐王问曰：“画，孰最难者？”曰：“犬、马最难。”“孰最易者？”曰：“鬼魅最易。夫犬、马，人所知也，旦暮罄于前，不可类之，故难；鬼魅无形者，不罄于前，故易之也。”","content_zh_trad":"客有為齊王畫者，齊王問曰：「畫，孰最難者？」曰：「犬、馬最難。」「孰最易者？」曰：「鬼魅最易。夫犬、馬，人所知也，旦暮罄於前，不可類之，故難；鬼魅無形者，不罄於前，故易之也。」","content_pinyin":"Kè yǒu wèi Qí wáng huà zhě, Qí wáng wèn yuē: “Huà, shú zuì nán zhě?” Yuē: “Quǎn, mǎ zuì nán.” “Shú zuì yì zhě?” Yuē: “Guǐmèi zuì yì. Fū quǎn, mǎ, rén suǒ zhī yě, dàn mù qìng yú qián, bù kě lèi zhī, gù nán; guǐmèi wúxíng zhě, bù qìng yú qián, gù yì zhī yě.”","content_han_viet":"Khách hữu vi Tề vương họa giả, Tề vương vấn viết: \"Họa, thục tối nan giả?\" Viết: \"Khuyển, mã tối nan.\" \"Thục tối dị giả?\" Viết: \"Quỷ mị tối dị. Phu khuyển, mã, nhân sở tri dã, đán mộ khánh ư tiền, bất khả loại chi, cố nan; quỷ mị vô hình giả, bất khánh ư tiền, cố dị chi dã.\"","content_vi":"Có người thợ vẽ nọ đến vẽ tranh cho vua nước Tề.\n\nVua hỏi: 'Vẽ cái gì khó nhất?'\n\nNgười thợ thưa: 'Vẽ chó, vẽ ngựa là khó nhất!'\n\nVua lại hỏi: 'Thế vẽ cái gì dễ nhất?'\n\nNgười thợ thưa: 'Vẽ ma, vẽ quỷ là dễ nhất!'\n\nVua lấy làm lạ hỏi: 'Sao lại như vậy?'\n\nNgười thợ đáp: 'Chó ngựa là loài hữu hình ai ai cũng trông thấy hàng ngày trước mắt, vẽ mà chỉ cần sai lệch một nét là thiên hạ chê cười bẻ bai ngay, cho nên khó vẽ. Còn ma quỷ là giống vô hình vô ảnh, chưa ai trông thấy bao giờ, tùy ý múa bút vẽ tai to mắt lồi thế nào cũng chẳng ai bắt bẻ được, cho nên vẽ ma quỷ là dễ nhất!'","loi_ban_vi":"Bài ngụ ngôn này mang ý nghĩa triết lý sâu sắc vô cùng: việc hữu hình thực tế thì phải làm cho đúng, cho hệt, cực kỳ công phu khó nhọc; còn việc huyền bí hão huyền vẽ vượn vẽ ma thì bịa đặt thế nào thiên hạ cũng dễ tin!\n\nNgười nào bỏ qua những công việc thiết thực đời thường, chỉ chăm chăm làm những điều kỳ dị quái gở để lòe thiên hạ, thì chẳng khác nào người thợ trốn tránh việc khó mà chỉ thích vẽ ma vẽ quỷ. Hãy biết quý trọng những con người mộc mạc trung thực làm tròn bổn phận hàng ngày hơn là phường tục học khoác lác chuyên làm trò ma quái lừa bịp thế gian.","giai_nghia":["Họa quỷ tối dị, họa khuyển mã nan: Vẽ ma dễ nhất, vẽ chó ngựa khó nhất; thành ngữ phê phán thói trốn tránh việc khó thiết thực để theo đuổi trò viển vông hão huyền.","Hữu hình và vô hình: Cái cụ thể có kiểm chứng so với cái trừu tượng mơ hồ.","Hàn Phi Tử: Tác phẩm phê phán sâu sắc những kẻ dùng lời lẽ thần bí lòe đời."],"tags":["Thực tế","Hàn Phi Tử","Triết lý","Chân thực"]},{"id":41,"title_vi":"Không Nhận Cá","title_zh_simp":"公仪休不受鱼","title_zh_trad":"公儀休不受魚","title_pinyin":"Gōngyí Xiū bù shòu yú","title_han_viet":"CÔNG NGHI HƯU BẤT THỤ NGƯ","title_en":"Gongyi Xiu Refuses the Fish","source_book":"《韩非子·外储说右下》","source_author":"Hàn Phi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"公仪休相鲁而嗜鱼，一国尽争买鱼而献之，公仪子不受。其弟谏曰：“夫子嗜鱼而不受者，何也？”对曰：“夫唯嗜鱼，故不受也。夫即受鱼，必有下人之色；有下人之色，将枉于法；枉于法，则免于相。虽嗜鱼，此不必能致我鱼，我又不能自给鱼。即无受鱼而不免于相，虽嗜鱼，我能长自给鱼。”此明夫恃人不如自恃也，明于人之为己者不如己之自为也。","content_zh_trad":"公儀休相魯而嗜魚，一國盡爭買魚而獻之，公儀子不受。其弟諫曰：“夫子嗜魚而不受者，何也？”對曰：“夫唯嗜魚，故不受也。夫即受魚，必有下人之色；有下人之色，將枉於法；枉於法，則免於相。雖嗜魚，此不必能致我魚，我又不能自給魚。即無受魚而不免於相，雖嗜魚，我能長自給魚。”此明夫恃人不如自恃也，明於人之為己者不如己之自為也。","content_pinyin":"Gōngyí Xiū xiàng Lǔ ér shì yú, yī guó jǐn zhēng mǎi yú ér xiàn zhī, Gōngyí zǐ bù shòu. Qí dì jiàn yuē: “Fūzǐ shì yú ér bù shòu zhě, hé yě?” Duì yuē: “Fū wéi shì yú, gù bù shòu yě. Fū jí shòu yú, bì yǒu xià rén zhī sè; yǒu xià rén zhī sè, jiāng wǎng yú fǎ; wǎng yú fǎ, zé miǎn yú xiàng. Suī shì yú, cǐ bù bì néng zhì wǒ yú, wǒ yòu bù néng zì jǐ yú. Jí wú shòu yú ér bù miǎn yú xiàng, suī shì yú, wǒ néng cháng zì jǐ yú.” Cǐ míng fū shì rén bùrú zì shì yě, míng yú rén zhī wèi jǐ zhě bùrú jǐ zhī zì wèi yě.","content_han_viet":"Công Nghi Hưu tướng Lỗ nhi thị ngư, nhất quốc tận tranh mãi ngư nhi hiến chi, Công Nghi tử bất thụ. Kỳ đệ gián viết: “Phu tử thị ngư nhi bất thụ giả, hà dã?” Đối viết: “Phù duy thị ngư, cố bất thụ dã. Phù tức thụ ngư, tất hữu hạ nhân chi sắc; hữu hạ nhân chi sắc, tương uổng vu pháp; uổng vu pháp, tắc miễn vu tướng. Tuy thị ngư, thử bất tất năng trí ngã ngư, ngã hựu bất năng tự cấp ngư. Tức vô thụ ngư nhi bất miễn vu tướng, tuy thị ngư, ngã năng trường tự cấp ngư.” Thử minh phù thị nhân bất như tự thị dã, minh vu nhân chi vi kỷ giả bất như kỷ chi tự vi dã.","tags":["Liêm khiết","Biết lo xa","Hàn Phi Tử","Xử thế"],"content_vi":"Công Nghi Hưu làm tướng nước Lỗ, tính hay thích ăn cá. Một hôm có người đem cá biếu, ông lại không nhận. Em ông lấy làm lạ hỏi: “Anh sở thích ăn cá, người ta đem cá cho, sao anh lại không nhận?”\n\nCông Nghi Hưu nói: Người ta đem cá cho chắc có ý cầu ta việc gì. Nếu ta nhận, tất ta phải giúp việc người. Giúp việc người, lỡ làm trái phép thì đến mất quan. Mà mất quan, thì chẳng nhưng không có cá biếu, mà đến cá mua lấy cúng không có nữa. Cho nên ta không nhận cá, chính là ta muốn được có cá ăn lâu dài mãi mãi đó.\n\nÔng Lão Tử xưa có câu rằng: Để thân mình lại sau, thế mà thân mình đứng trước; gác thân mình ra ngoài, thế mà thân mình vẫn còn”. Thế chẳng phải là bởi mình không có lòng riêng mà được thoả lòng riêng của mình ư?","loi_ban_vi":"Làm quan như Công Nghi Hưu thật là thanh liêm. Dù đến con cá (trong sách không nói rõ cá gì), là vật nhỏ mọn mà ông cũng còn cân nhắc không chịu nhận. Ông hiểu cái lẽ rằng: Người ta vị mình mà chiều mình, chỉ được có 1 thời, sao cho bằng chính mình trọng lấy mình, mới là kế lâu dài mãi mãi.\n\nThiên hạ chưa lo đến mà mình đã lo trước cho thiên hạ; thiên hạ đã vui rồi, mà mình mới vui sau thiên hạ, thế là mình gác thân mình ra ngoài để thân mình lại sau, mà không có điều gì riêng tư vậy. Khi thân mình lại được trước, lại vẫn còn, thì lòng riêng gì của mình mà không thoả. Nếu làm quan mà chỉ chăm chăm hại người để cầu lợi riêng cho mình, thì người còn, bụng chết tự cho là sướng, mà kỳ thật có gì sung sướng đâu?","giai_nghia":["Công Nghi Hưu làm tướng cho Mục Công nước Lỗ đời Chiến Quốc. Ông là người tính khí điềm đạm, công minh giữ phép, không cùng dân tranh lợi."]},{"id":42,"title_vi":"Của Báu","title_zh_simp":"子罕不受玉","title_zh_trad":"子罕不受玉","title_pinyin":"Zǐ Hǎn bù shòu yù","title_han_viet":"TỬ HÃN BẤT THỤ NGỌC","title_en":"Zihan Refuses the Jade","source_book":"《左传·襄公十五年》","source_author":"Tả Khâu Minh","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"宋人或得玉，献诸子罕。子罕弗受。献玉者曰：“以示玉人，玉人以为宝也，故敢献之。”子罕曰：“我以不贪为宝，尔以玉为宝，若以与我，皆丧宝也，不若人有其宝。”稽首而告曰：“小人怀璧，不可以越乡，纳此以请死也。”子罕置诸其里，使玉人为之攻之，富而后使复其所。","content_zh_trad":"宋人或得玉，獻諸子罕。子罕弗受。獻玉者曰：“以示玉人，玉人以為寶也，故敢獻之。”子罕曰：“我以不貪為寶，爾以玉為寶，若以與我，皆喪寶也，不若人有其寶。”稽首而告曰：“小人懷璧，不可以越鄉，納此以請死也。”子罕置諸其里，使玉人為之攻之，富而後使復其所。","content_pinyin":"Sòng rén huò dé yù, xiàn zhū Zǐ Hǎn. Zǐ Hǎn fú shòu. Xiàn yù zhě yuē: \"Yǐ shì yù rén, yù rén yǐ wéi bǎo yě, gù gǎn xiàn zhī.\" Zǐ Hǎn yuē: \"Wǒ yǐ bù tān wéi bǎo, ěr yǐ yù wéi bǎo, ruò yǐ yǔ wǒ, jiē sàng bǎo yě, bù ruò rén yǒu qí bǎo.\" Qǐshǒu ér gào yuē: \"Xiǎo rén huái bì, bù kě yǐ yuè xiāng, nà cǐ yǐ qǐng sǐ yě.\" Zǐ Hǎn zhì zhū qí lǐ, shǐ yù rén wéi zhī gōng zhī, fù ér hòu shǐ fù qí suǒ.","content_han_viet":"Tống nhân hoặc đắc ngọc, hiến chư Tử Hãn. Tử Hãn phất thụ. Hiến ngọc giả viết: “Dĩ thị ngọc nhân, ngọc nhân dĩ vi bảo dã, cố cảm hiến chi.” Tử Hãn viết: “Ngã dĩ bất tham vi bảo, nhĩ dĩ ngọc vi bảo, nhược dĩ dữ ngã, giai táng bảo dã, bất nhược nhân hữu kỳ bảo.” Khể thủ nhi cáo viết: “Tiểu nhân hoài bích, bất khả dĩ việt hương, nạp thử dĩ thỉnh tử dã.” Tử Hãn trí chư kỳ lý, sử ngọc nhân vi chi công chi, phú nhi hậu sử phục kỳ sở.","tags":["Thanh liêm","Trí tuệ","Nhân từ","Tả Truyện"],"content_vi":"Nước Tống có người được hòn ngọc, đem biếu quan Tư thành là Tử Hãn.\n\nTử Hãn không nhận. Người biếu ngọc thưa rằng: \"Ngọc này tôi đã đem cho thợ ngọc xem, quả là một thứ ngọc rất báu, mới dám đem dâng quan lớn, xin quan lớn nhận cho tôi được vui lòng.\"\n\nTử Hãn nói: \"Người cho ngọc là của báu, ta cho tính không tham là của báu. Ngươi đem ngọc cho ta, nếu ta nhận, thì hai bên cùng mất cả của báu.\n\nÂu là ngươi cứ đem về. Ai giữ lấy của báu của người ấy, như thế của báu của hai người đều còn cả, thì những là hơn ư!\"\n\nNgười biếu ngọc, cúi đầu thưa: \"Chúng tôi là thường dân mà lại có ngọc này, chỉ sợ bị trộm cướp mà có khi hại đến thân.\"\n\nTử Hãn thấy thế, lưu người ấy lại, gọi thợ ngọc đến giũa ngọc, bán được tiền rồi, bèn đưa cho người ấy để làm giàu.","loi_ban_vi":"Đã là người, ai cũng có hiếu thượng, cái hiếu thượng ấy tức là của báu của mình. Nhưng hiếu thượng không ai giống ai. Người kiến thức thô bỉ, thì hiếu thượng thô bỉ, người kiến thức cao minh, thì hiếu thượng cao minh. Kẻ dâng ngọc, chỉ biết ngọc là báu, nhưng người không nhận ngọc, lại cho thanh liêm mới là báu. Làm quan mà ai cũng có tính nhất quyết không nhận lễ vật của dân như Tử Hãn, lại có trí hiểu rõ được nguyện vọng của dân như Tử Hãn, có bụng che chở gây dựng cho dân như Tử Hãn nói trong truyện này, thì dân nào chẳng kính, chẳng trọng, chẳng yêu quan như cha mẹ, sợ quan như thần minh!","giai_nghia":["Tư thành: quan coi thành."]},{"id":43,"title_vi":"BIẾT RÕ CHỮ \"NGHĨA\"","title_zh_simp":"华歆知义","title_zh_trad":"華歆知義","title_pinyin":"Huà Xīn zhī yì","title_han_viet":"HOA HÂM TRI NGHĨA","title_en":"Hua Xin Knows Righteousness","source_book":"《世说新语·德行》","source_author":"刘义庆 (Lưu Nghĩa Khánh)","source_period":"Nam-Bắc triều (Lưu Tống)","content_zh_simp":"华歆、王朗俱乘船避难，有一人欲依附，歆辄难之。朗曰：“幸尚宽，何为不可？”后贼追至，王欲舍所携人。歆曰：“本所以疑，正为此耳。既已纳其自托，宁可以急相弃邪？”遂携拯如初。世以此定华、王之优劣。","content_zh_trad":"華歆、王朗俱乘船避難，有一人慾依附，歆輒難之。朗曰：“幸尚寬，何為不可？”後賊追至，王欲捨所攜人。歆曰：“本所以疑，正為此耳。既已納其自託，寧可以急相棄邪？”遂攜拯如初。世以此定華、王之優劣。","content_pinyin":"Huà Xīn, Wáng Lǎng jù chéng chuán bìnàn, yǒu yī rén yù yīfù, Xīn zhé nán zhī. Lǎng yuē: “Xìng shàng kuān, hé wèi bùkě?” Hòu zéi zhuī zhì, Wáng yù shě suǒ xié rén. Xīn yuē: “Běn suǒyǐ yí, zhèng wèi cǐ ěr. Jì yǐ nà qí zì tuō, níng kě yǐ jí xiāng qì xié?” Suì xié zhěng rú chū. Shì yǐ cǐ dìng Huá, Wáng zhī yōuliè.","content_han_viet":"Hoa Hâm, Vương Lãng câu thừa thuyền tị nạn, hữu nhất nhân dục y phụ, Hâm triếp nạn chi. Lãng viết: “Hạnh thượng khoan, hà vị bất khả?” Hậu tặc truy chí, Vương dục xả sở huề nhân. Hâm viết: “Bổn sở dĩ nghi, chính vị thử nhĩ. Ký dĩ nạp kỳ tự thác, ninh khả dĩ cấp tương khí tà?” Toại huề chỉnh như sơ. Thế dĩ thử định Hoa, Vương chi ưu liệt.","content_vi":"Hoa Hâm chạy loạn, cùng đi với một bọn sáu bảy người. Giữa đường gặp một người lại cũng chạy loạn, đến kêu nài, xin nhập bọn. Chúng lấy làm ái ngại, thuận cho. Một mình Hoa Hâm nói: \"Không nên. Ðang bước nguy hiểm; sinh, tử, họa, phúc có nhau, ta đi bấy nhiêu người cũng như một người vậy. Bây giờ, vô cớ nhận một người lạ, lỡ khi xảy ra việc gì, thì có bỏ được người ta không?\"\n\nChúng bất nhẫn, cố nói với Hoa Hâm cho người kia cùng đi. Hoa Hâm bằng lòng.\n\nNgười kia đi được một quãng đường, chẳng may sa chân ngã xuống giếng.\n\nCả bọn muốn bỏ mặc, để đi cho rảnh thân. Một mình Hoa Hâm nói: \"Không nên. Người ta cùng đi với mình là người bọn mình. Người ta gặp sự chẳng may như vậy, mà mình bỏ người ta sao cho đành.\"\n\nNói rồi, bảo bấy nhiêu người cùng ở lại vớt người kia lên. Sau cứu mãi không được, Hoa Hâm lại bảo phải ở lại mai táng chu tất rồi mới đi.","loi_ban_vi":"Vô cớ cho một người lạ nhập bọn, nghĩa cũng không nên, một là e xẩy ra sự gì thì hại đến thân mình, hai là sợ không được thủy chung với người ta - Ðã nhận người ta đi với mình một bọn, giữa đường người ta gặp sự chẳng may mà bỏ mặc người ta, nghĩa lại càng không nên lắm, vì như thế là bạc ác bất nhân, chỉ biết nhau trong lúc vô sự, đến khi nguy hiểm rồi lại bỏ nhau.\n\nBiết được cái đạo không nên nhận và cái đạo đã nhận như Hoa Hâm đây mới thực là người hiểu rõ chữ \"Nghĩa\" tức là hiểu việc nên làm thế nào mới là phải vậy.","giai_nghia":["Hoa Hâm: Người cuối đời nhà Ðông Hán, học giỏi, làm quan đến chức Thượng thư lệnh.","Chúng: Nhiều, đây chỉ bọn người cùng đi với Hoa Hâm.","Bất nhẫn: Không nỡ, không đành để như thế.","华歆 (Hoa Hâm): Nhân vật lịch sử cuối Đông Hán, đầu Tam Quốc, nổi tiếng thanh liêm, chính trực.","王朗 (Vương Lãng): Nhân vật lịch sử cuối Đông Hán, đầu Tam Quốc, từng làm quan cho Tào Ngụy.","避难 (tị nạn): Tránh loạn, tránh tai họa.","依附 (y phụ): Nương nhờ, xin đi theo.","自托 (tự thác): Tự gửi gắm, tự nhờ cậy."],"tags":["Nghĩa","Xử thế","Trách nhiệm","Đạo đức"]},{"id":44,"title_vi":"TRI KỶ","title_zh_simp":"管鲍之交","title_zh_trad":"管鮑之交","title_pinyin":"Guǎn Bào zhī jiāo","title_han_viet":"QUẢN BÃO CHI GIAO","title_en":"The Friendship of Guan and Bao","source_book":"《说苑·复恩》","source_author":"刘向 (Lưu Hướng)","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"鲍叔死，管仲举上衽而哭之，泣下如雨。从者曰：“非君父子也，此亦有说乎？”管仲曰：“非夫子所知也。吾尝与鲍子负贩于南阳，吾三辱于市，鲍子不以我为怯，知我欲有所明也。鲍子尝与我临财分货，吾自取多者三，鲍子不以我为贪，知我贫也。鲍子尝与我谋事，而有大穷，鲍子不以我为愚，知时有利不利也。鲍子尝与我临难，三辱于君，鲍子不以我为无耻，知我不羞小节而耻功名不显于天下也。生我者父母，知我者鲍子也。士为知己者死，而况为之哀乎！”","content_zh_trad":"鮑叔死，管仲舉上衽而哭之，泣下如雨。從者曰：“非君父子也，此亦有說乎？”管仲曰：“非夫子所知也。吾嘗與鮑子負販於南陽，吾三辱於市，鮑子不以我為怯，知我欲有所明也。鮑子嘗與我臨財分貨，吾自取多者三，鮑子不以我為貪，知我貧也。鮑子嘗與我謀事，而有大窮，鮑子不以我為愚，知時有利不利也。鮑子嘗與我臨難，三辱於君，鮑子不以我為無恥，知我不羞小節而恥功名不顯於天下也。生我者父母，知我者鮑子也。士為知己者死，而況為之哀乎！”","content_pinyin":"Bào Shū sǐ, Guǎn Zhòng jǔ shàng rèn ér kū zhī, qì xià rú yǔ. Cóng zhě yuē: “Fēi jūn fùzǐ yě, cǐ yì yǒu shuō hū?” Guǎn Zhòng yuē: “Fēi fūzǐ suǒ zhī yě. Wú cháng yǔ Bào zǐ fù fàn yú Nányáng, wú sān rǔ yú shì, Bào zǐ bù yǐ wǒ wèi qiè, zhī wǒ yù yǒu suǒ míng yě. Bào zǐ cháng yǔ wǒ lín cái fēn huò, wú zì qǔ duō zhě sān, Bào zǐ bù yǐ wǒ wèi tān, zhī wǒ pín yě. Bào zǐ cháng yǔ wǒ móu shì, ér yǒu dà qióng, Bào zǐ bù yǐ wǒ wèi yú, zhī shí yǒu lì bù lì yě. Bào zǐ cháng yǔ wǒ lín nàn, sān rǔ yú jūn, Bào zǐ bù yǐ wǒ wèi wúchǐ, zhī wǒ bù xiū xiǎojié ér chǐ gōngmíng bù xiǎn yú tiānxià yě. Shēng wǒ zhě fùmǔ, zhī wǒ zhě Bào zǐ yě. Shì wèi zhījǐ zhě sǐ, ér kuàng wèi zhī āi hū!”","content_han_viet":"Bão Thúc tử, Quản Trọng cử thượng nhẫm nhi khốc chi, khấp hạ như vũ. Tòng giả viết: “Phi quân phụ tử dã, thử diệc hữu thuyết hồ?” Quản Trọng viết: “Phi phu tử sở tri dã. Ngô thường dữ Bão tử phụ phạn vu Nam Dương, ngô tam nhục vu thị, Bão tử bất dĩ ngã vi khiếp, tri ngã dục hữu sở minh dã. Bão tử thường dữ ngã lâm tài phân hóa, ngô tự thủ đa giả tam, Bão tử bất dĩ ngã vi tham, tri ngã bần dã. Bão tử thường dữ ngã mưu sự, nhi hữu đại cùng, Bão tử bất dĩ ngã vi ngu, tri thời hữu lợi bất lợi dã. Bão tử thường dữ ngã lâm nạn, tam nhục vu quân, Bão tử bất dĩ ngã vi vô sỉ, tri ngã bất tu tiểu tiết nhi sỉ công danh bất hiển vu thiên hạ dã. Sinh ngã giả phụ mẫu, tri ngã giả Bão tử dã. Sĩ vi tri kỷ giả tử, nhi huống vi chi ai hồ!”","content_vi":"Bảo Thúc chết, Quản Trọng thương tiếc, khóc như mưa, ướt đầm cả vạt áo.\n\nCó người hỏi: \"Ông với Bảo Thúc không phải là họ hàng thân thích gì, mà sao ông thương khóc quá như vậy?\"\n\nQuản Trọng nói: \"Ngươi không rõ, để ta nói cho mà nghe. Ta lúc nhỏ khốn khổ, thường buôn chung với Bảo Thúc, lúc chia lãi, bao giờ ta cũng lấy phần hơn, mà Bảo Thúc không cho ta là tham, biết ta gặp cảnh quẫn bách bất đắc dĩ phải lấy thế. Ta ở chỗ chợ búa thường bị lắm kẻ nạt dọa, Bảo Thúc không cho ta là hèn nhát, biết ta có lượng bao dung. Ta bàn việc với Bảo Thúc, nhiều khi việc hỏng, Bảo Thúc không cho ta là ngu, biết có lúc may, lúc không may, cho nên công việc thành hay bại. Ta ba lần ra làm quan, bao lần bị bãi, Bảo Thúc không cho ta là bất tiếu biết ta chưa gặp thời, chưa tìm được vua giỏi. Ta ra trận ba lần, đánh thua cả ba, Bảo Thúc không cho ta là bất tài, biết ta còn có mẹ già phải phụng dưỡng. Ta nhẫn nhục thờ vua Hoàn Công, Bảo Thúc không cho ta là vô sỉ, biết ta không giữ tiểu tiết, có chí làm ích lợi cho cả thiên hạ... Sinh ra ta là cha mẹ, biết ta là Bảo Thúc. Mà đối với người biết mình, mình đem cả tính mệnh ra hiến còn chưa cho là quá, huống chi thương khóc thế này đã thấm vào đâu!\"","loi_ban_vi":"Khó thật! Ở đời mình giao thiệp với nhiều người, bè bạn tưởng vô số, nhưng hồ dễ đã được mấy người thực gọi là tri kỷ. Thế nào là tri kỷ? Tri kỷ là người biết mình, nghĩa là đồng thanh, đồng khí, đồng chí, đồng tâm với mình, chơi với mình rất thân thiết, bao bọc che chở cho mình, lúc sống cùng hưởng, họa cùng đau, lúc chết, tưởng cho chết với nhau cũng không hối. Quí thật!\n\nNgười tri kỷ! cho nên cổ nhân có câu nói: \"Ðắc nhất tri kỷ, khả dĩ bất hận\" nghĩa là ở đời có được một người tri kỷ cùng không còn ân hận gì nữa; lúc sống, có được một người biết mình, thì mình chết cũng không lấy làm uổng đời.","giai_nghia":["Bảo Thúc: Tức Bảo Thúc Nha thường còn gọi là Bảo Tứ, người giỏi nước Tề, tiến Quản Trọng cho Hoàn Công dùng.","Quản Trọng: Tên là Di Ngô, người nước Tề, làm tướng giúp Hoàn Công giỏi có tiếng.","Bất tiếu: Người không ra gì.","管仲 (Quản Trọng): Chính trị gia, nhà cải cách nổi tiếng thời Xuân Thu, tướng quốc nước Tề.","鲍叔牙 (Bão Thúc Nha): Bạn thân của Quản Trọng, người hiểu và tiến cử Quản Trọng cho Tề Hoàn Công.","南阳 (Nam Dương): Tên địa danh thời cổ.","上衽 (thượng nhẫm): Vạt áo trước.","知己 (tri kỷ): Người hiểu mình."],"tags":["Tri kỷ","Tình bạn","Thấu hiểu","Trung thành"]},{"id":45,"title_vi":"CẢM TÌNH","title_zh_simp":"燕人返国","title_zh_trad":"燕人返國","title_pinyin":"Yān rén fǎn guó","title_han_viet":"YÊN NHÂN PHẢN QUỐC","title_en":"The Man of Yan Returns Home","source_book":"《列子·周穆王》","source_author":"列御寇 (Liệt Ngự Khấu)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"燕人生于燕，长于楚，及老而还本国。过晋国，同行者诳之，指城曰：“此燕国之城。”其人愀然变容。指社曰：“此若里之社。”乃喟然而叹。指舍曰：“此若先人之庐。”乃涓然而泣。指垅曰：“此若先人之冢。”其人哭不自禁。同行者哑然大笑，曰：“予昔绐若，此晋国耳。”其人大惭。及至燕，真见燕国之城社，真见先人之庐冢，悲心更微。","content_zh_trad":"燕人生於燕，長於楚，及老而還本國。過晉國，同行者誑之，指城曰：“此燕國之城。”其人愀然變容。指社曰：“此若里之社。”乃喟然而嘆。指舍曰：“此若先人之廬。”乃涓然而泣。指壟曰：“此若先人之冢。”其人哭不自禁。同行者啞然大笑，曰：“予昔紿若，此晉國耳。”其人大慚。及至燕，真見燕國之城社，真見先人之廬冢，悲心更微。","content_pinyin":"Yān rén shēng yú Yān, cháng yú Chǔ, jí lǎo ér huán běnguó. Guò Jìn guó, tóngxíng zhě kuáng zhī, zhǐ chéng yuē: “Cǐ Yān guó zhī chéng.” Qí rén qiǎorán biàn róng. Zhǐ shè yuē: “Cǐ ruò lǐ zhī shè.” Nǎi kuìrán ér tàn. Zhǐ shè yuē: “Cǐ ruò xiānrén zhī lú.” Nǎi juānrán ér qì. Zhǐ lǒng yuē: “Cǐ ruò xiānrén zhī zhǒng.” Qí rén kū bùzìjīn. Tóngxíng zhě yǎrán dà xiào, yuē: “Yǔ xī dài ruò, cǐ Jìn guó ěr.” Qí rén dà cán. Jí zhì Yān, zhēn jiàn Yān guó zhī chéng shè, zhēn jiàn xiānrén zhī lú zhǒng, bēi xīn gèng wēi.","content_han_viet":"Yên nhân sinh vu Yên, trưởng vu Sở, cập lão nhi hoàn bản quốc. Quá Tấn quốc, đồng hành giả cuống chi, chỉ thành viết: “Thử Yên quốc chi thành.” Kỳ nhân thiểu nhiên biến dung. Chỉ xã viết: “Thử nhược lý chi xã.” Nãi vị nhiên nhi thán. Chỉ xá viết: “Thử nhược tiên nhân chi lư.” Nãi quyên nhiên nhi khấp. Chỉ lũng viết: “Thử nhược tiên nhân chi trủng.” Kỳ nhân khốc bất tự cấm. Đồng hành giả á nhiên đại tiếu, viết: “Dư tích đãi nhược, thử Tấn quốc nhĩ.” Kỳ nhân đại tàm. Cập chí Yên, chân kiến Yên quốc chi thành xã, chân kiến tiên nhân chi lư trủng, bi tâm cánh vi.","content_vi":"Có một người nước Yên lúc sinh, thì sinh ở nước Yên; lúc lớn lên, thì sang ở nước Sở; lúc già lại trở về cố quốc. Khi đi ngang qua nước Tấn (gần nước Yên), bạn cùng đi đường, chỉ vào cái thành mà nói dối anh ta: \"Ðây là thành nước Yên\". Anh ta buồn rầu, khác hẳn sắc mặt. Chỉ vào nền xã, nói: \"Ðây là nền xã làng anh\". Anh ta ngậm ngùi than thở. Chỉ vào cái nhà, nói: \"Ðâu là nhà của ông cha anh\". Anh ta rũ rượi rơm rớm nước mắt. Chỉ vào cái gò, nói:\n\n\"Ðây là mồ mả ông cha anh\". Anh ta òa lên khóc. Bọn cùng đi, ai nấy phì cười, nói: \"Chúng tôi nói đùa đấy. Ðây mới là nước Tấn, chưa phải là nước Yên\". Anh ta nghe nói lấy làm bẽn lẽn. Kịp khi về đến nước Yên, anh ta trông thấy thật là thành, là xã nước Yên, thật là nhà cử mồ mả của ông cha, thì lòng cảm thương lại hờ hững không còn được như trước nữa.","loi_ban_vi":"Thường khi người ta, ai cũng sẵn mối cảm tình, khi gặp thời cảnh xúc động đến thì mối cảm tình ấy tất chứa chan, đầy dẫy hiện ra ngoài. Tuy vậy, mối cảm tình đã dùng lầm, thì sau nầy không còn được như trước. Một người đã đem bụng trung thành thờ kẻ vô đạo, một người đã để lòng ân ái thương gái bất trinh, dù về sau, gặp được bậc anh quân hay người thục nữ, thì mối cảm tình cũng không còn được đằm thắm như xưa. Chẳng khác nào như người nước Yên nầy, đã đem hết nước mắt khóc chỗ giả dối mà không biết, đến khi gặp sự thực, thì lại hình như cạn hết nước mắt rồi. Cho nên đối với tính tình, người ta có biết, lấy học thuật mà di dưỡng, lấy lễ nghĩa mà tiết chế, thì tính tình dùng mới chính đáng và thuần túy được. Xưa nay thánh hiền hào kiệt đều là người biết lý hội tính tình cả.","giai_nghia":["Yên: Một nước mạnh trong bảy nước thời Chiến Quốc, tức là Phụng Thiên, Trực Lệ và một phần phía bắc nước Triều Tiên (Cao Ly bây giờ).","Sở: Một nước lớn thời Xuân Thu ở vào vùng Hồ Bắc, Hồ Nam bây giờ.","Tấn: Một nước đời Xuân Thu, đến đời Chiến Quốc bị họ Hàn, họ Triệu, họ Ngụy lấy mất và chia làm ba nước, ở vào tỉnh Sơn Tây và một phần Trực Lệ bây giờ.","燕 (Yên): Một nước chư hầu thời Xuân Thu Chiến Quốc, nay thuộc vùng Bắc Kinh, Hà Bắc.","晋 (Tấn): Một nước chư hầu thời Xuân Thu, nay thuộc vùng Sơn Tây.","社 (xã): Thần Xã, nơi thờ thần đất của một làng hoặc một nước.","绐 (đãi): Lừa dối.","垅 (lũng): Mồ mả, gò đất."],"tags":["Cảm xúc","Tâm lý","Chân thật","Giả dối"]},{"id":46,"title_vi":"VÌ NGHĨA CÔNG, QUÊN THÙ RIÊNG","title_zh_simp":"郭李释怨","title_zh_trad":"郭李釋怨","title_pinyin":"Guō Lǐ shì yuàn","title_han_viet":"QUÁCH LÝ THÍCH OÁN","title_en":"Guo and Li Resolve Their Grudge","source_book":"《资治通鉴·唐纪》","source_author":"司马光 (Tư Mã Quang)","source_period":"Bắc Tống","content_zh_simp":"郭子仪、李光弼皆为安思顺牙将，不相能，虽同席不交一言。后子仪代思顺为将，光弼恐见诛，乃跪请曰：“死所甘心，但乞贷妻子。”子仪趋下，持抱上堂，流涕曰：“今国乱主危，非公不能东讨，岂怀私忿耶？”因泣下，以忠义相勉，遂荐为河东节度使。自是二人同心，共平大难。","content_zh_trad":"郭子儀、李光弼皆為安思順牙將，不相能，雖同席不交一言。後子儀代思順為將，光弼恐見誅，乃跪請曰：“死所甘心，但乞貸妻子。”子儀趨下，持抱上堂，流涕曰：“今國亂主危，非公不能東討，豈懷私忿耶？”因泣下，以忠義相勉，遂薦為河東節度使。自是二人同心，共平大難。","content_pinyin":"Guō Zǐyí, Lǐ Guāngbì jiē wèi Ān Sīshùn yájiàng, bù xiāng néng, suī tóng xí bù jiāo yī yán. Hòu Zǐyí dài Sīshùn wèi jiàng, Guāngbì kǒng jiàn zhū, nǎi guì qǐng yuē: “Sǐ suǒ gānxīn, dàn qǐ dài qīzǐ.” Zǐyí qū xià, chí bào shàng táng, liútì yuē: “Jīn guó luàn zhǔ wēi, fēi gōng bùnéng dōng tǎo, qǐ huái sī fèn yé?” Yīn qì xià, yǐ zhōngyì xiāng miǎn, suì jiàn wèi Hédōng jiédùshǐ. Zì shì èr rén tóngxīn, gòng píng dà nàn.","content_han_viet":"Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật giai vi An Tư Thuận nha tướng, bất tương năng, tuy đồng tịch bất giao nhất ngôn. Hậu Tử Nghi đại Tư Thuận vi tướng, Quang Bật khủng kiến tru, nãi quỵ thỉnh viết: “Tử sở cam tâm, đãn khất thải thê tử.” Tử Nghi xu hạ, trì bão thượng đường, lưu thế viết: “Kim quốc loạn chủ nguy, phi công bất năng đông thảo, khởi hoài tư phẫn da?” Nhân khấp hạ, dĩ trung nghĩa tương miễn, toại tiến vi Hà Đông tiết độ sứ. Tự thị nhị nhân đồng tâm, cộng bình đại nạn.","content_vi":"Ðời nhà Ðường, Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật cùng làm phó tướng của An Tử Thuận. Tính hai người vốn không ưa nhau; nhiều khi, tuy cùng đi với nhau một xe, ngồi với nhau một tiệc, mà vẫn như cừu địch, không ai đàm đạo với ai cả.\n\nSau Tử Nghi được lên làm tướng thay Tử Thuận, Quang Bật sợ Tử Nghi hại mình, quả cảm đến nói rằng: \"Phần tôi chết cũng cam tâm, nhưng xin rộng lượng đừng hại đến vợ con tôi là kẻ vô tội.\"\n\nTử Nghi thấy nói chạy ngay lại, cầm tay Quang Bật thưa rằng: \"Tôi đâu dám đem lòng oán hận riêng mà nỡ hại ông. Hiện nay trong nước loạn lạc, vua tôi lo và nhục, không ông thì không ai gánh vác nổi việc thiên hạ.\"\n\nNói xong nước mắt ràn rụa, rồi lại lấy những điều trung nghĩa khuyên răn, và lập tức cất Quang Bật lên làm chức Tiết độ sứ.\n\nTừ đó hai người tuyệt nhiên không chút nào ghen ghét, ngờ vực nhau, chỉ cùng nhau một lòng đánh giặc, yêu dân, giúp vua trị nước.","loi_ban_vi":"Thù riêng cá nhân là việc nhỏ mọn, nghĩa công đối với cả nước là việc rất trọng. Biết quên thù riêng để làm nghĩa công như Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật, thực là đáng khen vậy. Nghĩ đến thân, đến nhà trước, đến quốc gia sau cũng là nghĩa, song nghĩa hẹp mà gọi là tư. Nghĩ đến quốc gia trước, đến thân, đến nhà sau cùng là nghĩa song nghĩa rộng mà gọi là công. Quốc gia hay, hay dở, một kẻ bình dân cũng có trách nhiệm, huống chi là người gánh vác được việc quốc gia như Tử Nghi và Quang Bật. Ôi! nước là cái thành để giữ thân, giữ nhà không biết trọng nước tức là khinh thân, khinh nhà vậy.\n\nTiếc thay cho những kẻ chức trọng, quyền cao, đối với thân, với nhà, thì việc nhỏ mọn cũng lấy làm lo lắng quan tâm, mà đối quốc gia thì việc dù to lớn đến đâu cũng xem thường, xem khinh, chỉ thù hằn nhau, khuynh loát nhau, không biết đồng tâm hiệp lực lo liệu việc dân việc nước, thật là lầm to vậy.","giai_nghia":["Ðường: Một nhà thống trị nước Tàu 618- 901 sau CN.","郭子仪 (Quách Tử Nghi): Danh tướng nhà Đường, có công lớn dẹp loạn An Sử.","李光弼 (Lý Quang Bật): Danh tướng nhà Đường, cùng Quách Tử Nghi dẹp loạn An Sử.","安思顺 (An Tư Thuận): Tướng nhà Đường, người dân tộc Hồ.","牙将 (nha tướng): Chức võ quan thân tín dưới quyền một đại tướng.","节度使 (tiết độ sứ): Chức quan cai quản một vùng lớn thời nhà Đường."],"tags":["Nghĩa công","Quên thù riêng","Lòng yêu nước","Hợp tác"]},{"id":47,"title_vi":"DUNG NGƯỜI ĐƯỢC BÁO","title_zh_simp":"绝缨报恩","title_zh_trad":"絕纓報恩","title_pinyin":"Jué yīng bào ēn","title_han_viet":"TUYỆT ANH BÁO ÂN","title_en":"The Broken Hat String and the Grateful Officer","source_book":"《史记·楚世家》","source_author":"Tư Mã Thiên","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"楚庄王赐群臣酒。日暮酒酣，灯烛灭。乃有人引美人之衣者，美人援绝其冠缨，告王曰：“今者烛灭，有引妾衣者，妾援得其冠缨持之。趣火来上，视绝缨者。”王曰：“赐人酒，使醉失礼，奈何欲显妇人之节而辱士乎？”乃命左右曰：“今日与寡人饮，不绝冠缨者不欢。”群臣百有余人皆绝去其冠缨而上火，卒尽欢而罢。居二年，晋与楚战，有一臣常在前，五合五奋首却敌，卒得胜之。庄王怪而问曰：“寡人德薄，又未尝异子，子何故出死不疑如是？”对曰：“臣当死。往者醉失礼，王隐忍不暴而诛也。臣终不敢以荫蔽之德而不显报王也。常愿肝脑涂地，用颈血湔敌久矣。臣乃夜绝缨者也。”遂败晋军，楚得以强。","content_zh_trad":"楚莊王賜群臣酒。日暮酒酣，燈燭滅。乃有人引美人之衣者，美人援絕其冠纓，告王曰：“今者燭滅，有引妾衣者，妾援得其冠纓持之。趣火來上，視絕纓者。”王曰：“賜人酒，使醉失禮，奈何欲顯婦人之節而辱士乎？”乃命左右曰：“今日與寡人飲，不絕冠纓者不歡。”群臣百有餘人皆絕去其冠纓而上火，卒盡歡而罷。居二年，晉與楚戰，有一臣常在前，五合五奮首卻敵，卒得勝之。莊王怪而問曰：“寡人德薄，又未嘗異子，子何故出死不疑如是？”對曰：“臣當死。往者醉失禮，王隱忍不暴而誅也。臣終不敢以蔭蔽之德而不顯報王也。常願肝腦塗地，用頸血湔敵久矣。臣乃夜絕纓者也。”遂敗晉軍，楚得以強。","content_pinyin":"Chǔ Zhuāngwáng cì qúnchén jiǔ. Rìmù jiǔ hān, dēngzhú miè. Nǎi yǒurén yǐn měirén zhī yī zhě, měirén yuán jué qí guān yīng, gào wáng yuē: “Jīn zhě zhú miè, yǒu yǐn qiè yī zhě, qiè yuán dé qí guān yīng chí zhī. Cù huǒ lái shàng, shì jué yīng zhě.” Wáng yuē: “Cì rén jiǔ, shǐ zuì shīlǐ, nàihé yù xiǎn fùrén zhī jié ér rǔ shì hū?” Nǎi mìng zuǒyòu yuē: “Jīnrì yǔ guǎrén yǐn, bù jué guān yīng zhě bù huān.” Qúnchén bǎi yǒu yú rén jiē jué qù qí guān yīng ér shàng huǒ, zú jìn huān ér bà. Jū èr nián, Jìn yǔ Chǔ zhàn, yǒu yī chén cháng zài qián, wǔ hé wǔ fèn shǒu què dí, zú dé shèng zhī. Zhuāngwáng guài ér wèn yuē: “Guǎrén dé bó, yòu wèicháng yì zǐ, zǐ hégù chū sǐ bù yí rú shì?” Duì yuē: “Chén dāng sǐ. Wǎng zhě zuì shīlǐ, wáng yǐnrěn bù bào ér zhū yě. Chén zhōng bù gǎn yǐ yīnbì zhī dé ér bù xiǎn bào wáng yě. Cháng yuàn gānnǎo tú dì, yòng jǐngxuè jiān dí jiǔ yǐ. Chén nǎi yè jué yīng zhě yě.” Suì bài Jìn jūn, Chǔ déyǐ qiáng.","content_han_viet":"Sở Trang Vương tứ quần thần tửu. Nhật mộ tửu hàm, đăng chúc diệt. Nãi hữu nhân dẫn mỹ nhân chi y giả, mỹ nhân viên tuyệt kỳ quan anh, cáo vương viết: “Kim giả chúc diệt, hữu dẫn thiếp y giả, thiếp viên đắc kỳ quan anh trì chi. Xu hỏa lai thượng, thị tuyệt anh giả.” Vương viết: “Tứ nhân tửu, sử túy thất lễ, nại hà dục hiển phụ nhân chi tiết nhi nhục sĩ hồ?” Nãi mệnh tả hữu viết: “Kim nhật dữ quả nhân ẩm, bất tuyệt quan anh giả bất hoan.” Quần thần bách hữu dư nhân giai tuyệt khứ kỳ quan anh nhi thượng hỏa, tốt tận hoan nhi bãi. Cư nhị niên, Tấn dữ Sở chiến, hữu nhất thần thường tại tiền, ngũ hợp ngũ phấn thủ khước địch, tốt đắc thắng chi. Trang Vương quái nhi vấn viết: “Quả nhân đức bạc, hựu vị thường dị tử, tử hà cố xuất tử bất nghi như thị?” Đối viết: “Thần đương tử. Vãng giả túy thất lễ, vương ẩn nhẫn bất bạo nhi tru chi dã. Thần chung bất cảm dĩ âm tế chi đức nhi bất hiển báo vương dã. Thường nguyện can não đồ địa, dụng cảnh huyết tiên địch cửu hĩ. Thần nãi dạ tuyệt anh giả dã.” Toại bại Tấn quân, Sở đắc dĩ cường.","content_vi":"Vua Trang Vương nước Sở cho các quan uống rượu. Trời đã tối, đang lúc rượu say, đèn nến bỗng gió tắt cả. Trong lúc ấy, có một viên quan thừa cơ kéo áo cung nữ. Người cung nữ nắm lấy, giật đứt giải mũ, rồi tâu với vua rằng: \"Có kẻ kéo áo ghẹo thiếp. Thiếp giật được giải mũ. Xin cho thắp đèn ngay để khám xem ai đứt giải mũ, thì chính là kẻ ghẹo thiếp...\" Vua gạt đi nói: \"Thôi! không làm gì! cho người ta uống rượu, để người ta say, quên cả lễ phép, lại nỡ nào vì câu chuyện đàn bà mà làm sỉ nhục người ta!\"\n\nRồi lập tức ra lệnh rằng: \"Ai uống rượu với quả nhân hôm nay mà không say đến bứt đứt giải mũ là chưa được vui\".\n\nCác quan theo lệnh, đều dứt giải mũ cả. Nên suốt tiệc hôm ấy, được vui vầy ổn thỏa.\n\nHai năm sau nước Sở đánh nhau với nước Tấn. Ðánh luôn năm trận, mà trận nào cũng thấy một viên quan võ, liều sống, liều chết xông ra trước và đánh rất hăng, làm cho quân Tấn phải lùi. Vì thế mà quân Sở được. Trang Vương lấy làm lạ cho đòi viên quan ấy lại hỏi: \"Quả nhân đãi nhà người cũng như mọi người khác, cớ sao nhà ngươi lại hết lòng giúp quả nhân khác người như vậy?\"\n\nViên quan thưa rằng: \"Thần rắp tâm muốn đem tính mệnh để hiến nhà vua đã lâu. Mãi đến bây giờ mới gặp dịp báo đền nghĩa xưa, thực là may cho thần lắm... Thần là Tưởng Hùng, chính là người trước bị đứt giải mũ mà nhà vua không nỡ làm tội đấy\".\n\nÐào Ngột (Sở Sử)","loi_ban_vi":"Ông vua không làm tội người công thần ghẹo cung nữ thực là có độ lượng, bao dung được lỗi của người. Người ghẹo cung nữ không quên cái ơn đã chịu, tìm cách để báo đáp, thực là có nghĩa, tỏ được cái bụng trung thành với người gia ơn. Có vua ấy tất có tôi ấy, vua tôi như thế thì nước đời nào mất được.","giai_nghia":["Dung người được báo: Rộng lượng tha lỗi cho người, được người tìm cách báo đền.","Quả nhân: Tiếng vua tự xưng với thần hạ và lấy ý khiêm tốn là người ít đức.","Tấn: Một nước đời Xuân Thu, đến đời Chiến Quốc bị họ Hàn, họ Triệu, họ Ngụy lấy mất và chia làm ba nước, ở vào tỉnh Sơn Tây và một phần Trực Lệ bây giờ.","绝缨 (Tuyệt Anh): Giải mũ, chỉ sự việc quan uống rượu say kéo áo cung nữ bị giật đứt giải mũ.","楚庄王 (Sở Trang Vương): Vua nước Sở thời Xuân Thu, một trong Ngũ Bá.","五合五奋 (Ngũ hợp ngũ phấn): Năm lần giao chiến, năm lần hăng hái xông lên.","肝脑涂地 (Can não đồ địa): Gan óc rơi xuống đất, ý nói liều chết báo đáp."],"tags":["Độ lượng","Báo ân","Khoan dung","Trung nghĩa"]},{"id":48,"title_vi":"NÓI THÍ DỤ","title_zh_simp":"惠子善譬","title_zh_trad":"惠子善譬","title_pinyin":"Huìzǐ shàn pì","title_han_viet":"HUỆ TỬ THIỆN THÍ","title_en":"The Master of Analogy","source_book":"《说苑·善说》","source_author":"Lã Bất Vi","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"客谓梁王曰：“惠子之言事也善譬。王使无譬，则不能言矣。”王曰：“诺。”明日见，谓惠子曰：“愿先生言事则直言耳，无譬也。”惠子曰：“今有人于此而不知弹者，曰：‘弹之状何若？’应之曰：‘弹之状如弹。’则谕乎？”王曰：“未谕也。”“于是更应曰：‘弹之状如弓，而以竹为弦。’则知乎？”王曰：“可知矣。”惠子曰：“夫说者，固以其所知，谕其所不知，而使人知之。今王曰‘无譬’，则不可矣。”王曰：“善。”","content_zh_trad":"客謂梁王曰：“惠子之言事也善譬。王使無譬，則不能言矣。”王曰：“諾。”明日見，謂惠子曰：“願先生言事則直言耳，無譬也。”惠子曰：“今有人於此而不知彈者，曰：‘彈之狀何若？’應之曰：‘彈之狀如彈。’則諭乎？”王曰：“未諭也。”“於是更應曰：‘彈之狀如弓，而以竹為弦。’則知乎？”王曰：“可知矣。”惠子曰：“夫說者，固以其所知，諭其所不知，而使人知之。今王曰‘無譬’，則不可矣。”王曰：“善。”","content_pinyin":"Kè wèi Liáng wáng yuē: “Huìzǐ zhī yán shì yě shàn pì. Wáng shǐ wú pì, zé bùnéng yán yǐ.” Wáng yuē: “Nuò.” Míngrì jiàn, wèi Huìzǐ yuē: “Yuàn xiānshēng yán shì zé zhí yán ěr, wú pì yě.” Huìzǐ yuē: “Jīn yǒu rén yú cǐ ér bùzhī dàn zhě, yuē: ‘Dàn zhī zhuàng hé ruò?’ Yìng zhī yuē: ‘Dàn zhī zhuàng rú dàn.’ Zé yù hū?” Wáng yuē: “Wèi yù yě.” “Yúshì gèng yìng zhī yuē: ‘Dàn zhī zhuàng rú gōng, ér yǐ zhú wèi xián.’ Zé zhī hū?” Wáng yuē: “Kě zhī yǐ.” Huìzǐ yuē: “Fú shuì zhě, gù yǐ qí suǒzhī, yù qí suǒ bùzhī, ér shǐ rén zhī zhī. Jīn wáng yuē ‘wú pì’, zé bùkě yǐ.” Wáng yuē: “Shàn.”","content_han_viet":"Khách vị Lương Vương viết: “Huệ Tử chi ngôn sự dã thiện thí. Vương sử vô thí, tắc bất năng ngôn hĩ.” Vương viết: “Nặc.” Minh nhật kiến, vị Huệ Tử viết: “Nguyện tiên sinh ngôn sự tắc trực ngôn nhĩ, vô thí dã.” Huệ Tử viết: “Kim hữu nhân vu thử nhi bất tri đạn giả, viết: ‘Đạn chi trạng hà nhược?’ Ứng chi viết: ‘Đạn chi trạng như đạn.’ Tắc dụ hồ?” Vương viết: “Vị dụ dã.” “Vu thị cánh ứng viết: ‘Đạn chi trạng như cung, nhi dĩ trúc vi huyền.’ Tắc tri hồ?” Vương viết: “Khả tri hĩ.” Huệ Tử viết: “Phu thuyết giả, cố dĩ kỳ sở tri, dụ kỳ sở bất tri, nhi sử nhân tri chi. Kim vương viết ‘vô thí’, tắc bất khả hĩ.” Vương viết: “Thiện.”","content_vi":"Có người bảo vua nước Lương rằng: \"Huệ Tử nói việc gì cũng hay thí dụ.\n\nNếu nhà vua không cho thí dụ, thì Huệ Tử chắc không nói gì được nữa\". Vua bảo: \"Ừ, để rồi ta xem\".\n\nHôm sau, vua đến thăm Huệ Tử, bảo rằng: \"Xin tiên sinh nói gì cứ nói thẳng đừng thí dụ nữa\".\n\nHuệ Tử nói: \"Nay có một người ở đây không biết nỏ là cái gì, mới hỏi tình trạng cái nỏ thế nào. Nếu tôi đáp rằng: Hình trạng cái nỏ giống như cái nỏ, thì người ấy có hiểu được không?\"\n\nVua nói: \"Hiểu làm gì được\".\n\n\"Thế nếu tôi bảo người ấy: Hình trạng cái nỏ giống như cái cung có cán, có lẫy, thì người ấy có biết được không?\"\n\nVua nói: \"Biết được\".\n\nHuệ Tử nói: \"Ôi! Khi nói với ai là đem cái người ta đã biết làm thí dụ với cái người ta chưa biết, để khiến người ta biết. Nay nhà vua bảo tôi đừng thí dụ nữa thì tôi không sao nói được.\"","loi_ban_vi":"Cái cung, cái nỏ khác nhau nhiều, nhưng lấy cái cung nói với người đã biết cung để khiến cho biết được cái nỏ, thì may người ấy ý hội cũng được ít nhiều. Phàm dạy bảo người ta điều gì, là cốt ý làm cho người ta hiểu được điều ấy, mà muốn cho người ta dễ hiểu, không gì bằng thí dụ, nghĩa là nhân cái người ta đã biết mà đưa dạy vào cái người ta chưa biết. Cái phương pháp giáo dục tối tân bây giờ \"qui nạp\" hay \"phu diễn\" cũng lấy thí dụ làm cốt.\n\nNgười ta đã nói: \"Một quyển sách không có thí dụ chỉ là một bộ xương mà thôi\". Câu Huệ Tử nói: \"Ðem cái người ta đã biết làm thí dụ với cái người ta chưa biết để khiến người ta biết\", thực là ám hợp với cái lối học tối tân đời nay.","giai_nghia":["Lương: Một nước chư hầu mạnh đời Chiến Quốc, tức là nước Ngụy ở vào địa phận Hà Nam và Sơn Tây bây giờ.","Tiên sinh: Bực có tuổi, có tài, đạo đức, đáng dạy được mình. Hay dùng chỉ thầy dạy học hay người đáng quý.","Huệ Tử: Tên một thiên sách của Huệ Thi người thời Chiến Quốc, bạn với Trang Tử.","惠子 (Huệ Tử): Tức Huệ Thi, nhà biện sĩ nổi tiếng thời Chiến Quốc, thường cùng Trang Tử biện luận.","梁王 (Lương Vương): Tức Ngụy Huệ Vương, vua nước Ngụy, đóng đô ở Đại Lương nên gọi là Lương.","譬 (Thí): So sánh, ví dụ.","弹 (Đạn): Cái ná, một loại vũ khí cổ bắn đá."],"tags":["Biện thuyết","Phương pháp","Giáo dục","Thí dụ"]},{"id":49,"title_vi":"CON CÚ MÈO VÀ CON CHIM GÁY","title_zh_simp":"枭逢鸠","title_zh_trad":"梟逢鳩","title_pinyin":"Xiāo féng Jiū","title_han_viet":"KIÊU PHỤNG CƯU","title_en":"The Owl and the Turtle Dove","source_book":"《说苑·谈丛》","source_author":"Lã Bất Vi","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"枭逢鸠。鸠曰：“子将安之？”枭曰：“我将东徙。”鸠曰：“何故？”枭曰：“乡人皆恶我鸣，以故东徙。”鸠曰：“子能更鸣，可矣；不能更鸣，东徙，犹恶子之声。”","content_zh_trad":"梟逢鳩。鳩曰：“子將安之？”梟曰：“我將東徙。”鳩曰：“何故？”梟曰：“鄉人皆惡我鳴，以故東徙。”鳩曰：“子能更鳴，可矣；不能更鳴，東徙，猶惡子之聲。”","content_pinyin":"Xiāo féng Jiū. Jiū yuē: “Zǐ jiāng ān zhī?” Xiāo yuē: “Wǒ jiāng dōng xǐ.” Jiū yuē: “Hégù?” Xiāo yuē: “Xiāng rén jiē wù wǒ míng, yǐgù dōng xǐ.” Jiū yuē: “Zǐ néng gēng míng, kě yǐ; bùnéng gēng míng, dōng xǐ, yóu wù zǐ zhī shēng.”","content_han_viet":"Kiêu phùng Cưu. Cưu viết: “Tử tương an chi?” Kiêu viết: “Ngã tương đông tỉ.” Cưu viết: “Hà cố?” Kiêu viết: “Hương nhân giai ố ngã minh, dĩ cố đông tỉ.” Cưu viết: “Tử năng cánh minh, khả hĩ; bất năng cánh minh, đông tỉ, do ố tử chi thanh.”","content_vi":"Con cú mèo gặp con chim gáy.\n\nChim gáy hỏi: “Bác sắp đi đâu đấy?”\n\nCú mèo nói: “Tôi sắp sang ở bên phương đông”\n\n“Tại làm sao lại đi như thế”\n\n“Ở đây người ta nghe tôi kêu người ta ghét, cho nên tôi phải đi chỗ khác”\n\nChim gáy nói: “Bác có thế nào đổi tiếng kêu đi mới được. Chứ không đổi tiếng kêu, thì sang phương đông, người ta nghe tiếng, cũng lại ghét bác thôi, vì nhân tình đâu mà chả thế. Cứ như ý tôi, thì không gì bằng bác phải rụt cổ, thu cánh suốt đời không kêu nữa là hơn”.","loi_ban_vi":"Kẻ có tiếng xấu, dù có trốn tránh đến đâu, nếu không tự sửa đổi bản thân thì cũng không thoát khỏi sự chê ghét. Việc sửa mình quan trọng hơn việc đổi chỗ ở. Người quân tử nên biết tự phản tỉnh, sửa đổi lỗi lầm của mình, chứ không nên đổ lỗi cho hoàn cảnh.","giai_nghia":["Cú mèo: loài chim dữ, mắt như mắt mèo đêm đi bắt các chim nhỏ và chuột để ăn.","Chim gáy: chính chữ là cưu, loài chim gáy, đầu nhỏ đuôi ngắn mà cánh dài","枭 (Kiêu): Con cú mèo, tiếng kêu bị người ta ghét.","鸠 (Cưu): Con chim gáy, chim cu.","东徙 (Đông tỉ): Dời sang phía đông.","更鸣 (Cánh minh): Đổi tiếng kêu."],"tags":["Tự sửa","Ngụ ngôn","Nhân sinh","Phản tỉnh"]},{"id":50,"title_vi":"CON CÒ VÀ CON TRAI","title_zh_simp":"鹬蚌相争","title_zh_trad":"鷸蚌相爭","title_pinyin":"Yù bàng xiāng zhēng","title_han_viet":"QUẬT BẠNG TƯƠNG TRANH","title_en":"The Snipe and the Clam","source_book":"《战国策·燕策二》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"赵且伐燕，苏代为燕谓惠王曰：“今者臣来，过易水。蚌方出曝，而鹬啄其肉，蚌合而拑其喙。鹬曰：‘今日不雨，明日不雨，即有死蚌。’蚌亦谓鹬曰：‘今日不出，明日不出，即有死鹬。’两者不肯相舍，渔者得而并禽之。今赵且伐燕，燕赵久相支，以弊大众，臣恐强秦之为渔父也。故愿王之熟计之也。”惠王曰：“善。”乃止。","content_zh_trad":"趙且伐燕，蘇代為燕謂惠王曰：“今者臣來，過易水。蚌方出曝，而鷸啄其肉，蚌合而拑其喙。鷸曰：‘今日不雨，明日不雨，即有死蚌。’蚌亦謂鷸曰：‘今日不出，明日不出，即有死鷸。’兩者不肯相捨，漁者得而並禽之。今趙且伐燕，燕趙久相支，以弊大眾，臣恐強秦之為漁父也。故願王之熟計之也。”惠王曰：“善。”乃止。","content_pinyin":"Zhào qiě fá Yān, Sū Dài wèi Yān wèi Huìwáng yuē: “Jīn zhě chén lái, guò Yìshuǐ. Bàng fāng chū pù, ér yù zhuó qí ròu, bàng hé ér qián qí huì. Yù yuē: ‘Jīnrì bù yǔ, míngrì bù yǔ, jí yǒu sǐ bàng.’ Bàng yì wèi yù yuē: ‘Jīnrì bù chū, míngrì bù chū, jí yǒu sǐ yù.’ Liǎng zhě bù kěn xiāng shě, yúzhě dé ér bìng qín zhī. Jīn Zhào qiě fá Yān, Yān Zhào jiǔ xiāng zhī, yǐ bì dàzhòng, chén kǒng qiáng Qín zhī wèi yúfù yě. Gù yuàn wáng zhī shú jì zhī yě.” Huìwáng yuē: “Shàn.” Nǎi zhǐ.","content_han_viet":"Triệu thả phạt Yên, Tô Đại vị Yên vị Huệ Vương viết: “Kim giả thần lai, quá Dịch Thủy. Bạng phương xuất phác, nhi quật trác kỳ nhục, bạng hợp nhi kiềm kỳ uế. Quật viết: ‘Kim nhật bất vũ, minh nhật bất vũ, tức hữu tử bạng.’ Bạng diệc vị quật viết: ‘Kim nhật bất xuất, minh nhật bất xuất, tức hữu tử quật.’ Lưỡng giả bất khẳng tương xả, ngư giả đắc nhi tịnh cầm chi. Kim Triệu thả phạt Yên, Yên Triệu cửu tương chi, dĩ tệ đại chúng, thần khủng cường Tần chi vi ngư phụ dã. Cố nguyện vương chi thục kế chi dã.” Huệ Vương viết: “Thiện.” Nãi chỉ.","content_vi":"Nước Triệu toan đánh nước Yên, Tô Tần, vì nước Yên, sang nói với vua nước Triệu là Huệ Vương rằng:\n\n“Vừa rồi tôi đi qua bên bờ sông Dịch Thủy, tôi trông thấy con trai đang há miệng phơi mình trên bãi, có con cò đâu đến, mổ ngay vào thịt trai. Trai liền ngậm miệng, cắp chặt lấy mỏ cò. Cò nói: “Hôm nay không mưa, ngày mai không mưa, thế nào trai cũng phải chết”. Trai nói: “Hôm nay không rút được mỏ, ngày mai không rút được mỏ, thế nào cò cũng phải chết”. Hai bên găng nhau, chẳng ai chịu ai. Bỗng đâu có người đánh cá đi qua, trông thấy thộp được cả trai lẫn cò… Nay mà nước Triệu đem quân sang đánh nước Yên, nước Yên tất phải chống lại. Hai bên đánh nhau lâu, hại người tốn của, chắc là suy yếu cả. Tôi e nước Tần thừa cơ ấy, đem quân chụp cả hai nước như người đánh cá chụp cả trai lẫn cò, thì lúc bấy giờ hối cũng không kịp. Dám xin vua thử nghĩ kỹ lại xem”.\n\nHuệ Vương cho là nói phải, bèn đình việc đánh Yên.","loi_ban_vi":"Trai, cò vì găng nhau mà cả hai con cùng bị hại trong tay người đánh cá.\n\nCái bài: \"Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi” này cũng như nhiều bài trong các sách tây: “Con cò và hai người tranh nhau”, “Con khỉ chia phó mát cho hai con mèo”…đều có ý khuyên người ta không nên tranh giành chọi lẫn nhau. Hai nước tranh nhau, thì hại người, tốn của tai hại đã đành. Hai người tranh nhau thì tất sinh kiện cáo. Mà “vô phúc đáo tụng đình”, thua được chưa biết thế nào, hãy biết có bao nhiêu thầy kiện, thầy cò, những phường tham nhũng ở giữa thời cơ dòm dỏ để cầu lợi, rất thiệt hại cho cả hai bên. Vậy ta chẳng nên găng nhau, chống nhau làm gì. Nhỏ thì tốn tiền. Lớn thì hại nhà, lớn nữa thì hại nước. Ta phải lấy câu “Dĩ hòa vi quý” mà cư xử nhún nhường nhau là hơn.","giai_nghia":["Triệu: một nước thời Chiến Quốc ở vào tỉnh Trực Lệ và Sơn Tây bây giờ.","Yên: xem chuyện số 45","Dịch Thủy: tên một con sông qua Trực Lệ.","Tần: nước mạnh thời Chiến Quốc ở vào địa phận Thiểm Tây bây giờ.","Chiến Quốc sách: bộ sách này còn được gọi là Trường Đoản Như của Lưu Hướng đời Hán làm ghi chép những việc về đời Chiến Quốc.","鹬蚌相争，渔翁得利 (Quật bạng tương tranh, ngư ông đắc lợi): Con trai và con cò tranh nhau, người đánh cá được lợi. Ý chỉ hai bên tranh chấp, kẻ thứ ba được lợi.","苏代 (Tô Đại): Em trai Tô Tần, nhà hùng biện nổi tiếng thời Chiến Quốc.","易水 (Dịch Thủy): Tên một con sông ở nước Yên (nay thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc).","惠王 (Huệ Vương): Tức Triệu Huệ Văn Vương, vua nước Triệu."],"tags":["Ngụ ngôn","Chiến lược","Cảnh báo","Dĩ hòa vi quý"]},{"id":51,"title_vi":"HỒ MƯỢN OAI HỔ","title_zh_simp":"狐假虎威","title_zh_trad":"狐假虎威","title_pinyin":"Hú jiǎ hǔ wēi","title_han_viet":"HỒ GIẢ HỔ UY","title_en":"The Fox Borrows the Tiger's Might","source_book":"《戰國策·楚策一》","source_author":"Lưu Hướng (biên soạn)","source_period":"Tây Hán (biên soạn), ghi chép sự kiện thời Chiến Quốc","content_zh_simp":"荆宣王问群臣曰：“吾闻北方之畏昭奚恤也，果诚何如？”群臣莫对。江一对曰：“虎求百兽而食之，得狐。狐曰：‘子无敢食我也！天帝使我长百兽，今子食我，是逆天帝命也。子以我为不信，吾为子先行，子随我后，观百兽之见我而敢不走乎？’虎以为然，故遂与之行。兽见之皆走。虎不知兽畏己而走也，以为畏狐也。今王之地方五千里，带甲百万，而专属之于昭奚恤。故北方之畏昭奚恤也，其实畏王之甲兵也，犹百兽之畏虎也。”","content_zh_trad":"荊宣王問群臣曰：“吾聞北方之畏昭奚恤也，果誠何如？”群臣莫對。江一對曰：“虎求百獸而食之，得狐。狐曰：‘子無敢食我也！天帝使我長百獸，今子食我，是逆天帝命也。子以我為不信，吾為子先行，子隨我後，觀百獸之見我而敢不走乎？’虎以為然，故遂與之行。獸見之皆走。虎不知獸畏己而走也，以為畏狐也。今王之地方五千裏，帶甲百萬，而專屬之於昭奚恤。故北方之畏昭奚恤也，其實畏王之甲兵也，猶百獸之畏虎也。”","content_pinyin":"Jīng Xuān wáng wèn qún chén yuē: “Wú wén běi fāng zhī wèi Zhāo Xīxù yě, guǒ chéng hérú?” Qún chén mò duì. Jiāng Yī duì yuē: “Hǔ qiú bǎi shòu ér shí zhī, dé hú. Hú yuē: ‘Zǐ wú gǎn shí wǒ yě! Tiān dì shǐ wǒ zhǎng bǎi shòu, jīn zǐ shí wǒ, shì nì tiān dì mìng yě. Zǐ yǐ wǒ wéi bù xìn, wú wèi zǐ xiān xíng, zǐ suí wǒ hòu, guān bǎi shòu zhī jiàn wǒ ér gǎn bù zǒu hū?’ Hǔ yǐ wéi rán, gù suì yǔ zhī xíng. Shòu jiàn zhī jiē zǒu. Hǔ bù zhī shòu wèi jǐ ér zǒu yě, yǐ wéi wèi hú yě. Jīn wáng zhī dì fāng wǔ qiān lǐ, dài jiǎ bǎi wàn, ér zhuān shǔ zhī yú Zhāo Xīxù. Gù běi fāng zhī wèi Zhāo Xīxù yě, qí shí wèi wáng zhī jiǎ bīng yě, yóu bǎi shòu zhī wèi hǔ yě.”","content_han_viet":"Kinh Tuyên Vương vấn quần thần viết: “Ngô văn Bắc phương chi úy Chiêu Hề Tuất dã, quả thành hà như?” Quần thần mạc đối. Giang Nhất đối viết: “Hổ cầu bách thú nhi thực chi, đắc hồ. Hồ viết: ‘Tử vô cảm thực ngã dã! Thiên đế sử ngã trưởng bách thú, kim tử thực ngã, thị nghịch Thiên đế mệnh dã. Tử dĩ ngã vi bất tín, ngô vi tử tiên hành, tử tùy ngã hậu, quan bách thú chi kiến ngã nhi cảm bất tẩu hồ?’ Hổ dĩ vi nhiên, cố toại dữ chi hành. Thú kiến chi giai tẩu. Hổ bất tri thú úy kỷ nhi tẩu dã, dĩ vi úy hồ dã. Kim vương chi địa phương ngũ thiên lý, đái giáp bách vạn, nhi chuyên chúc chi vu Chiêu Hề Tuất. Cố Bắc phương chi úy Chiêu Hề Tuất dã, kỳ thực úy vương chi giáp binh dã, do bách thú chi úy hổ dã.”","content_vi":"Vua Tuyên Vương làm vua cả nước Sở, Chiêu Hề Tuất chỉ là một người bầy tôi vua Tuyên Vương. Thế mà người phương Bắc ai nghe thấy nói đến Chiêu Hề Tuất cũng phải kinh sợ. Vua lấy làm lạ, một hôm hỏi quần thần là vì cớ làm sao. Không ai trả lời nổi, chỉ có Giang Nhất thưa được rằng:\n\n“Con hổ hay bắt các giống thú để ăn thịt. Một hôm bắt được con Hồ, Hồ bảo: “Liệu đó! Chớ có động chạm đến ta mà chết ngay bây giờ. Ta là Trời sai xuống, cầm quyền hết cả bách thú. Ngươi mà ăn thịt ta là ngươi trái mệnh Trời, hại đến thân ngay lập tức. Không tin để ta đi trước, ngươi theo hầu sau, xem có con thú nào trông thấy ta mà không sợ hãi, tìm đường bỏ trốn cho mau không!” Hổ cho là Hồ nói thật bèn theo Hồ đi. Quả nhiên bách thú trông thấy đều sợ mà chạy cả. Hổ không biết rằng bách thú đều sợ mình mà chạy, cứ tưởng là sợ Hồ. Nay nhà vua nước mạnh, quân nhiều mà vua giao cả quyền thế cho Chiêu Hề Tuất, người phương bắc sợ Hề Tuất mà kỳ thực là sợ vua như bách thú sợ hổ vậy.","loi_ban_vi":"Kẻ tiểu nhân mượn uy thế kẻ trên để hống hách, nhưng thực chất chỉ là kẻ bề tôi yếu thế. Bậc minh quân phải tự xét mình, đừng để kẻ dưới lạm dụng quyền uy mà làm loạn triều cương, cũng đừng để sự sợ hãi hư ảo che mờ thực lực của chính mình.","giai_nghia":["荆宣王 (Kinh Tuyên Vương): Tức Sở Tuyên Vương, vua nước Sở thời Chiến Quốc.","昭奚恤 (Chiêu Hề Tuất): Một đại thần nước Sở, được vua tin dùng và nắm giữ binh quyền.","江一 (Giang Nhất): Một mưu sĩ của Sở Tuyên Vương.","假 (giả): Mượn, dựa vào.","长百兽 (trưởng bách thú): Làm thủ lĩnh của trăm loài thú."],"tags":["Ngụ ngôn","Chiến Quốc Sách","Mượn oai","Quyền lực"]},{"id":52,"title_vi":"MẠNH THƯỜNG QUÂN VÀO NƯỚC TẦN","title_zh_simp":"孟尝君入秦","title_zh_trad":"孟嘗君入秦","title_pinyin":"Mèng Chángjūn rù Qín","title_han_viet":"MẠNH THƯỜNG QUÂN NHẬP TẦN","title_en":"Lord Mengchang Enters Qin","source_book":"《戰國策·齊策三》","source_author":"Lưu Hướng (biên soạn)","source_period":"Tây Hán (biên soạn), ghi chép sự kiện thời Chiến Quốc","content_zh_simp":"孟尝君将入秦，止者千数而弗听。苏秦欲止之，孟尝君曰：“人事者，吾已尽知之矣；吾所未闻者，独鬼事耳。”苏秦曰：“臣之来也，固不敢言人事也，固且以鬼事见君。”孟尝君见之。谓孟尝君曰：“今者臣来，过于淄上，有土偶人与桃梗相与语。桃梗谓土偶人曰：‘子，西岸之土也，挺子以为人，至岁八月，降雨下，淄水至，则汝残矣。’土偶曰：‘不然。吾西岸之土也，土则复西岸耳。今子，东国之桃梗也，刻削子以为人，降雨下，淄水至，流子而去，则子漂漂者将何如耳。’今秦，四塞之国，譬若虎口，而君入之，则臣不知君所出矣。”孟尝君乃止。","content_zh_trad":"孟嘗君將入秦，止者千數而弗聽。蘇秦欲止之，孟嘗君曰：“人事者，吾已盡知之矣；吾所未聞者，獨鬼事耳。”蘇秦曰：“臣之來也，固不敢言人事也，固且以鬼事見君。”孟嘗君見之。謂孟嘗君曰：“今者臣來，過於淄上，有土偶人與桃梗相與語。桃梗謂土偶人曰：‘子，西岸之土也，挺子以為人，至歲八月，降雨下，淄水至，則汝殘矣。’土偶曰：‘不然。吾西岸之土也，土則復西岸耳。今子，東國之桃梗也，刻削子以為人，降雨下，淄水至，流子而去，則子漂漂者將何如耳。’今秦，四塞之國，譬若虎口，而君入之，則臣不知君所出矣。”孟嘗君乃止。","content_pinyin":"Mèng Chángjūn jiāng rù Qín, zhǐ zhě qiān shù ér fú tīng. Sū Qín yù zhǐ zhī, Mèng Chángjūn yuē: “Rén shì zhě, wú yǐ jìn zhī zhī yǐ; wú suǒ wèi wén zhě, dú guǐ shì ěr.” Sū Qín yuē: “Chén zhī lái yě, gù bù gǎn yán rén shì yě, gù qiě yǐ guǐ shì jiàn jūn.” Mèng Chángjūn jiàn zhī. Wèi Mèng Chángjūn yuē: “Jīn zhě chén lái, guò yú Zī shàng, yǒu tǔ ǒu rén yǔ táo gěng xiāng yǔ yǔ. Táo gěng wèi tǔ ǒu rén yuē: ‘Zǐ, xī àn zhī tǔ yě, tǐng zǐ yǐ wéi rén, zhì suì bā yuè, jiàng yǔ xià, Zī shuǐ zhì, zé rǔ cán yǐ.’ Tǔ ǒu yuē: ‘Bù rán. Wú xī àn zhī tǔ yě, tǔ zé fù xī àn ěr. Jīn zǐ, dōng guó zhī táo gěng yě, kè xuē zǐ yǐ wéi rén, jiàng yǔ xià, Zī shuǐ zhì, liú zǐ ér qù, zé zǐ piāo piāo zhě jiāng hé rú ěr.’ Jīn Qín, sì sāi zhī guó, pì ruò hǔ kǒu, ér jūn rù zhī, zé chén bù zhī jūn suǒ chū yǐ.” Mèng Chángjūn nǎi zhǐ.","content_han_viet":"Mạnh Thường Quân tương nhập Tần, chỉ giả thiên sổ nhi phất thính. Tô Tần dục chỉ chi, Mạnh Thường Quân viết: “Nhân sự giả, ngô dĩ tận tri chi hĩ; ngô sở vị văn giả, độc quỷ sự nhĩ.” Tô Tần viết: “Thần chi lai dã, cố bất cảm ngôn nhân sự dã, cố thả dĩ quỷ sự kiến quân.” Mạnh Thường Quân kiến chi. Vị Mạnh Thường Quân viết: “Kim giả thần lai, quá vu Tư thượng, hữu thổ ngẫu nhân dữ đào ngạnh tương dữ ngữ. Đào ngạnh vị thổ ngẫu nhân viết: ‘Tử, tây ngạn chi thổ dã, đĩnh tử dĩ vi nhân, chí tuế bát nguyệt, giáng vũ hạ, Tư thủy chí, tắc nhữ tàn hĩ.’ Thổ ngẫu viết: ‘Bất nhiên. Ngô tây ngạn chi thổ dã, thổ tắc phục tây ngạn nhĩ. Kim tử, đông quốc chi đào ngạnh dã, khắc tước tử dĩ vi nhân, giáng vũ hạ, Tư thủy chí, lưu tử nhi khứ, tắc tử phiêu phiêu giả tương hà như nhĩ.’ Kim Tần, tứ tái chi quốc, thí nhược hổ khẩu, nhi quân nhập chi, tắc thần bất tri quân sở xuất hĩ.” Mạnh Thường Quân nãi chỉ.","content_vi":"Mạnh Thường Quân là một nhà nghĩa hiệp nước Tề, muốn sang nước Tần để du thuyết. Có hàng nghìn người can ngăn mà không được. Sau Tô Tần đến can, Mạnh Thường Quân bảo rằng:\n\n“Việc người thì ta đây không còn sót gì nữa, chỉ có việc quỷ thần là ta chưa được rõ mà thôi.”\n\nTô Tần nói: Ấy chính tôi lại đây không phải là để nói việc người, tôi cốt định đem việc quỷ thần nói để ông nghe.\n\nMạnh Thường Quân nói: Ừ nói để ta nghe.\n\nTô Tần nói: Vừa rồi tôi lại đây, đi ngang qua con sông, tôi thấy một pho tượng đất nói chuyện với một pho tượng gỗ. Tượng gỗ bảo tượng đất: Ngươi là đất nặn thành hình, đến mùa mưa, nước sông lên ngập lụt thì ngươi bở tan ra mất. Tượng đất nói: Ta có tan ra nữa, ta vốn là đất, thì đất lại hoàn đất mà thôi. Chớ như ngươi là gỗ tạc thành hình, nước tràn lên thì chưa biết ngươi trôi giạt vào đâu mà rồi ra thế nào…Nay nước Tần là nước hiểm trở, vua Tần là vua bạo ngược, nếu ông vào đấy thì chửa biết có ra thoát được không.\n\nMạnh Thường Quân nghe nói , bèn thôi không sang nước Tần nữa.","loi_ban_vi":"Người trí giả biết lường trước sự nguy hiểm, không vì danh lợi trước mắt mà đánh mất sự an toàn của bản thân. Việc đời cũng như dòng nước, khi đã dấn thân vào chốn hiểm nguy thì khó mà giữ được thân mình, chi bằng biết đủ và dừng lại đúng lúc.","giai_nghia":["Mạnh Thường Quân: con vua nước Tề thời Chiến Quốc, họ Điền tên Văn làm Tướng Quốc nước Tề có tiếng là người hào hiệp, trong nhà lúc nào cũng tiếp đãi đến vài nghìn người khách.","Nghĩa hiệp: người thẳng tính, thích điều phải, hay giúp người hèn yếu, chống lại kẻ cường quyền.","Tần: tên nước thời Xuân Thu (tức là tỉnh Thiểm Tây bây giờ) đến đời Thủy Hoàng, nước Tần chiếm được cả sáu nước mà nhất thống thiên hạ.","Du thuyết: nhà ngôn luận giỏi thời Chiến Quốc thường dùng lời biện bác mà làm cho người ta xiêu lòng phải nghe.","Tô Tần: người thời Chiến Quốc, là một nhà du thuyết giỏi, có công đi liên hợp được sáu nước để chống lại nước Tần. Mạnh Thường Quân thấy Tô Tần đến, đột ngột đem chuyện quỷ thần hỏi, cố ý làm cho khó khăn Tôn Tần không nói ra làm sao được nữa. Không ngờ Tô Tần ứng biến lanh, lấy ngay chuyện quỷ thần làm thí dụ mà nói đến mình.","孟尝君 (Mạnh Thường Quân): Tên thật là Điền Văn, quý tộc nước Tề, một trong Tứ công tử thời Chiến Quốc, nổi tiếng nuôi nhiều khách.","苏秦 (Tô Tần): Nhà hùng biện nổi tiếng thời Chiến Quốc, đề xướng hợp tung.","淄水 (Tư Thủy): Tên một con sông ở nước Tề.","土偶人 (thổ ngẫu nhân): Tượng người bằng đất.","桃梗 (đào ngạnh): Con rối làm bằng gỗ đào.","四塞之国 (tứ tái chi quốc): Nước có bốn mặt hiểm trở, dễ thủ khó công."],"tags":["Chiến Quốc Sách","Mạnh Thường Quân","Khuyên can","Ẩn dụ"]},{"id":53,"title_vi":"THẬP BÌ NÓI CHUYỆN VỚI HUỆ VƯƠNG","title_zh_simp":"十皮说惠王","title_zh_trad":"十皮說惠王","title_pinyin":"Shí Pí shuō Huì Wáng","title_han_viet":"THẬP BÌ THUYẾT HUỆ VƯƠNG","title_en":"Shi Pi Talks to King Hui","source_book":"《韓非子》","source_author":"Hàn Phi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"魏惠王谓十皮曰：“子闻寡人之为人何如？”对曰：“臣闻王之为人，仁而好赐。”王欣然喜曰：“然则功德及于后世，何如？”对曰：“然则王之国必亡矣。”王愕然曰：“仁而好赐，为善至于亡国，何也？”对曰：“夫仁者，不忍诛罚；好赐者，乐施与。不忍诛罚，则有罪者不诛；乐施与，则无功者得赏。有罪不诛，无功得赏，虽欲无亡，得乎？”","content_zh_trad":"魏惠王謂十皮曰：“子聞寡人之為人何如？”對曰：“臣聞王之為人，仁而好賜。”王欣然喜曰：“然則功德及於後世，何如？”對曰：“然則王之國必亡矣。”王愕然曰：“仁而好賜，為善至於亡國，何也？”對曰：“夫仁者，不忍誅罰；好賜者，樂施與。不忍誅罰，則有罪者不誅；樂施與，則無功者得賞。有罪不誅，無功得賞，雖欲無亡，得乎？”","content_pinyin":"Wèi Huì Wáng wèi Shí Pí yuē: “Zǐ wén guǎrén zhī wéi rén hé rú?” Duì yuē: “Chén wén wáng zhī wéi rén, rén ér hào cì.” Wáng xīnrán xǐ yuē: “Rán zé gōngdé jí yú hòushì, hé rú?” Duì yuē: “Rán zé wáng zhī guó bì wáng yǐ.” Wáng èrán yuē: “Rén ér hào cì, wéi shàn zhì yú wáng guó, hé yě?” Duì yuē: “Fū rén zhě, bù rěn zhū fá; hào cì zhě, lè shī yǔ. Bù rěn zhū fá, zé yǒu zuì zhě bù zhū; lè shī yǔ, zé wú gōng zhě dé shǎng. Yǒu zuì bù zhū, wú gōng dé shǎng, suī yù wú wáng, dé hū?”","content_han_viet":"Ngụy Huệ Vương vị Thập Bì viết: “Tử văn quả nhân chi vi nhân hà như?” Đối viết: “Thần văn vương chi vi nhân, nhân nhi hiếu tứ.” Vương hân nhiên hỷ viết: “Nhiên tắc công đức cập vu hậu thế, hà như?” Đối viết: “Nhiên tắc vương chi quốc tất vong hĩ.” Vương ngạc nhiên viết: “Nhân nhi hiếu tứ, vi thiện chí vu vong quốc, hà dã?” Đối viết: “Phù nhân giả, bất nhẫn tru phạt; hiếu tứ giả, lạc thí dữ. Bất nhẫn tru phạt, tắc hữu tội giả bất tru; lạc thí dữ, tắc vô công giả đắc thưởng. Hữu tội bất tru, vô công đắc thưởng, tuy dục vô vong, đắc hồ?”","content_vi":"Vua Huệ Vương nước Ngụy hỏi Thập Bì rằng: Ngươi nghe người ta cho quả nhân là người thế nào?\n\nThập Bì thưa: Thần nghe người ta cho nhà vua là người nhân từ và hay gia ơn lắm.\n\nVua vui mừng hớn hở nói rằng: Như thế thì cái công đức của quả nhân được đến thế nào?\n\nThập Bì nói: Cái công đức ấy rồi đến mất nước.\n\nVua ngạc nhiên hỏi: Nhân từ và hay gia ơn làm việc thiện đến nỗi mất nước là nghĩa thế nào?\n\nThập Bì thưa: Vua mà nhân từ thì bất nhân trừng phạt, vua hay gia ơn thì chỉ thích ban thưởng. Tính đã bất nhân thì kẻ có tội cũng không trị; tính hay ban ơn thì kẻ vô công cũng được thưởng. Đến kẻ có tội không phải phạt, kẻ vô công cũng được thưởng thì mất nước cũng không có gì là lạ.","loi_ban_vi":"Nhân từ mà không phân biệt thiện ác, ban ơn mà không phân biệt công tội, thì nhân từ hóa ra tàn nhẫn với kẻ trung lương, ban ơn hóa ra nuôi dưỡng lòng tham. Làm vua mà mất cả tiêu chuẩn thưởng phạt, thì dẫu có lòng tốt cũng chỉ chuốc lấy vong quốc. Kẻ làm chính sự phải lấy công minh làm gốc, chớ nên thiên vị tình cảm mà hại nước.","giai_nghia":["Thập Bì: Nhân vật trong truyện, có thể là một mưu sĩ hoặc quan viên thời Chiến Quốc.","Huệ Vương: Tức Ngụy Huệ Vương (370-319 TCN), vua nước Ngụy thời Chiến Quốc.","Nhân nhi hiếu tứ: Nhân từ và thích ban thưởng, ở đây chỉ sự nhân từ và hào phóng thái quá, thiếu nguyên tắc.","Bất nhẫn tru phạt: Không nỡ trừng phạt, thể hiện sự mềm yếu trong cai trị."],"tags":["Chính trị","Triết lý trị quốc","Hàn Phi Tử","Pháp gia"]},{"id":54,"title_vi":"THAM LỢI TRƯỚC MẮT, QUÊN HẠI SAU LƯNG","title_zh_simp":"贪利眼前，忘害身后","title_zh_trad":"貪利眼前，忘害身後","title_pinyin":"Tān lì yǎnqián, wàng hài shēnhòu","title_han_viet":"THAM LỢI NHÃN TIỀN, VONG HẠI THÂN HẬU","title_en":"Blinded by Immediate Gain, Forgetting the Danger Behind","source_book":"《說苑》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"吴王欲伐荆，告其左右曰：“敢有谏者死！”舍人有少孺子者，欲谏不敢，则怀丸操弹，游于后园，露沾其衣，如是者三旦。吴王曰：“子来，何苦沾衣如此！”对曰：“园中有树，其上有蝉，蝉高居悲鸣饮露，不知螳螂在其后也；螳螂委身曲附欲取蝉，而不知黄雀在其傍也；黄雀延颈欲啄螳螂，而不知弹丸在其下也。此三者皆务欲得其前利，而不顾其后之有患也。”吴王曰：“善哉！”乃罢其兵。","content_zh_trad":"吳王欲伐荊，告其左右曰：“敢有諫者死！”舍人有少孺子者，欲諫不敢，則懷丸操彈，游於後園，露沾其衣，如是者三旦。吳王曰：“子來，何苦沾衣如此！”對曰：“園中有樹，其上有蟬，蟬高居悲鳴飲露，不知螳螂在其後也；螳螂委身曲附欲取蟬，而不知黃雀在其傍也；黃雀延頸欲啄螳螂，而不知彈丸在其下也。此三者皆務欲得其前利，而不顧其後之有患也。”吳王曰：“善哉！”乃罷其兵。","content_pinyin":"Wú wáng yù fá Jīng, gào qí zuǒyòu yuē: “Gǎn yǒu jiàn zhě sǐ!” Shè rén yǒu shào rú zǐ zhě, yù jiàn bù gǎn, zé huái wán cāo dàn, yóu yú hòu yuán, lù zhān qí yī, rú shì zhě sān dàn. Wú wáng yuē: “Zǐ lái, hé kǔ zhān yī rúcǐ!” Duì yuē: “Yuán zhōng yǒu shù, qí shàng yǒu chán, chán gāo jū bēi míng yǐn lù, bù zhī tángláng zài qí hòu yě; tángláng wěi shēn qū fù yù qǔ chán, ér bù zhī huángquè zài qí bàng yě; huángquè yán jǐng yù zhuó tángláng, ér bù zhī dànwán zài qí xià yě. Cǐ sān zhě jiē wù yù dé qí qián lì, ér bù gù qí hòu zhī yǒu huàn yě.” Wú wáng yuē: “Shàn zāi!” Nǎi bà qí bīng.","content_han_viet":"Ngô vương dục phạt Kinh, cáo kỳ tả hữu viết: “Cảm hữu gián giả tử!” Xá nhân hữu thiếu nhu tử giả, dục gián bất cảm, tắc hoài hoàn thao đạn, du vu hậu viên, lộ triêm kỳ y, như thị giả tam đán. Ngô vương viết: “Tử lai, hà khổ triêm y như thử!” Đối viết: “Viên trung hữu thụ, kỳ thượng hữu thiền, thiền cao cư bi minh ẩm lộ, bất tri đường lang tại kỳ hậu dã; đường lang ủy thân khúc phụ dục thủ thiền, nhi bất tri hoàng tước tại kỳ bạn dã; hoàng tước duyên cảnh dục trác đường lang, nhi bất tri đạn hoàn tại kỳ hạ dã. Thử tam giả giai vụ dục đắc kỳ tiền lợi, nhi bất cố kỳ hậu chi hữu hoạn dã.” Ngô vương viết: “Thiện tai!” Nãi bãi kỳ binh.","content_vi":"Vua nước Ngô muốn đem quân đi đánh nước Kinh. Đã nhiều người ngăn cản, vua nhất định không nghe. Sau lại hạ lệnh rằng: “Ai can ta đánh nước Kinh thì phải xử tử.”\n\nCó một viên quan trẻ tuổi muốn can ngăn nhà vua mà không giám nói, luôn ba ngày, cứ sáng sớm cầm cung tên đến đứng vườn sau nhà vua, sương xuống ướt đầm cả áo.\n\nHôm thứ ba, vua gặp mới hỏi rằng: “Ngươi đến đây làm gì mà để sương xuống ướt đầm cả áo như thế?”\n\nViên quan thưa rằng: “Trong vườn có một cây cổ thụ. Chót vót trên ngọn cây có con ve sầu hút gió uống sương, rả rích kêu cả ngày, tưởng đã được yên thân lắm. Biết đâu đằng sau có con bọ ngựa, đang giơ hai càng chực bắt.\n\nChính con bọ ngựa muốn bắt con ve sầu lại biết đâu đằng sau có con chim sẻ nghển cổ chực mổ. Chính con chim sẻ muốn bắt con bọ ngựa lại biết đâu dưới gốc cây có tôi cầm cung tên chực bắn. Chính tôi đây muốn bắn con chim sẻ mà không biết sương xuống ướt cả áo…Như thế đều là chỉ vì cái lợi trước mắt mà quên hẳn cái hại ngay say lưng vậy”.\n\nVua nghe nói tỉnh ngộ bèn thôi không đánh nước Yên nữa.","loi_ban_vi":"Người đời thường chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không lường được cái họa phía sau. Việc đời như bức tranh nhiều lớp, kẻ đuổi theo ve sầu nào biết mình là bọ ngựa cho kẻ khác. Cho nên người trí tuệ phải biết nhìn xa trông rộng, xét cả năm bảy lớp trước sau, chớ nên vì một mối lợi nhỏ mà đánh mất an nguy cả đời.","giai_nghia":["Ngô: Tên nước thời Xuân Thu bây giờ vào địa phận phía Nam sông Hoài, sông Tử cho đến tỉnh Triết Gian bây giờ.","Thanh Lê Tử: tức là Lưu Hướng, người nhà Hán làm quan Gián Nghị đại phu, giỏi về văn chương lại kiêm cả kinh thuật và thiên văn.","Ngô vương: Vua nước Ngô thời Xuân Thu, có thể là Ngô Vương Phù Sai.","Kinh: Tức nước Sở, vì nước Sở xưa gọi là Kinh.","Xá nhân: Môn khách, người hầu cận trong nhà quý tộc.","Thiền, đường lang, hoàng tước: Ve sầu, bọ ngựa, chim sẻ - ẩn dụ cho các tầng lợi hại đan xen."],"tags":["Ẩn dụ","Mưu lược","Triết lý nhân sinh","Cổ học"]},{"id":55,"title_vi":"TRƯỚC KHI ĐÁNH NGƯỜI PHẢI BIẾT GIỮ MÌNH","title_zh_simp":"伐卫先悟","title_zh_trad":"伐衛先悟","title_pinyin":"Fá Wèi Xiān Wù","title_han_viet":"PHẠT VỆ TIÊN NGỘ","title_en":"Realize Before Attacking Others","source_book":"《列子·说符》","source_author":"Liệt Tử (列子)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"晋文公出会，欲伐卫。公子锄仰天而笑。公问何笑。曰：“臣笑邻之人有送其妻适私家者，道见桑妇，悦而与言。然顾视其妻，亦有招之者矣。臣窃笑此也。”公寤其言，乃止。引师而还，未至，而有伐其北鄙者矣。","content_zh_trad":"晉文公出會，欲伐衛。公子鋤仰天而笑。公問何笑。曰：「臣笑鄰之人有送其妻適私家者，道見桑婦，悅而與言。然顧視其妻，亦有招之者矣。臣竊笑此也。」公寤其言，乃止。引師而還，未至，而有伐其北鄙者矣。","content_pinyin":"Jìn Wén Gōng chū huì, yù fá Wèi. Gōngzǐ Chú yǎng tiān ér xiào. Gōng wèn hé xiào. Yuē: “Chén xiào lín zhī rén yǒu sòng qí qī shì sī jiā zhě, dào jiàn sāng fù, yuè ér yǔ yán. Rán gù shì qí qī, yì yǒu zhāo zhī zhě yǐ. Chén qiè xiào cǐ yě.” Gōng wù qí yán, nǎi zhǐ. Yǐn shī ér huán, wèi zhì, ér yǒu fá qí běi bǐ zhě yǐ.","content_han_viet":"Tấn Văn Công xuất hội, dục phạt Vệ. Công tử Trừ ngưỡng thiên nhi tiếu. Công vấn hà tiếu. Viết: “Thần tiếu lân chi nhân hữu tống kỳ thê thích tư gia giả, đạo kiến tang phụ, duyệt nhi dữ ngôn. Nhiên cố thị kỳ thê, diệc hữu chiêu chi giả hĩ. Thần thiết tiếu thử dã.” Công ngộ kỳ ngôn, nãi chỉ. Dẫn sư nhi hoàn, vị chí, nhi hữu phạt kỳ bắc bỉ giả hĩ.","content_vi":"Vua Công nước Tấn đem quân sang đánh nước Vệ. Giữa đường gặp một ông lão đang bừa ruộng, cứ ngẩng mặt lên trời cười khanh khách mãi. Văn Công cho đòi lại, hỏi: “Ngươi cười gì thế?”\n\nÔng lão trả lời: “Tôi cười người láng giềng nhà tôi. Anh ta đưa vợ đi chơi nhà bà con. Giữa đường gặp người con gái hái dâu, anh ta thích quá lén vợ rẽ xuống ruộng dâu, nói chuyện với người con gái. Một chốc ngoảnh lên xem vợ đi đến đâu, thì thấy một chàng đang vẫy vợ anh ta đi. Ấy câu chuyện chỉ có thế, tôi nghĩ mà không nhịn cười được”.\n\nVăn Công nghe nói tự nhiên tỉnh ngộ, kéo quân về, về chưa đến nơi thì đã thấy báo có giặc ở ngoài vào xâm phạm trên mạn bắc trong nước.","loi_ban_vi":"Kẻ muốn hại người, há biết đâu người khác cũng đang rình rập hại mình. Việc đời qua lại như bóng với hình, cho nên kẻ trí trước khi hành động tất phải nghĩ đến hậu hoạn, xét lường trước sau, chớ nên chỉ thấy lợi trước mắt mà quên mất tai vạ sau lưng.","giai_nghia":["Tấn: xem truyện số 15","Văn Công: vua giỏi nước chư hầu thời Xuân Thu, đứng vào bậc ngũ bá.","Vệ: Tên một nước thời Xuân Thu ở vào vùng tỉnh Trực Lệ và Hà Nam bây giờ.","晋文公 (Tấn Văn Công): Vua nước Tấn thời Xuân Thu, một trong Ngũ Bá.","公子锄 (Công tử Trừ): Người trong tông tộc nước Tấn, mưu sĩ của Tấn Văn Công.","伐卫 (phạt Vệ): Đem quân đánh nước Vệ.","北鄙 (bắc bỉ): Vùng biên giới phía bắc."],"tags":["Liệt Tử","Ẩn dụ","Phòng bị","Trí tuệ"]},{"id":56,"title_vi":"KHÔNG NÊN SÁT PHẠT LẪN NHAU","title_zh_simp":"止鲁阳文君攻郑","title_zh_trad":"止魯陽文君攻鄭","title_pinyin":"Zhǐ Lǔyáng Wénjūn Gōng Zhèng","title_han_viet":"CHỈ LỖ DƯƠNG VĂN QUÂN CÔNG TRỊNH","title_en":"Dissuading Lord Luyang Wen from Attacking Zheng","source_book":"《墨子·鲁问》","source_author":"Mặc Tử (墨子)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"鲁阳文君将攻郑，墨子闻而止之，谓鲁阳文君曰：“今使鲁四境之内，大都攻其小都，大家伐其小家，杀其民人，取其牛马狗豕布帛米粟货财，则何若？”鲁阳文君曰：“鲁四境之内，皆寡人之臣也。大都攻其小都，大家伐其小家，夺其货财，则寡人必将厚罚之。”墨子曰：“夫天之兼有天下也，亦犹君之有四境之内也。今举兵将以攻郑，天诛其不至乎？”鲁阳文君曰：“先生何止我攻郑也？我攻郑，顺于天之志。郑人三世杀其父，天加诛焉，使三年不全。我将助天诛也。”墨子曰：“郑人三世杀其父，而天加诛焉，使三年不全。天诛足矣。今又举兵将以攻郑，曰‘吾攻郑也，顺于天之志’。譬有人于此，其子强梁不材，故其父笞之。其邻家之父，举木而击之，曰‘吾击之也，顺于其父之志’。则岂不悖哉！”","content_zh_trad":"魯陽文君將攻鄭，墨子聞而止之，謂魯陽文君曰：「今使魯四境之內，大都攻其小都，大家伐其小家，殺其民人，取其牛馬狗豕布帛米粟貨財，則何若？」魯陽文君曰：「魯四境之內，皆寡人之臣也。大都攻其小都，大家伐其小家，奪其貨財，則寡人必將厚罰之。」墨子曰：「夫天之兼有天下也，亦猶君之有四境之內也。今舉兵將以攻鄭，天誅其不至乎？」魯陽文君曰：「先生何止我攻鄭也？我攻鄭，順於天之志。鄭人三世殺其父，天加誅焉，使三年不全。我將助天誅也。」墨子曰：「鄭人三世殺其父，而天加誅焉，使三年不全。天誅足矣。今又舉兵將以攻鄭，曰『吾攻鄭也，順於天之志』。譬有人於此，其子強梁不材，故其父笞之。其鄰家之父，舉木而擊之，曰『吾擊之也，順於其父之志』。則豈不悖哉！」","content_pinyin":"Lǔyáng Wénjūn jiāng gōng Zhèng, Mòzǐ wén ér zhǐ zhī, wèi Lǔyáng Wénjūn yuē: \"Jīn shǐ Lǔ sì jìng zhī nèi, dà dū gōng qí xiǎo dū, dà jiā fá qí xiǎo jiā, shā qí mín rén, qǔ qí niú mǎ gǒu shǐ bù bó mǐ sù huò cái, zé hé ruò?\" Lǔyáng Wénjūn yuē: \"Lǔ sì jìng zhī nèi, jiē guǎrén zhī chén yě. Dà dū gōng qí xiǎo dū, dà jiā fá qí xiǎo jiā, duó qí huò cái, zé guǎrén bì jiāng hòu fá zhī.\" Mòzǐ yuē: \"Fū tiān zhī jiān yǒu tiānxià yě, yì yóu jūn zhī yǒu sì jìng zhī nèi yě. Jīn jǔ bīng jiāng yǐ gōng Zhèng, tiān zhū qí bù zhì hū?\" Lǔyáng Wénjūn yuē: \"Xiānsheng hé zhǐ wǒ gōng Zhèng yě? Wǒ gōng Zhèng, shùn yú tiān zhī zhì. Zhèng rén sān shì shā qí fù, tiān jiā zhū yān, shǐ sān nián bù quán. Wǒ jiāng zhù tiān zhū yě.\" Mòzǐ yuē: \"Zhèng rén sān shì shā qí fù, ér tiān jiā zhū yān, shǐ sān nián bù quán. Tiān zhū zú yǐ. Jīn yòu jǔ bīng jiāng yǐ gōng Zhèng, yuē 'wú gōng Zhèng yě, shùn yú tiān zhī zhì'. Pì yǒu rén yú cǐ, qí zǐ qiángliáng bù cái, gù qí fù chī zhī. Qí línjiā zhī fù, jǔ mù ér jī zhī, yuē 'wú jī zhī yě, shùn yú qí fù zhī zhì'. Zé qǐ bù bèi zāi!\"","content_han_viet":"Lỗ Dương Văn Quân tương công Trịnh, Mặc Tử văn nhi chỉ chi, vị Lỗ Dương Văn Quân viết: “Kim sử Lỗ tứ cảnh chi nội, đại đô công kỳ tiểu đô, đại gia phạt kỳ tiểu gia, sát kỳ dân nhân, thủ kỳ ngưu mã cẩu thỉ bố bạch mễ túc hóa tài, tắc hà nhược?” Lỗ Dương Văn Quân viết: “Lỗ tứ cảnh chi nội, giai quả nhân chi thần dã. Đại đô công kỳ tiểu đô, đại gia phạt kỳ tiểu gia, đoạt kỳ hóa tài, tắc quả nhân tất tương hậu phạt chi.” Mặc Tử viết: “Phù thiên chi kiêm hữu thiên hạ dã, diệc do quân chi hữu tứ cảnh chi nội dã. Kim cử binh tương dĩ công Trịnh, thiên tru kỳ bất chí hồ?” Lỗ Dương Văn Quân viết: “Tiên sinh hà chỉ ngã công Trịnh dã? Ngã công Trịnh, thuận vu thiên chi chí. Trịnh nhân tam thế sát kỳ phụ, thiên gia tru yên, sử tam niên bất toàn. Ngã tương trợ thiên tru dã.” Mặc Tử viết: “Trịnh nhân tam thế sát kỳ phụ, nhi thiên gia tru yên, sử tam niên bất toàn. Thiên tru túc hĩ. Kim hựu cử binh tương dĩ công Trịnh, viết ‘ngô công Trịnh dã, thuận vu thiên chi chí’. Thí hữu nhân vu thử, kỳ tử cường lương bất tài, cố kỳ phụ si chi. Kỳ lân gia chi phụ, cử mộc nhi kích chi, viết ‘ngô kích chi dã, thuận vu kỳ phụ chi chí’. Tắc khởi bất bội tai!”","content_vi":"Văn Quân đất Lỗ Dương sắp đem quân sang đánh nước Trịnh. Mặc Tử nghe thấy đến can nói rằng:\n\nVí như bây giờ trong đất Lỗ Dương này, tỉnh lớn đánh tỉnh nhỏ, nhà lớn đánh nhà nhỏ giết người lấy của lẫn nhau thì nhà vua nghĩ như thế nào?\n\nVăn Quân nói:\n\nBao nhiêu người ở Lỗ Dương đều là tôi con của ta cả. Vì tỉnh lớn đánh tỉnh nhỏ, nhà lớn đánh nhà nhỏ, để cướp lẫn nhau thì ta tất đem trị tội thật nặng.\n\nMặc Tử nói:\n\nBao nhiêu người trong thiên hạ đều là tôi con của trời cũng như bao nhiêu người trong đất Lỗ Dương là tôi con của nhà vua, nay nhà vua đem quân đánh Trịnh thì há tránh khỏi được vạ trời hay sao!\n\nVăn Quân nói:\n\nSao tiên sinh lại ngăn ta đánh Trịnh. Ta muốn đánh Trịnh là thuận cái chí của trời. Vua nước Trịnh ba đời giết cha, trời đã ra tai, làm mất mùa ba năm.\n\nNay ta phải giúp trời mà giết Trịnh.\n\nMặc Tử nói:\n\nVua nước Trịnh ba đời giết cha, trời đã ra tai, làm mất mùa ba năm, trời phạt như thế cũng là đủ. Nay nhà vua lại còn đem quân đánh Trịnh mà nói rằng:”Ta đánh Trịnh là thuận ý trời” thì là nghĩa thế nào ? Vì như ngay đây có một đứa con ngang ngạnh, cha nó đã cầm roi đánh nó, người cha bên láng giềng lại còn vác gậy ra đánh hôi, bảo rằng:”Ta đánh nó là thuận cái chí của cha nó”. Nói như thế có nghe được không?","loi_ban_vi":"Khi mình cậy sức, cậy nhiều, cậy khôn, cậy tài mà hà hiếp kẻ kém mình, thường cứ hay viện lẽ nọ, cớ kia, để như cho mình là phải mà che mắt thế gian, lấp miệng thiên hạ. Nhưng dù viện lẽ gì cớ gì cũng vẫn không được chính đáng. Danh bất chính thì ngôn bất thuận. Mình đã rắp tâm đè nén người ta, tham lấy của người ta, là mình làm điều phi nghĩa rồi, không bao giờ rửa sạch được cái ô danh nữa. Làm việc bậy mà lấy câu nói phải để tế toái đi có khác gì lấy vóc gấm phủ ngoài cành khô hay tượng đất mà bảo người ta là thánh thần đấy.","giai_nghia":["Lỗ Dương: tên một ấp lớn của nước Sở về thời Xuân Thu, tức là huyện Lỗ Sơn tỉnh Hà Nam bây giờ.","Can: nói để ngăn ai đừng làm việc gì","鲁阳文君 (Lỗ Dương Văn Quân): Một vị quân chủ đất Lỗ Dương, thời Chiến Quốc.","墨子 (Mặc Tử): Triết gia nổi tiếng với thuyết 'Kiêm ái' (Yêu thương mọi người) và phản đối chiến tranh phi nghĩa.","郑人三世杀其父 (Trịnh nhân tam thế sát kỳ phụ): Người nước Trịnh ba đời giết vua cha, ý nói nước Trịnh có loạn nhiều đời.","强梁不材 (cường lương bất tài): Ngang ngạnh, không nên thân."],"tags":["Mặc Tử","Phản chiến","Biện chứng","Đạo đức"]},{"id":57,"title_vi":"DIỀU GỖ","title_zh_simp":"木鸢","title_zh_trad":"木鳶","title_pinyin":"Mù yuān","title_han_viet":"MỘC DUYÊN","title_en":"The Wooden Kite","source_book":"《墨子·魯問》","source_author":"Mặc Tử (墨子)","source_period":"Xuân Thu - Chiến Quốc","content_zh_simp":"公输子削竹木以为鹊，成而飞之，三日不下。公输子自以为至巧。子墨子谓公输子曰：“子之为鹊也，不如匠之为车辖，须臾刘三寸之木，而任五十石之重。故所为功，利于人谓之巧，不利于人谓之拙。”","content_zh_trad":"公輸子削竹木以為鵲，成而飛之，三日不下。公輸子自以為至巧。子墨子謂公輸子曰：「子之為鵲也，不如匠之為車轄，須臾劉三寸之木，而任五十石之重。故所為功，利於人謂之巧，不利於人謂之拙。」","content_pinyin":"Gōngshūzǐ xiāo zhú mù yǐ wéi què, chéng ér fēi zhī, sān rì bù xià. Gōngshūzǐ zì yǐwéi zhì qiǎo. Zǐ Mòzǐ wèi Gōngshūzǐ yuē: “Zǐ zhī wéi què yě, bùrú jiàng zhī wéi chē xiá, xūyú liú sān cùn zhī mù, ér rèn wǔshí dàn zhī zhòng. Gù suǒ wéi gōng, lì yú rén wèi zhī qiǎo, bù lì yú rén wèi zhī zhuō.”","content_han_viet":"Công Thâu Tử tước trúc mộc dĩ vi thước, thành nhi phi chi, tam nhật bất hạ. Công Thâu Tử tự dĩ vi chí xảo. Tử Mặc Tử vị Công Thâu Tử viết: “Tử chi vi thước dã, bất như tượng chi vi xa hạt, tu du lưu tam thốn chi mộc, nhi nhâm ngũ thập thạch chi trọng. Cố sở vi công, lợi ư nhân vị chi xảo, bất lợi ư nhân vị chi chuyết.”","content_vi":"Mặc Tử làm cái diều gỗ, ba năm mới xong. Lúc thả cho bay, được một hôm thì diều hỏng.\n\nHọc trò khen rằng:\n\nThầy làm diều gỗ mà bay được thật là khéo!\n\nMặc tử nói:\n\nTa làm cái diều ba năm mới xong, diều bay mới được một ngày đã hỏng, cho là khéo thế nào được. Sao bằng người làm cái xe gỗ chỉ tốn một ít công không hết một buổi, mà chở được nặng, đi được xa, dùng được lâu năm. Có thế mới gọi là khéo.\n\nHuệ Tử nghe câu chuyện, bảo:\n\nMặc Tử nói thế thật là người khéo.","loi_ban_vi":"Diều gỗ mà bay được, ai không chịu là khéo? Nhưng công làm mất ba năm, dụng chỉ được một ngày, thì cái dụng tưởng như không bổ với cái công.\n\nCho nên Mặc Tử, vốn là người tiết kiệm, chỉ vụ sự làm ăn thiết thực, không cần sự văn hoa vô dụng, ý cho một vật gì sở dĩ gọi là khéo, không phải chỉ là việc làm tinh xảo hơn người, nhưng cốt phải lợi dụng được việc cho người trước. Huệ Tử khen Mặc Tử là cũng theo một cái lý thuyết ấy. Tuy vậy, xét ra ở đời cái khéo và cái dùng không cần gì cứ phải đi đôi với nhau. Thường cái khéo, cái đẹp không cần là hữu dụng hay vô dụng: miếng gỗ, chạm cái tranh vẽ, giọng hát bài đàn chỉ có cho khéo, không thiết dụng mà thực là có ích cho người lắm.","giai_nghia":["公輸子 (Công Thâu Tử): Tức Lỗ Ban, thợ thủ công nổi tiếng thời Xuân Thu.","車轄 (xa hạt): Chốt giữ bánh xe, một bộ phận nhỏ nhưng thiết yếu của cỗ xe.","石 (thạch): Đơn vị đo khối lượng thời xưa, một thạch tương đương khoảng 120 cân (kim khoảng 60kg)."],"tags":["Mặc Tử","Triết lý thực dụng","Sự khéo léo","Ngụ ngôn"]},{"id":58,"title_vi":"LÁ DÓ","title_zh_simp":"玉楮叶","title_zh_trad":"玉楮葉","title_pinyin":"Yù chǔ yè","title_han_viet":"NGỌC CHỮ DIỆP","title_en":"The Jade Mulberry Leaf","source_book":"《列子·說符》","source_author":"Liệt Tử (列子)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"宋人有为其君以玉为楮叶者，三年而成。锋杀茎柯，毫芒繁泽，乱之楮叶中而不可别也。此人遂以食禄于宋邦。列子闻之曰：“使天地之生物，三年而成一叶，则物之有叶者寡矣。故圣人恃道化而不恃智巧。”","content_zh_trad":"宋人有為其君以玉為楮葉者，三年而成。鋒殺莖柯，毫芒繁澤，亂之楮葉中而不可別也。此人遂以食祿於宋邦。列子聞之曰：「使天地之生物，三年而成一葉，則物之有葉者寡矣。故聖人恃道化而不恃智巧。」","content_pinyin":"Sòng rén yǒu wéi qí jūn yǐ yù wéi chǔ yè zhě, sān nián ér chéng. Fēng shā jīng kē, háo máng fán zé, luàn zhī chǔ yè zhōng ér bù kě bié yě. Cǐ rén suì yǐ shí lù yú Sòng bāng. Lièzǐ wén zhī yuē: “Shǐ tiāndì zhī shēngwù, sān nián ér chéng yī yè, zé wù zhī yǒu yè zhě guǎ yǐ. Gù shèngrén shì dào huà ér bù shì zhì qiǎo.”","content_han_viet":"Tống nhân hữu vi kỳ quân dĩ ngọc vi chử diệp giả, tam niên nhi thành. Phong sát hành khoa, hào mang phồn trạch, loạn chi chử diệp trung nhi bất khả biệt dã. Thử nhân toại dĩ thực lộc vu Tống bang. Liệt Tử văn chi viết: “Sử thiên địa chi sinh vật, tam niên nhi thành nhất diệp, tắc vật chi hữu diệp giả quả hĩ. Cố thánh nhân thị đạo hóa nhi bất thị trí xảo.”","content_vi":"Nước Tống có người lấy ngọc, tỉa làm một cái lá dó ba năm mới xong. Cái lá làm rất khéo, sống, cuống, cạnh sắc, lông tơ, màu mỡ giống như hệt, đem trộn với lá dó thật, không ai phân biệt được nữa.\n\nNgười ấy đem cái lá dâng vua Tống. Vua khen là khéo, cấp lương bổng cho.\n\nLiệt Tử nghe thấy chuyện, nói rằng:\n\nGiá bây giờ những cây cối trong khoảng trời đất ba năm mới mọc được cái lá, thời dễ không có mấy cây có lá nữa.","loi_ban_vi":"Bài này cũng gần một ý như bài trên, nói sự khéo chỉ làm trò chơi được một lúc, không đáng chuộng bằng sự thực dụng làm lợi cho mọi người được dái lâu. Song tay người làm ra mà giống được như tạo hóa thì thật là khôn khéo. Mỹ thuật xưa này thường lấy sự bắt chước hệt được như hóa công làm mục đích. Liệt Tử vốn là nhà Lão học, thì lại cho cái cảnh đẹp tự nhiên là đẹp hơn cả, chỉ một cái cảnh ấy cũng làm cho con người đủ được hưởng thụ vui sướng.","giai_nghia":["楮 (chử): Cây dó, một loại cây có vỏ dùng để làm giấy.","食祿 (thực lộc): Hưởng bổng lộc, được nhà nước trả lương.","道化 (đạo hóa): Sự biến hóa tự nhiên theo Đạo, không phải do sức người."],"tags":["Liệt Tử","Đạo giáo","Tự nhiên","Ngụ ngôn"]},{"id":59,"title_vi":"CHỮ TÍN","title_zh_simp":"守信","title_zh_trad":"守信","title_pinyin":"Shǒu Xìn","title_han_viet":"THỦ TÍN","title_en":"Keeping Faith","source_book":"《新序·节士》","source_author":"刘向","source_period":"西汉","content_zh_simp":"鲁君使乐正子为鼎。齐侯求鼎于鲁，鲁君与之伪鼎。齐侯曰：“非乐正子来，吾不信。”鲁君召乐正子，使行。乐正子问曰：“君奚不以真鼎与齐？”鲁君曰：“吾爱其鼎。”对曰：“臣亦爱其信。”鲁君乃以真鼎往。","content_zh_trad":"魯君使樂正子為鼎。齊侯求鼎於魯，魯君與之偽鼎。齊侯曰：「非樂正子來，吾不信。」魯君召樂正子，使行。樂正子問曰：「君奚不以真鼎與齊？」魯君曰：「吾愛其鼎。」對曰：「臣亦愛其信。」魯君乃以真鼎往。","content_pinyin":"Lǔ jūn shǐ Yuèzhèngzǐ wéi dǐng. Qí hóu qiú dǐng yú Lǔ, Lǔ jūn yǔ zhī wěi dǐng. Qí hóu yuē: “Fēi Yuèzhèngzǐ lái, wú bù xìn.” Lǔ jūn zhào Yuèzhèngzǐ, shǐ xíng. Yuèzhèngzǐ wèn yuē: “Jūn xī bù yǐ zhēn dǐng yǔ Qí?” Lǔ jūn yuē: “Wú ài qí dǐng.” Duì yuē: “Chén yì ài qí xìn.” Lǔ jūn nǎi yǐ zhēn dǐng wǎng.","content_han_viet":"Lỗ quân sử Nhạc Chính tử vi đỉnh. Tề hầu cầu đỉnh vu Lỗ, Lỗ quân dữ chi ngụy đỉnh. Tề hầu viết: “Phi Nhạc Chính tử lai, ngô bất tín.” Lỗ quân triệu Nhạc Chính tử, sử hành. Nhạc Chính tử vấn viết: “Quân hề bất dĩ chân đỉnh dữ Tề?” Lỗ quân viết: “Ngô ái kỳ đỉnh.” Đối viết: “Thần diệc ái kỳ tín.” Lỗ quân nãi dĩ chân đỉnh vãng.","content_vi":"I.CÁI ĐỈNH Nước Lỗ có một cái đỉnh rất quý. Nước Tề bắt phải đem dâng. Vua Lỗ tiếc lắm, cho làm một cái đỉnh giả đưa sang.\n\nVua Tề bảo:\n\nPhải có Nhạc Chính Tử đem đỉnh sang nói, thì ta mới tin.\n\nVua Lỗ cho gọi Nhạc Chính Tử đến, bảo đi.\n\nNhạc Tử Chính hỏi:\n\nSao không đưa đỉnh thật?\n\nVua Lỗ nói:\n\nTa quý cái đỉnh ấy lắm.\n\nNhạc Tử Chính thưa:\n\nNhà vua quý cái đỉnh ấy thế nào thì tôi quý cái đức “Tín” của tôi như thế.\n\nSau đó vua Lỗ phải đưa đỉnh thật Nhạc Chính Tử mới chịu đi.\n\nII. THANH GƯƠM Quý Trát là con vua nước Ngô đi du lịch các nước. Khi qua nước Từ vào thăm vua Từ. Vua Từ thấy Quý Trát có thanh gươm báu, muốn xin mà chưa dám nói, Quý Trát trong bụng cũng định cho mà chưa dâng được, vì cuộc du lịch chưa xong. Khi ở nước Tần về, thì vua Từ đã mất rồi. Quý Trát không biết làm thế nào, đành phải đem gươm đến treo chỗ gốc cây bên mộ vua Từ, rồi trở về.\n\nGiải nghĩa Nhạc Chính Tử: người nước Lỗ thời Xuân Thu học trò thầy Tăng Tử Quý Trát: con út vua Ngô, một bậc danh nhân thời Xuân Thu Lời bàn: Nhạc Chính Tử không chịu đem cái đỉnh giả. Quý Trát không chịu về không cho gươm, đều là những người biết trọng chữ “Tín” cả. Giá không nói là thật đã quý, mới hứa trong bụng mà cố làm cho được lại quý hơn nữa. Ôi! Xưa nay chữ tín có giá biết ngần nào! Chữ tín liệt rõ trong ngũ thường, người ở đời giao thiệp cốt lấy chữ tín làm chủ. Cho nên cổ nhân có những câu như: “Nhân vô tín bất lập”(Khổng Tử) nghĩa là không có tín thì không đứng được ở đời. “Tín vi quốc chi bảo”(Tấn Văn Công) nghĩa là tín là cái báu của cả nước.","loi_ban_vi":"Lòng tin là nền tảng của mọi quan hệ, dù là giữa người với người hay giữa nước với nước. Người quân tử coi trọng chữ tín hơn cả bảo vật, bởi một khi đã mất đi lòng tin thì không gì có thể bù đắp được. Hứa trong lòng mà còn giữ trọn, huống chi là lời hứa trước công chúng?","giai_nghia":["乐正子 (Yuèzhèngzǐ / Nhạc Chính tử): Một hiền thần nước Lỗ, học trò của Tăng Tử, nổi tiếng về đức hạnh và sự chính trực.","齐侯 (Qí hóu / Tề hầu): Vua nước Tề, một trong những nước lớn thời Xuân Thu.","鼎 (dǐng / đỉnh): Vật dụng bằng đồng thời cổ, tượng trưng cho quyền lực và sự thịnh vượng của quốc gia."],"tags":["Chữ Tín","Liêm Sỉ","Trung Thực","Đối Ngoại"]},{"id":60,"title_vi":"TỰ LÀM KHOAN KHOÁI","title_zh_simp":"荣启期三乐","title_zh_trad":"榮啟期三樂","title_pinyin":"Róng Qǐqī Sān Lè","title_han_viet":"VINH KHẢI KỲ TAM LẠC","title_en":"Rong Qiqi's Three Joys","source_book":"《列子·天瑞》","source_author":"列御寇","source_period":"战国","content_zh_simp":"孔子游于太山，见荣启期行乎郕之野，鹿裘带索，鼓琴而歌。孔子问曰：“先生所以乐，何也？”对曰：“吾乐甚多。天生万物，唯人为贵，而吾得为人，是一乐也。男女之别，男尊女卑，故以男为贵，吾既得为男矣，是二乐也。人生有不见日月、不免襁褓者，吾既已行年九十矣，是三乐也。贫者士之常也，死者民之终也，居常以待终，何不乐也？”","content_zh_trad":"孔子遊於太山，見榮啟期行乎郕之野，鹿裘帶索，鼓琴而歌。孔子問曰：「先生所以樂，何也？」對曰：「吾樂甚多。天生萬物，唯人為貴，而吾得為人，是一樂也。男女之別，男尊女卑，故以男為貴，吾既得為男矣，是二樂也。人生有不見日月、不免襁褓者，吾既已行年九十矣，是三樂也。貧者士之常也，死者民之終也，居常以待終，何不樂也？」","content_pinyin":"Kǒngzǐ yóu yú Tàishān, jiàn Róng Qǐqī xíng hū Chéng zhī yě, lù qiú dài suǒ, gǔ qín ér gē. Kǒngzǐ wèn yuē: “Xiānshēng suǒ yǐ lè, hé yě?” Duì yuē: “Wú lè shén duō. Tiān shēng wànwù, wéi rén wéi guì, ér wú dé wéi rén, shì yī lè yě. Nánnǚ zhī bié, nán zūn nǚ bēi, gù yǐ nán wéi guì, wú jì dé wéi nán yǐ, shì èr lè yě. Rénshēng yǒu bù jiàn rìyuè, bù miǎn qiǎngbǎo zhě, wú jì yǐ xíngnián jiǔshí yǐ, shì sān lè yě. Pín zhě shì zhī cháng yě, sǐ zhě mín zhī zhōng yě, jū cháng yǐ dài zhōng, hé bù lè yě?”","content_han_viet":"Khổng Tử du vu Thái Sơn, kiến Vinh Khải Kỳ hành hồ Thành chi dã, lộc cừu đái tác, cổ cầm nhi ca. Khổng Tử vấn viết: “Tiên sinh sở dĩ lạc, hà dã?” Đối viết: “Ngô lạc thậm đa. Thiên sinh vạn vật, duy nhân vi quý, nhi ngô đắc vi nhân, thị nhất lạc dã. Nam nữ chi biệt, nam tôn nữ ti, cố dĩ nam vi quý, ngô ký đắc vi nam hĩ, thị nhị lạc dã. Nhân sinh hữu bất kiến nhật nguyệt, bất miễn cưỡng bão giả, ngô ký dĩ hành niên cửu thập hĩ, thị tam lạc dã. Bần giả sĩ chi thường dã, tử giả dân chi chung dã, cư thường dĩ đãi chung, hà bất lạc dã?”","content_vi":"Đức Khổng Tử đi chơi núi Thái Sơn, gặp ông Vinh Khải Kỳ giao du ở ngoài đồng, mặc áo cừu thắt lưng dây, tay gảy đàn cầm, vừa đi vừa hát.\n\nĐức Khổng Tử hỏi:\n\n“Tiên sinh” làm thế nào mà thường vui vẻ thế?\n\nÔng Vinh Khải Kỳ nói:\n\nTrời sinh muôn vật, loài người quý nhất, mà ta được làm người, đó là một điều đáng vui - Trong loài người, đàn ông quý hơn đàn bà, mà ta được làm đàn ông, đó là hai điều đáng vui - Người ta sinh ra có người đui què, có người non yếu mà ta hoàn toàn khỏe mạnh nay đã chín mươi tuổi thế là ba điều đáng vui...Còn cái nghèo là sự thường của thế gian, cái chết là sự chết của đời người. Ta nay xử cảnh thường, đợi lúc hết, thì có gì là lo buồn?\n\nĐức Khổng Tử nói:\n\nPhải lắm! Tiên sinh thế là biết cách tự làm cho khoan khoái mà hưởng sự vui thú ở đời.","loi_ban_vi":"Niềm vui thực sự không nằm ở của cải vật chất hay địa vị xã hội, mà nằm ở thái độ sống và cách nhìn nhận của mỗi người. Biết hài lòng với những gì mình có, chấp nhận quy luật tự nhiên của tạo hóa, thì dù ở hoàn cảnh nào cũng có thể tìm thấy niềm vui. Đó chính là nghệ thuật sống của người xưa.","giai_nghia":[": Thái Sơn là tên một dải núi cao ở tỉnh Sơn Đông.","荣启期 (Róng Qǐqī / Vinh Khải Kỳ): Một ẩn sĩ thời Xuân Thu, nổi tiếng với triết lý sống lạc quan và an bần.","太山 (Tàishān / Thái Sơn): Tức núi Thái Sơn, một trong những ngọn núi linh thiêng nhất của Trung Quốc.","鹿裘 (lù qiú / lộc cừu): Áo khoác bằng da hươu, tượng trưng cho lối sống giản dị của người ẩn sĩ."],"tags":["Lạc Quan","Tri Túc","An Phận","Trí Tuệ"]},{"id":61,"title_vi":"NGƯỜI KHÔN SỐNG LÂU","title_zh_simp":"智者寿","title_zh_trad":"智者壽","title_pinyin":"Zhì zhě shòu","title_han_viet":"TRÍ GIẢ THỌ","title_en":"The Wise Live Long","source_book":"《韓詩外傳》","source_author":"Hàn Anh (Han Ying)","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"鲁哀公问于孔子曰：“智者寿乎？”孔子曰：“然。智者寿，愚者不寿乎？人有三死，而非命也，己自取也。夫寝处不时，饮食不节，佚劳过度者，疾共杀之。居下而好干上，嗜欲无厌，求索不止者，刑共杀之。以少犯众，以弱侮强，忿怒不量力者，兵共杀之。此三死者，非命也，己自取也。”","content_zh_trad":"魯哀公問於孔子曰：“智者壽乎？”孔子曰：“然。智者壽，愚者不壽乎？人有三死，而非命也，己自取也。夫寢處不時，飲食不節，佚勞過度者，疾共殺之。居下而好幹上，嗜欲無厭，求索不止者，刑共殺之。以少犯眾，以弱侮強，忿怒不量力者，兵共殺之。此三死者，非命也，己自取也。”","content_pinyin":"Lǔ Āi gōng wèn yú Kǒngzǐ yuē: “Zhì zhě shòu hū?” Kǒngzǐ yuē: “Rán. Zhì zhě shòu, yú zhě bù shòu hū? Rén yǒu sān sǐ, ér fēi mìng yě, jǐ zì qǔ yě. Fū qǐn chù bù shí, yǐn shí bù jié, yì láo guò dù zhě, jí gòng shā zhī. Jū xià ér hào gān shàng, shì yù wú yàn, qiú suǒ bù zhǐ zhě, xíng gòng shā zhī. Yǐ shǎo fàn zhòng, yǐ ruò wǔ qiáng, fèn nù bù liàng lì zhě, bīng gòng shā zhī. Cǐ sān sǐ zhě, fēi mìng yě, jǐ zì qǔ yě.”","content_han_viet":"Lỗ Ai Công vấn ư Khổng Tử viết: “Trí giả thọ hồ?” Khổng Tử viết: “Nhiên. Trí giả thọ, ngu giả bất thọ hồ? Nhân hữu tam tử, nhi phi mệnh dã, kỷ tự thủ dã. Phu tẩm xử bất thời, ẩm thực bất tiết, dật lao quá độ giả, tật cộng sát chi. Cư hạ nhi hiếu cán thượng, thị dục vô yếm, cầu sách bất chỉ giả, hình cộng sát chi. Dĩ thiếu phạm chúng, dĩ nhược vũ cường, phẫn nộ bất lượng lực giả, binh cộng sát chi. Thử tam tử giả, phi mệnh dã, kỷ tự thủ dã.”","content_vi":"Vua Ai Công nước Lỗ hỏi Đức Khổng Tử:\n\nNgười khôn có sống lâu không?\n\nĐức Khổng Tử đáp:\n\nCó. Khôn thì sống lâu, chớ dại thì sống lâu sao được! Người ta có ba thứ chết, tự mình làm cho mình chết, chớ không phải số mệnh đáng chết mà chết.\n\n- Ăn uống không có chừng mực, thức ngủ không có điều độ, làm lụng khó nhọc quá, lưới biếng chơi bời quá, người như thế phải chết về bệnh tật.\n\n- Phận làm ngưới dưới mà can phạm người trên, lòng tham muốn không chứng, tính yêu không chán, người như thế thì chết về hình pháp.\n\n- Mình ngu, mà kình địch khôn, mình yếu, mà khinh bỉ người mạnh, không biết tự lượng sức mình mà cứ giận dữ làm liều, người như thế chêt vì binh đao Ba thứ chết ấy, thực không phải là số mệnh, chỉ tự mình giết mình mà thôi.\n\nHàn thi ngoại truyện Lời bàn: Xưa nay ta vẫn cho khôn ngoan thì chóng già, ngu xuẩn thì sống lâu, là lấy lý rằng, người khôn dùng trí, dùng sức nhiều, thì chóng suy, người ngu chỉ ăn no ngủ kỹ, không lo lắng gì, thì sống lâu. Nhưng xét một mặt khác thì trái hẳn lại. Khôn thì sống, dại thì chết, khôn ăn người, dại người ăn. Như Đức Khổng Tử đáp vua Ai Công đây chính là ngụ cái ý đó. Ôi! Sống chết tùy tại mệnh trời, nhưng thường khi người cũng có phần vào đấy, lắm người chỉ ngu xuẩn, không biết giữ vệ sinh, không hiểu pháp luật, không biết tự lượng mà thành không đáng chết cũng phải chết. Chết như thế là chết uổng nên thương, thương vì ngu dại.","loi_ban_vi":"Sống chết tuy có mệnh trời, nhưng người khôn biết giữ mình, thuận lẽ tự nhiên, cho nên bảo toàn được tính mệnh. Kẻ ngu dại không biết lượng sức, hành xử trái lẽ, dẫu trời không giết, mà hình phạt, bệnh tật, binh đao cũng giết. Vậy nên người quân tử cầu sống lâu, không phải cầu ở thuật trường sinh, mà cầu ở sự minh bạch lẽ sống, biết điều độ, biết nhún nhường, biết lượng sức, thì tự nhiên tai họa không thể xâm phạm, tuổi thọ bền lâu vậy.","giai_nghia":["Ai Công (哀公): Vua nước Lỗ, tại vị 494-468 TCN, nổi tiếng là vị vua yếu kém, thường hỏi Khổng Tử về chính sự.","三死 (tam tử): Ba thứ chết, chỉ ba nguyên nhân chính dẫn đến cái chết không phải do mệnh trời.","寢處不時 (tẩm xử bất thời): Ngủ nghỉ không đúng giờ giấc, sinh hoạt thất thường.","佚勞過度 (dật lao quá độ): Làm việc nghỉ ngơi quá độ, không điều độ.","居下而好干上 (cư hạ nhi hiếu cán thượng): Ở địa vị thấp mà thích chống đối, xúc phạm cấp trên."],"tags":["Khổng Tử","Trí tuệ","Dưỡng sinh","Đạo đức"]},{"id":62,"title_vi":"VỢ RĂN CHỒNG","title_zh_simp":"御者妻","title_zh_trad":"禦者妻","title_pinyin":"Yù zhě qī","title_han_viet":"NGỰ GIẢ THÊ","title_en":"The Charioteer's Wife","source_book":"《晏子春秋》","source_author":"Án Anh (Yan Ying)","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"晏子为齐相，出，其御之妻从门间而窥其夫。其夫为相御，拥大盖，策驷马，意气扬扬，甚自得也。既而归，其妻请去。夫问其故。妻曰：“晏子长不满六尺，身相齐国，名显诸侯。今者妾观其出，志念深矣，常有以自下者。今子长八尺，乃为人仆御，然子之意自以为足，妾是以求去也。”其后夫自抑损。晏子怪而问之，御以实对。晏子荐以为大夫。","content_zh_trad":"晏子為齊相，出，其禦之妻從門間而窺其夫。其夫為相禦，擁大蓋，策駟馬，意氣揚揚，甚自得也。既而歸，其妻請去。夫問其故。妻曰：“晏子長不滿六尺，身相齊國，名顯諸侯。今者妾觀其出，志念深矣，常有以自下者。今子長八尺，乃為人仆禦，然子之意自以為足，妾是以求去也。”其後夫自抑損。晏子怪而問之，禦以實對。晏子薦以為大夫。","content_pinyin":"Yànzǐ wéi Qí xiàng, chū, qí yù zhī qī cóng mén jiān ér kuī qí fū. Qí fū wèi xiàng yù, yōng dà gài, cè sì mǎ, yìqì yángyáng, shén zìdé yě. Jì ér guī, qí qī qǐng qù. Fū wèn qí gù. Qī yuē: “Yànzǐ cháng bù mǎn liù chǐ, shēn xiàng Qí guó, míng xiǎn zhūhóu. Jīn zhě qiè guān qí chū, zhìniàn shēn yǐ, cháng yǒu yǐ zì xià zhě. Jīn zǐ cháng bā chǐ, nǎi wéi rén pú yù, rán zǐ zhī yì zì yǐwéi zú, qiè shì yǐ qiú qù yě.” Qí hòu fū zì yì sǔn. Yànzǐ guài ér wèn zhī, yù yǐ shí duì. Yànzǐ jiàn yǐwéi dàfū.","content_han_viet":"Án Tử vi Tề tướng, xuất, kỳ ngự chi thê tòng môn gian nhi khuy kỳ phu. Kỳ phu vi tướng ngự, ủng đại cái, sách tứ mã, ý khí dương dương, thậm tự đắc dã. Ký nhi quy, kỳ thê thỉnh khứ. Phu vấn kỳ cố. Thê viết: “Án Tử trường bất mãn lục xích, thân tướng Tề quốc, danh hiển chư hầu. Kim giả thiếp quan kỳ xuất, chí niệm thâm hĩ, thường hữu dĩ tự hạ giả. Kim tử trường bát xích, nãi vi nhân bộ ngự, nhiên tử chi ý tự dĩ vi túc, thiếp thị dĩ cầu khứ dã.” Kỳ hậu phu tự ức tổn. Án Tử quái nhi vấn chi, ngự dĩ thực đối. Án Tử tiến dĩ vi đại phu.","content_vi":"Án Tử làm tướng nước Tề, một hôm đi việc quan, có tên đánh xe theo hầu.\n\nVợ tên đánh xe dòm qua khe cửa, thấy chồng tay cầm cái dù, tay cầm cương, mặt vác lên trời, dương dương tự đắc.\n\nLúc chồng về nhà, nàng xin bỏ nhà ra đi. Chồng hỏi: Tại làm sao? Nàng nói:\n\n“Án Tử, người thấp bé nhỏ làm đến Tướng nước Tề, danh tiếng lừng lẫy khắp thiên hạ, thế mà thiếp thấy ông ấy vẫn có ý trầm trọng, khiêm nhường, như chửa bằng ai. Chớ như chàng, cao lớn đẫy đà chỉ mới làm được một tên đánh xe tầm thường hèn hạ thế mà thiếp xem chàng đã ra dáng lấy làm vinh hạnh, tưởng không ai bằng nữa, nên thiếp xin bỏ chàng, thiếp đi”.\n\nTừ hôm ấy, tến đánh xe bỏ được cái bộ vênh váo, chữa được cái tính nông nổi. Án Tử thấy thế làm lạ, hỏi. Tên đánh xe đem việc nhà kể lại. Án Tử bèn cất cho làm đại phu.","loi_ban_vi":"Tên đánh xe của Án Tử thực là sang vì vợ, nhờ được người vợ giỏi, biết lấy cái địa vị hèn hạ, cái dáng bộ ngông nghênh của chồng làm xấu hổ, mà sửa được cái tâm tính tâm tính chồng và thành được thân danh cho chồng.\n\nTiếc thay ở đời bây giờ, có biết bao nhiêu kẻ chỉ làm môn hạ người ta, đã bênh váo lên mặt, ngênh ngang tự đắc như tên đánh xe, mà lại không có được những người vợ, như vợ tên đánh xe để khuyên răn lấy chồng, làm cho chồng biết tự sỉ mà phấn chí tu tỉnh cho ra người.","giai_nghia":["Án Tử (晏子): Tức Án Anh (晏嬰, ?-500 TCN), danh tướng nước Tề thời Xuân Thu, nổi tiếng về tài ngoại giao và đức độ.","御者 (ngự giả): Người đánh xe, một chức vụ thấp kém trong xã hội thời cổ.","擁大蓋 (ủng đại cái): Ôm lấy cái lọng lớn, chỉ việc đánh xe cho quan lớn, có lọng che.","自抑損 (tự ức tổn): Tự hạ mình xuống, bỏ đi vẻ kiêu căng, tự mãn.","大夫 (đại phu): Chức quan cao trong triều đình thời Xuân Thu."],"tags":["Án Tử","Vợ chồng","Khiêm nhường","Tu thân"]},{"id":63,"title_vi":"BÀ HUYỆN CAN ĐẢM","title_zh_simp":"杨烈妇传","title_zh_trad":"楊烈婦傳","title_pinyin":"Yáng Lièfù Zhuàn","title_han_viet":"DƯƠNG LIỆT PHỤ TRUYỆN","title_en":"Biography of Lady Yang, the Righteous Woman","source_book":"《新唐书·列女传》","source_author":"Âu Dương Tu, Tống Kỳ","source_period":"Bắc Tống","content_zh_simp":"建中末，李希烈陷汴州，谋袭陈州。项城县令李侃不知所为。其妻杨氏曰：“君，县令，寇至当守；力不足，死焉，职也。君如逃，则谁守？”侃曰：“兵与财皆无，将若何？”杨氏曰：“如不守，县为贼所得矣！仓廪皆其积也，府库皆其财也，百姓皆其战士也，国家何有？夺贼之财而食其食，重赏以令死士，其必济！”于是召胥吏、百姓于庭。杨氏言曰：“县令，诚主也；虽然，岁满则罢去，非若吏人、百姓然。吏人、百姓，邑人也，坟墓存焉，宜相与致死以守其邑，忍失其身而为贼之人耶？”众皆泣，许之。乃徇曰：“以瓦石中贼者，与之千钱；以刀矢兵刃之物中贼者，与之万钱。”得数百人，侃率之以乘城。杨氏亲爨以食众，无少长必周而均。使侃与贼言曰：“项城父老，义不为贼矣，皆悉力守死。得吾城不足以威，不如亟去；徒失利，无益也。”贼皆笑。有飞矢集于侃之手，侃伤而归。杨氏责之曰：“君不在，则谁人肯固矣！与其死于城上，不犹愈于家乎？”侃遂忍之，复登陴。项城小邑，无长戟劲弩、高城深沟之固。贼气吞焉，将超城而下。有以弱弓射贼者，中其帅，坠马死。其帅，希烈之婿也。贼失势，遂相与散走。项城之人无伤焉。刺史上侃之功，诏迁绛州太平县令。杨氏卒，史官书之，以警后世之为臣而怀二心者。","content_zh_trad":"建中末，李希烈陷汴州，謀襲陳州。項城縣令李侃不知所為。其妻楊氏曰：“君，縣令，寇至當守；力不足，死焉，職也。君如逃，則誰守？”侃曰：“兵與財皆無，將若何？”楊氏曰：“如不守，縣為賊所得矣！倉廩皆其積也，府庫皆其財也，百姓皆其戰士也，國家何有？奪賊之財而食其食，重賞以令死士，其必濟！”於是召胥吏、百姓於庭。楊氏言曰：“縣令，誠主也；雖然，歲滿則罷去，非若吏人、百姓然。吏人、百姓，邑人也，墳墓存焉，宜相與致死以守其邑，忍失其身而為賊之人耶？”眾皆泣，許之。乃徇曰：“以瓦石中賊者，與之千錢；以刀矢兵刃之物中賊者，與之萬錢。”得數百人，侃率之以乘城。楊氏親爨以食眾，無少長必周而均。使侃與賊言曰：“項城父老，義不為賊矣，皆悉力守死。得吾城不足以威，不如亟去；徒失利，無益也。”賊皆笑。有飛矢集於侃之手，侃傷而歸。楊氏責之曰：“君不在，則誰人肯固矣！與其死於城上，不猶愈於家乎？”侃遂忍之，復登陴。項城小邑，無長戟勁弩、高城深溝之固。賊氣吞焉，將超城而下。有以弱弓射賊者，中其帥，墜馬死。其帥，希烈之婿也。賊失勢，遂相與散走。項城之人無傷焉。刺史上侃之功，詔遷絳州太平縣令。楊氏卒，史官書之，以警後世之為臣而懷二心者。","content_pinyin":"Jiànzhōng mò, Lǐ Xīliè xiàn Biànzhōu, móu xí Chénzhōu. Xiàngchéng xiànlìng Lǐ Kǎn bùzhī suǒ wéi. Qí qī Yángshì yuē: “Jūn, xiànlìng, kòu zhì dāng shǒu; lì bùzú, sǐ yān, zhí yě. Jūn rú táo, zé shéi shǒu?” Kǎn yuē: “Bīng yǔ cái jiē wú, jiāng ruòhé?” Yángshì yuē: “Rú bù shǒu, xiàn wèi zéi suǒdé yǐ! Cānglǐn jiē qí jī yě, fǔkù jiē qí cái yě, bǎixìng jiē qí zhànshì yě, guójiā hé yǒu? Duó zéi zhī cái ér shí qí shí, zhòngshǎng yǐ lìng sǐshì, qí bì jì!” Yúshì zhào xūlì, bǎixìng yú tíng. Yángshì yán yuē: “Xiànlìng, chéng zhǔ yě; suīrán, suì mǎn zé bà qù, fēi ruò lì rén, bǎixìng rán. Lì rén, bǎixìng, yì rén yě, fénmù cún yān, yí xiāng yǔ zhìsǐ yǐ shǒu qí yì, rěn shī qí shēn ér wèi zéi zhī rén yé?” Zhòng jiē qì, xǔ zhī. Nǎi xùn yuē: “Yǐ wǎ shí zhòng zéi zhě, yǔ zhī qiān qián; yǐ dāo shǐ bīng rèn zhī wù zhòng zéi zhě, yǔ zhī wàn qián.” Dé shù bǎi rén, Kǎn lǜ zhī yǐ chéng chéng. Yángshì qīn cuàn yǐ shí zhòng, wú shào zhǎng bì zhōu ér jūn. Shǐ Kǎn yǔ zéi yán yuē: “Xiàngchéng fùlǎo, yì bù wéi zéi yǐ, jiē xīlì shǒu sǐ. Dé wú chéng bùzú yǐ wēi, bùrú jí qù; tú shīlì, wú yì yě.” Zéi jiē xiào. Yǒu fēi shǐ jí yú Kǎn zhī shǒu, Kǎn shāng ér guī. Yángshì zé zhī yuē: “Jūn bù zài, zé shéi rén kěn gù yǐ! Yǔ qí sǐ yú chéng shàng, bù yóu yù yú jiā hū?” Kǎn suì rěn zhī, fù dēng pí. Xiàngchéng xiǎo yì, wú cháng jǐ jìng nǔ, gāo chéng shēn gōu zhī gù. Zéi qì tūn yān, jiāng chāo chéng ér xià. Yǒu yǐ ruò gōng shè zéi zhě, zhòng qí shuài, zhuì mǎ sǐ. Qí shuài, Xīliè zhī xù yě. Zéi shīshì, suì xiāng yǔ sàn zǒu. Xiàngchéng zhī rén wú shāng yān. Cìshǐ shàng Kǎn zhī gōng, zhào qiān Jiàngzhōu Tàipíng xiànlìng. Yángshì zú, shǐguān shū zhī, yǐ jǐng hòushì zhī wéi chén ér huái èr xīn zhě.","content_han_viet":"Kiến Trung mạt, Lý Hy Liệt hãm Biện Châu, mưu tập Trần Châu. Hạng Thành huyện lệnh Lý Khản bất tri sở vi. Kỳ thê Dương thị viết: “Quân, huyện lệnh, khấu chí đương thủ; lực bất túc, tử yên, chức dã. Quân như đào, tắc thùy thủ?” Khản viết: “Binh dữ tài giai vô, tương nhược hà?” Dương thị viết: “Như bất thủ, huyện vi tặc sở đắc hĩ! Thương lẫm giai kỳ tích dã, phủ khố giai kỳ tài dã, bách tính giai kỳ chiến sĩ dã, quốc gia hà hữu? Đoạt tặc chi tài nhi thực kỳ thực, trọng thưởng dĩ lệnh tử sĩ, kỳ tất tế!” Vu thị triệu tô lại, bách tính vu đình. Dương thị ngôn viết: “Huyện lệnh, thành chủ dã; tuy nhiên, tuế mãn tắc bãi khứ, phi nhược lại nhân, bách tính nhiên. Lại nhân, bách tính, ấp nhân dã, phần mộ tồn yên, nghi tương dữ trí tử dĩ thủ kỳ ấp, nhẫn thất kỳ thân nhi vi tặc chi nhân da?” Chúng giai khấp, hứa chi. Nãi tuẫn viết: “Dĩ ngõa thạch trúng tặc giả, dữ chi thiên tiền; dĩ đao thỉ binh nhận chi vật trúng tặc giả, dữ chi vạn tiền.” Đắc sổ bách nhân, Khản suất chi dĩ thừa thành. Dương thị thân thoán dĩ thực chúng, vô thiếu trưởng tất chu nhi quân. Sử Khản dữ tặc ngôn viết: “Hạng Thành phụ lão, nghĩa bất vi tặc hĩ, giai tất lực thủ tử. Đắc ngô thành bất túc dĩ uy, bất như cấp khứ; đồ thất lợi, vô ích dã.” Tặc giai tiếu. Hữu phi thỉ tập vu Khản chi thủ, Khản thương nhi quy. Dương thị trách chi viết: “Quân bất tại, tắc thùy nhân khẳng cố hĩ! Dữ kỳ tử vu thành thượng, bất do dũ vu gia hồ?” Khản toại nhẫn chi, phục đăng tỳ. Hạng Thành tiểu ấp, vô trường kỵ kính nỗ, cao thành thâm câu chi cố. Tặc khí thôn yên, tương siêu thành nhi hạ. Hữu dĩ nhược cung xạ tặc giả, trúng kỳ soái, trụy mã tử. Kỳ soái, Hy Liệt chi tế dã. Tặc thất thế, toại tương dữ tán tẩu. Hạng Thành chi nhân vô thương yên. Thứ sử thượng Khản chi công, chiếu thiên Giáng Châu Thái Bình huyện lệnh. Dương thị tốt, sử quan thư chi, dĩ cảnh hậu thế chi vi thần nhi hoài nhị tâm giả.","content_vi":"Đời nhà Đường, giặc Lý Hy Liệt đã đánh được Châu Biện, kéo đến đánh huyện Hạng Thành. Quan huyện Hạng Thành là Lý Khản muốn chạy trốn. Bà Huyện người họ Dương nói:\n\n“Giặc đến cướp thành thì phải hết sức giữ thành, giữ mà không được thì phải liều chết với thành, nay ông lại chực trốn, nghĩa là làm sao? Bây giờ cứ mộ quân cho nhiều, khao thưởng cho to, thiếp tưởng còn giữ được thành.”\n\nNói rồi, chính Bà huyện hội họp cả nha lệ, sĩ dân lại hiểu dụ rằng”\n\n“Quan huyện là chủ các ngươi thật nhưng chẳng qua chỉ ở đây độ năm, ba năm rồi cũng thiên đi nơi khác, không liên can lắm bằng các ngươi sinh trưởng ở đất này, gây dựng cơ nghiệp ở đất này, mồ mả ông cha cũng ở đất này, vậy sống chết các người cũng phải hết sức mà giữ lấy thành thì mới được.”\n\nAi nấy nghe đều cảm động, rơm rớm nước mắt và đoạn xin liều chết để cố giữ thành. Bà huyện hạ lệnh rằng:\n\n“Ai lấy gạch đá đánh được giặc, thưởng tiền một nghìn, ai lấy gươm giáo giữ được giặc thưởng liền một muôn.”\n\nTất cả được hơn một trăm người kéo nhau ra giữ thành, chống lại với giặc.\n\nBà huyện thân đi trông nom lương thực cho quân lính. Khi giao chiến, quan huyện phải một mũi tên, lùi về, ý không muốn đánh nữa. Bà huyện giận nói:\n\n“Ông không ở đấy thì ai chịu liều chết? Cho ông giữ thành mà có chết lại chả hơn ở xó giường ư?”\n\nÔng huyện nghe cảm kích, hăng hái hơn trước, lại chạy lên thành, liều đánh một trận nữa, quân giặc túng thế phải kéo đi. Huyện Hạng Thành nhờ thế được an toàn.","loi_ban_vi":"Làm quan không che chở cho dân lúc giặc đến, lại sợ chết muốn trốn tránh, thì chẳng là nhút nhát không hiểu cái nghĩa tận tâm với chức vụ là gì ư! Một ông huyện như thế đáng khinh bao nhiêu, thì một bà huyện như vợ ông huyện ấy lại đáng trọng bấy nhiêu. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Chỉ nhờ cái lòng can đảm của bà mà dân phải cảm kích, cả huyện được an toàn. Quý nhất câu bà nói: “Giữ thành mà chết còn hơn chết ở xó giường” thì cái chí khí có kém gì những bậc tu mi vừa anh hùng vừa khí phách.","giai_nghia":["李希烈 (Lý Hy Liệt): Một tướng phản loạn cuối thời Đường, tự xưng là Hoàng đế nước Sở.","爨 (cuàn): Từ cổ chỉ việc nhóm lửa, nấu ăn.","陴 (pí): Chỉ bức tường thấp trên thành, tức bờ tường thành."],"tags":["Tiết Nghĩa","Nữ Tử","Trí Dũng","Trung Thành"]},{"id":64,"title_vi":"THẾ NÀO LÀ TRUNG THẦN","title_zh_simp":"鲁阳文君问于墨子","title_zh_trad":"魯陽文君問於墨子","title_pinyin":"Lǔyáng Wénjūn wèn yú Mòzǐ","title_han_viet":"LỖ DƯƠNG VĂN QUÂN VẤN Ư MẶC TỬ","title_en":"The Lord of Luyang Asks Mozi What Makes a Loyal Minister","source_book":"《墨子·鲁问》","source_author":"Mặc Tử (Mặc Địch)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"鲁阳文君谓子墨子曰：“有语我以忠臣者，令之俯则俯，令之仰则仰，处则静，呼则应，可谓忠臣乎？”子墨子曰：“令之俯则俯，令之仰则仰，是似景也。处则静，呼则应，是似响也。君将何得于景与响哉？若以翟之所谓忠臣者，上有过，则微之以谏；己有善，则访之上，而无敢以告外。匡其邪，而入其善，尚同而无下比，是以美善在上，而怨雠在下；安乐在上，而忧戚在臣。此翟之所谓忠臣者也。”","content_zh_trad":"魯陽文君謂子墨子曰：“有語我以忠臣者，令之俯則俯，令之仰則仰，處則靜，呼則應，可謂忠臣乎？”子墨子曰：“令之俯則俯，令之仰則仰，是似景也。處則靜，呼則應，是似響也。君將何得於景與響哉？若以翟之所謂忠臣者，上有過，則微之以諫；己有善，則訪之上，而無敢以告外。匡其邪，而入其善，尚同而無下比，是以美善在上，而怨讎在下；安樂在上，而憂戚在臣。此翟之所謂忠臣者也。”","content_pinyin":"Lǔyáng Wénjūn wèi Zǐ Mòzǐ yuē: “Yǒu yǔ wǒ yǐ zhōngchén zhě, lìng zhī fǔ zé fǔ, lìng zhī yǎng zé yǎng, chù zé jìng, hū zé yìng, kě wèi zhōngchén hū?” Zǐ Mòzǐ yuē: “Lìng zhī fǔ zé fǔ, lìng zhī yǎng zé yǎng, shì sì jǐng yě. Chù zé jìng, hū zé yìng, shì sì xiǎng yě. Jūn jiāng hé dé yú jǐng yǔ xiǎng zāi? Ruò yǐ Dí zhī suǒwèi zhōngchén zhě, shàng yǒu guò, zé wēi zhī yǐ jiàn; jǐ yǒu shàn, zé fǎng zhī shàng, ér wú gǎn yǐ gào wài. Kuāng qí xié, ér rù qí shàn, shàngtóng ér wú xià bǐ, shì yǐ měi shàn zài shàng, ér yuàn chóu zài xià; ānlè zài shàng, ér yōuqī zài chén. Cǐ Dí zhī suǒwèi zhōngchén zhě yě.”","content_han_viet":"Lỗ Dương Văn Quân vị Tử Mặc Tử viết: “Hữu ngữ ngã dĩ trung thần giả, lệnh chi phủ tắc phủ, lệnh chi ngưỡng tắc ngưỡng, xử tắc tĩnh, hô tắc ứng, khả vị trung thần hồ?” Tử Mặc Tử viết: “Lệnh chi phủ tắc phủ, lệnh chi ngưỡng tắc ngưỡng, thị tự cảnh dã. Xử tắc tĩnh, hô tắc ứng, thị tự hưởng dã. Quân tương hà đắc vu cảnh dữ hưởng tai? Nhược dĩ Địch chi sở vị trung thần giả, thượng hữu quá, tắc vi chi dĩ gián; kỷ hữu thiện, tắc phóng chi thượng, nhi vô cảm dĩ cáo ngoại. Khuông kỳ tà, nhi nhập kỳ thiện, thượng đồng nhi vô hạ bỉ, thị dĩ mỹ thiện tại thượng, nhi oán cừu tại hạ; an lạc tại thượng, nhi ưu thích tại thần. Thử Địch chi sở vị trung thần giả dã.”","content_vi":"Vua Quân đất Lỗ Dương bảo Mặc Tử: “Có kẻ nói với ta rằng: Trung thần là người bắt cúi thì cúi, ,bắt ngửng thì ngửng, để thì im, gọi thì thưa, như thế có cho là trung thần được không?”\n\nMặc Tử nói: “Bắt cúi thì cúi, bắt ngửng thì ngửng, như thế khác nào cái bóng? Để thì im, gọi thì thưa, như thế khác nào tiếng vang? Quan liêu mà dùng đến những kẻ như bóng, như vang, thì còn được ích gì? Cứ như tôi đây mà gọi là trung thần, thì khi vua có lầm lỗi, phải liệu cách can ngăn mà đưa vào điều thiện; khi mình có điều hay, phải tìm đường bày tỏ, mà không lộ ra ngoài; trên thì thành thực một lòng, một dạ với vua; dưới thì không a dua vào bè kết đảng với ai; những sự tốt lành yên vui thì để phần vua hưởng, những điều oán thù lo lắng thì mình hứng đựng. Có được như thế, thì tôi mới cho là trung thần.”","loi_ban_vi":"Trung thần không phải là kẻ tùy ý vua sai khiến như hình với bóng, mà là người dám đứng ra gánh vác việc nước, can gián khi vua có lỗi, chia sẻ ưu tư khi nước gặp nạn. Bậc làm tôi tận trung, phải lấy xã tắc làm trọng, lấy lẽ phải làm khuôn phép, chứ không phải lấy lòng vua làm kim chỉ nam cho mọi hành động. Kẻ chỉ biết vâng lời, a dua, chẳng khác nào bóng với vang, hão huyền mà vô dụng, không thể gánh vác nổi trọng trách quốc gia.","giai_nghia":["鲁阳文君 (Lỗ Dương Văn Quân): Một vị quân chủ nước Lỗ Dương, thời Chiến Quốc, thường vấn đáp với Mặc Tử.","景 (cảnh): Chữ cổ của 影 (映), nghĩa là cái bóng.","响 (hưởng): Tiếng vang.","翟 (Địch): Tên thật của Mặc Tử, tên là Mặc Địch."],"tags":["Trung Thần","Mặc Tử","Đạo Làm Tôi","Chính Trị"]},{"id":65,"title_vi":"BÁO THÙ","title_zh_simp":"报仇","title_zh_trad":"報仇","title_pinyin":"Bàochóu","title_han_viet":"BÁO THÙ","title_en":"Revenge","source_book":"《左传》","source_author":"左丘明","source_period":"春秋时期","content_zh_simp":"吴越交战，吴王阖庐败，为越所伤而死。子夫差继位，誓必复仇。使人立于庭，每出入，必呼曰：“夫差！而忘越王之杀而父乎？”则对曰：“唯，不敢忘！”三年，乃报越。越败，越王勾践请和。虽得和，日夜焦思，卧薪尝胆，身自耕作，夫人自织，食不加肉，衣不重采，折节下贤人，厚遇宾客，振贫吊死，与百姓同其劳。二十余年，越果灭吴。","content_zh_trad":"吳越交戰，吳王闔廬敗，為越所傷而死。子夫差繼位，誓必復仇。使人立於庭，每出入，必呼曰：“夫差！而忘越王之殺而父乎？”則對曰：“唯，不敢忘！”三年，乃報越。越敗，越王勾踐請和。雖得和，日夜焦思，臥薪嘗膽，身自耕作，夫人自織，食不加肉，衣不重采，折節下賢人，厚遇賓客，振貧弔死，與百姓同其勞。二十餘年，越果滅吳。","content_pinyin":"Wú-Yuè jiāozhàn, Wú wáng Hélú bài, wèi Yuè suǒ shāng ér sǐ. Zǐ Fūchāi jì wèi, shì bì fùchóu. Shǐ rén lì yú tíng, měi chūrù, bì hū yuē: “Fūchāi! Ér wàng Yuè wáng zhī shā ér fù hū?” Zé duì yuē: “Wéi, bù gǎn wàng!” Sān nián, nǎi bào Yuè. Yuè bài, Yuè wáng Gōujiàn qǐnghé. Suī dé hé, rìyè jiāo sī, wò xīn cháng dǎn, shēn zì gēngzuò, fūrén zì zhī, shí bù jiā ròu, yī bù chóng cǎi, zhé jié xià xián rén, hòu yù bīnkè, zhèn pín diào sǐ, yǔ bǎixìng tóng qí láo. Èrshí yú nián, Yuè guǒ miè Wú.","content_han_viet":"Ngô Việt giao chiến, Ngô vương Hạp Lư bại, vì Việt sở thương nhi tử. Tử Phù Sai kế vị, thệ tất phục thù. Sử nhân lập vu đình, mỗi xuất nhập, tất hô viết: “Phù Sai! Nhi vong Việt vương chi sát nhi phụ hồ?” Tắc đối viết: “Duy, bất cảm vong!” Tam niên, nãi báo Việt. Việt bại, Việt vương Câu Tiễn thỉnh hòa. Tuy đắc hòa, nhật dạ tiêu tư, ngoạ tân thường đảm, thân tự canh tác, phu nhân tự chức, thực bất gia nhục, y bất trùng thái, chiết tiết há hiền nhân, hậu ngộ tân khách, chấn bần điếu tử, dữ bách tính đồng kỳ lao. Nhị thập dư niên, Việt quả diệt Ngô.","content_vi":"Nước Ngô, nước Việt đánh nhau.\n\nVua Ngô là Hạp Lư thua trận, phải quân Việt đâm chết. Con Hạp Lư là Phù Sai nối ngôi làm vua, thề thế nào cũng phục thù được cho cha mới nghe.\n\nPhù Sai bèn cho người đứng ở sân, mỗi khi mình ra vào, người ấy phải nói to lên rằng:\n\n“Phù Sai kia! Nước Việt nó giết chết cha mày mà mày quên ư?”\n\nPhù Sai thưa rằng: “Dạ không dám quên.”\n\nBa năm sau, quả nhiên Phù Sai đánh được nước Việt, báo thù cho cha.\n\nLúc nước Việt thua, vua Việt là Câu Tiễn sang cầu Hòa. Tuy rằng được hòa; nhưng đêm ngày âu sầu, lo nghĩ nát gan, tan ruột. Chất củi làm giường nằm, treo cái mật trước chỗ ngồi. Khi nằm thì trông cái mật, khi ăn thì nếm cái mật. Chính thân thì cày cuốc, vợ thì dệt vải, làm ăn lao khổ như thường dân. Ai là bậc hiền tài thì trọng dụng, ai là kẻ khốn khó thì cứu giúp. Hơn hai mươi năm trời, lúc nào cũng như vậy. Sau Câu tiễn xem chừng lòng dân đã khiến được, bấy giờ mới đem quân sang đánh Ngô, quả nhiên Ngô lại thua mà Việt được.\n\nChu Thư","loi_ban_vi":"Một bên vì cha mà báo thù, một bên vì nước mà báo thù, hai cái thù không đội trời chung, mà dụng tâm theo đuổi đến báo kì được mới nghe thực là chính đáng, khiến ai nghe thấy cũng phải kính phục. Nếu Phù Sai, Câu Tiến gặp cái cảnh đau đớn như thế, mà cứ mặt dày mày dạn điềm nhiên như không, thì chẳng là đất đá, không biết nhục là cái gì ư! Có biết nhục thì sau mới rửa được nhục. Khi đã rửa được nhục lại cần phải tu tỉnh luôn luôn và quí nhất là cảm hóa, nâng đỡ kẻ thù đã chịu lui bước hay đầu hàng để cho họ đỡ đau khổ, có địa vị, thì mới được yên lâu. Nếu rửa nhục xong mà kiêu căng đại nọa, quên cả phòng bị thì lại chuốc lấy nhục mà oan oan tương báo, chỉ những tàn hại nhau hoài mà thôi.","giai_nghia":["Chú thích 1: Hạp Lư (阖庐): Vua nước Ngô thời Xuân Thu, bị thương trong trận chiến với nước Việt và qua đời.","Chú thích 2: Phù Sai (夫差): Con trai của Hạp Lư, vua nước Ngô, nổi tiếng với việc báo thù cho cha và sau này bị Câu Tiễn đánh bại.","Chú thích 3: Câu Tiễn (勾践): Vua nước Việt, nổi tiếng với câu chuyện 'nếm mật nằm gai' (卧薪尝胆) để rửa nhục và phục quốc.","Chú thích 4: Ngoạ tân thường đảm (卧薪尝胆): Ngủ trên củi và nếm mật, ý chỉ sự khổ tâm, nhẫn nhục để theo đuổi mục đích lớn."],"tags":["Báo thù","Nhẫn nhục","Phục quốc","Lịch sử Trung Quốc"]},{"id":66,"title_vi":"CÁCH DÙNG PHÁP LUẬT","title_zh_simp":"用法的艺术","title_zh_trad":"用法的藝術","title_pinyin":"Yòngfǎ de yìshù","title_han_viet":"DỤNG PHÁP NGHỆ THUẬT","title_en":"The Art of Law","source_book":"《左传·昭公二十年》","source_author":"左丘明","source_period":"春秋时期","content_zh_simp":"卫灵公之时，蘧伯玉为相，史鰌为大夫，公叔文子为家老。公叔文子卒，其子戍请谥于君。君曰：“夫子何如？”对曰：“夫子有三不惑：居处不淫，饮食不溷，交际不贰。是以三不惑。”君曰：“善哉！请谥曰贞子。”初，卫公叔文子朝而请享灵公，退见史鰌而告之。史鰌曰：“子必祸矣！子富而君贪，罪其及子乎！”文子曰：“然。吾不先告子，是吾罪也。君既许我矣，其若之何？”史鰌曰：“无害。子臣，可以免。富而能臣，必免于难，上下同之。子其行乎！”文子再拜曰：“敢不承命。”及文子卒，卫侯始恶于公叔戍，以其富也。公叔戍又将去夫人之党，夫人愬之曰：“戍将为乱。”","content_zh_trad":"衛靈公之時，蘧伯玉為相，史鰌為大夫，公叔文子為家老。公叔文子卒，其子戍請諡於君。君曰：“夫子何如？”對曰：“夫子有三不惑：居處不淫，飲食不溷，交際不貳。是以三不惑。”君曰：“善哉！請諡曰貞子。”初，衛公叔文子朝而請享靈公，退見史鰌而告之。史鰌曰：“子必禍矣！子富而君貪，罪其及子乎！”文子曰：“然。吾不先告子，是吾罪也。君既許我矣，其若之何？”史鰌曰：“無害。子臣，可以免。富而能臣，必免於難，上下同之。子其行乎！”文子再拜曰：“敢不承命。”及文子卒，衛侯始惡於公叔戍，以其富也。公叔戍又將去夫人之黨，夫人愬之曰：“戍將為亂。”","content_pinyin":"Wèi Línggōng zhī shí, Qú Bóyù wèi xiàng, Shǐ Qiū wèi dàfū, Gōngshū Wénzǐ wèi jiā lǎo. Gōngshū Wénzǐ zú, qí zǐ Shù qǐng shì yú jūn. Jūn yuē: “Fūzǐ hérú?” Duì yuē: “Fūzǐ yǒu sān bù huò: jūchǔ bù yín, yǐnshí bù hùn, jiāojì bù èr. Shì yǐ sān bù huò.” Jūn yuē: “Shàn zāi! Qǐng shì yuē Zhēnzǐ.” Chū, Wèi Gōngshū Wénzǐ cháo ér qǐng xiǎng Línggōng, tuì jiàn Shǐ Qiū ér gào zhī. Shǐ Qiū yuē: “Zǐ bì huò yǐ! Zǐ fù ér jūn tān, zuì qí jí zǐ hū!” Wénzǐ yuē: “Rán. Wú bù xiān gào zǐ, shì wú zuì yě. Jūn jì xǔ wǒ yǐ, qí ruò zhī hé?” Shǐ Qiū yuē: “Wú hài. Zǐ chén, kěyǐ miǎn. Fù ér néng chén, bì miǎn yú nàn, shàngxià tóng zhī. Zǐ qí xíng hū!” Wénzǐ zài bài yuē: “Gǎn bù chéng mìng.” Jí Wénzǐ zú, Wèi hóu shǐ wù yú Gōngshū Shù, yǐ qí fù yě. Gōngshū Shù yòu jiāng qù fūrén zhī dǎng, fūrén sù zhī yuē: “Shù jiāng wèi luàn.”","content_han_viet":"Vệ Linh Công chi thời, Cừ Bá Ngọc vi tướng, Sử Thu vi đại phu, Công Thúc Văn Tử vi gia lão. Công Thúc Văn Tử tốt, kỳ tử Thú thỉnh thụy vu quân. Quân viết: “Phu tử hà như?” Đối viết: “Phu tử hữu tam bất hoặc: cư xử bất dâm, ẩm thực bất hỗn, giao tế bất nhị. Thị dĩ tam bất hoặc.” Quân viết: “Thiện tai! Thỉnh thụy viết Trinh tử.” Sơ, Vệ Công Thúc Văn Tử triều nhi thỉnh hưởng Linh Công, thoái kiến Sử Thu nhi cáo chi. Sử Thu viết: “Tử tất họa hĩ! Tử phú nhi quân tham, tội kỳ cập tử hồ!” Văn Tử viết: “Nhiên. Ngô bất tiên cáo tử, thị ngô tội dã. Quân ký hứa ngã hĩ, kỳ nhược chi hà?” Sử Thu viết: “Vô hại. Tử thần, khả dĩ miễn. Phú nhi năng thần, tất miễn vu nạn, thượng hạ đồng chi. Tử kỳ hành hồ!” Văn Tử tái bái viết: “Cảm bất thừa mệnh.” Cập Văn Tử tốt, Vệ hầu thủy ố vu Công Thúc Thú, dĩ kỳ phú dã. Công Thúc Thú hựu tương khứ phu nhân chi đảng, phu nhân tốc chi viết: “Thú tương vi loạn.”","content_vi":"Qúi Cao làm quan sĩ sư nước Vệ có làm án chặt chân một người.\n\nSau nước Vệ loạn, Quí Cao chạy trốn, ra đến cửa thành, gặp người giữ cửa thành, lại chính là người mình chặt chân ngày trước.\n\nNgười ấy bảo: “Kia có chỗ tường đổ”.\n\nQuí Cao nói: “Người quân tử không trèo tường”.\n\nLại bảo: “Ở đây có lỗ hổng”.\n\nQuí Cao nói: “Người quân tử không chui lỗ hổng”.\n\nLại bảo: “Ở đây có cái nhà”.\n\nQuí Cao mới chạy vào nhà ẩn. Bởi vậy mà quân đuổi theo không thể bắt được.\n\n“Trước ta theo phép nước mà chặt chân người, nay ta gặp nạn chính là cái dịp để người báo thù mà người ba lần chỉ lối cho ta trốn, thương ta như thế nghĩa là làm sao?”\n\nNgười giữ thành nói:\n\n“Tội tôi đáng chặt chân, tránh sao cho khỏi. Lúc ông luận tội, xoay xở pháp luật, ý muốn nới tay, tôi cũng biết. Lúc án đã định, đem ra hành hình, nét mặt ông buồn rầu, tôi lại biết lắm. Ông làm như thế, há có vị riêng gì tôi, đó là tâm địa quân tử tự nhiên như vậy…Thế cho nên tôi muốn cứu ông”.\n\nĐức Khổng Tử nghe chuyện này, nói rằng: “Cũng là một cách dùng pháp luật, mà có lòng nhân từ thì gây nên ơn, dùng mà ra dáng tàn bạo thì gây nên oán. Như Quí Cao là người làm quan biết dùng pháp luật vậy.”","loi_ban_vi":"Pháp luật là công cụ của người cầm quyền, nhưng kết quả của nó lại nằm ở tấm lòng của người thực thi. Dùng pháp luật với lòng nhân từ sẽ gây dựng được ân nghĩa, còn dùng nó với ý đồ tàn bạo sẽ chuốc lấy oán hận. Người xưa dạy rằng, đức lớn nhất của bậc trị nước không phải là ở sự nghiêm khắc, mà là ở sự công minh và thấu hiểu lòng người.","giai_nghia":["Sĩ sư: tên một chức quan đời nhà Chu; coi xét việc hành ngục.","Chú thích 1: Cừ Bá Ngọc (蘧伯玉): Một vị quan nổi tiếng ngay thẳng và đức độ của nước Vệ thời Xuân Thu.","Chú thích 2: Sử Thu (史鰌): Một đại phu nước Vệ, nổi tiếng với lời khuyên can thẳng thắn.","Chú thích 3: Công Thúc Văn Tử (公叔文子): Một quan đại phu nước Vệ, được đánh giá cao về đức hạnh.","Chú thích 4: Thụy (谥): Tên thụy, tên được đặt cho người đã khuất để đánh giá công đức hoặc tội lỗi của họ."],"tags":["Pháp luật","Nhân từ","Lòng người","Xuân Thu"]},{"id":67,"title_vi":"THẬT GIẢ KHÓ PHÂN","title_zh_simp":"真伪难辨","title_zh_trad":"真偽難辨","title_pinyin":"Zhēn wěi nán biàn","title_han_viet":"CHÂN NGUY NAN BIỆN","title_en":"True and False Are Hard to Distinguish","source_book":"《吕氏春秋》","source_author":"Lã Bất Vi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"黎丘之鬼，善效人之子侄昆弟之状。邑丈人有之市而醉归者，黎丘之鬼效其子之状，扶而道苦之。丈人归，酒醒而诮其子，曰：“吾为汝父也，岂谓不慈哉？我醉，汝道苦我，何故？”其子泣而触地曰：“孽矣！无此事也。昔也往责于东邑，人可问也。”其父信之，曰：“嘻！是必夫奇鬼也！我固尝闻之矣。”明日端复饮于市，欲遇而刺杀之。明旦之市而醉，其真子恐其父之不能反也，遂逝迎之。丈人望其真子，拔剑而刺之。丈人智惑于似其子者，而杀于真子。","content_zh_trad":"黎丘之鬼，善效人之子姪昆弟之狀。邑丈人有之市而醉歸者，黎丘之鬼效其子之狀，扶而道苦之。丈人歸，酒醒而誚其子，曰：“吾為汝父也，豈謂不慈哉？我醉，汝道苦我，何故？”其子泣而觸地曰：“孽矣！無此事也。昔也往責於東邑，人可問也。”其父信之，曰：“嘻！是必夫奇鬼也！我固嘗聞之矣。”明日端復飲於市，欲遇而刺殺之。明旦之市而醉，其真子恐其父之不能反也，遂逝迎之。丈人望其真子，拔劍而刺之。丈人智惑於似其子者，而殺於真子。","content_pinyin":"Lí qiū zhī guǐ, shàn xiào rén zhī zǐ zhí kūn dì zhī zhuàng. Yì zhàng rén yǒu zhī shì ér zuì guī zhě, Lí qiū zhī guǐ xiào qí zǐ zhī zhuàng, fú ér dào kǔ zhī. Zhàng rén guī, jiǔ xǐng ér qiào qí zǐ, yuē: “Wú wèi rǔ fù yě, qǐ wèi bù cí zāi? Wǒ zuì, rǔ dào kǔ wǒ, hé gù?” Qí zǐ qì ér chù dì yuē: “Niè yǐ! Wú cǐ shì yě. Xī yě wǎng zé yú dōng yì, rén kě wèn yě.” Qí fù xìn zhī, yuē: “Xī! Shì bì fū qí guǐ yě! Wǒ gù cháng wén zhī yǐ.” Míng rì duān fù yǐn yú shì, yù yù ér cì shā zhī. Míng dàn zhī shì ér zuì, qí zhēn zǐ kǒng qí fù zhī bù néng fǎn yě, suì shì yíng zhī. Zhàng rén wàng qí zhēn zǐ, bá jiàn ér cì zhī. Zhàng rén zhì huò yú sì qí zǐ zhě, ér shā yú zhēn zǐ.","content_han_viet":"Lê Khâu chi quỷ, thiện hiệu nhân chi tử điệt côn đệ chi trạng. Ấp trượng nhân hữu chi thị nhi túy quy giả, Lê Khâu chi quỷ hiệu kỳ tử chi trạng, phù nhi đạo khổ chi. Trượng nhân quy, tửu tỉnh nhi khiếu kỳ tử, viết: “Ngô vi nhữ phụ dã, khởi vị bất từ tai? Ngã túy, nhữ đạo khổ ngã, hà cố?” Kỳ tử khấp nhi xúc địa viết: “Nghiệt hĩ! Vô thử sự dã. Tích dã vãng trách vu đông ấp, nhân khả vấn dã.” Kỳ phụ tín chi, viết: “Hí! Thị tất phu kỳ quỷ dã! Ngã cố thường văn chi hĩ.” Minh nhật đoan phục ẩm vu thị, dục ngộ nhi thích sát chi. Minh đán chi thị nhi túy, kỳ chân tử khủng kỳ phụ chi bất năng phản dã, toại thệ nghênh chi. Trượng nhân vọng kỳ chân tử, bạt kiếm nhi thích chi. Trượng nhân trí hoặc vu tự kỳ tử giả, nhi sát vu chân tử.","content_vi":"Ở gò Lê Khưu có giống quỉ lạ. Nó bắt chước làm con cháu, anh em nhà người ta thật là giống.\n\nCó một ông trưởng giả gần vùng đấy, một hôm ở chợ về chén say khướt.\n\nLúc đi qua gò Lê Khưu, con quỉ hiện hình lên làm con ông ta, tay ôm đỡ dìu dắt, nhưng miệng cứ lẩm bẩm nhiếc móc, kêu say sưa là xấu.\n\nTrưởng giả về nhà, lúc tỉnh rượu gọi con ra mắng: “Tao là cha mầy, tao có điều gì là ác nghiệt mà lúc tao say, mầy lại nỡ mỉa mai tao như vậy!”\n\nNgười con khóc, lạy cha và thưa rằng: “Oan quá! Thật con không dám như thế bao giờ. Con nghe đâu ở gò Lê Khưu có giống quỷ khéo bắt chước hiện lên làm người, có lẽ là đây chăng”.\n\nTrưởng giả hỏi dò, thì quả nhiên ai cũng bảo có như thế thật, ông mới định bụng hễ gặp giống quỷ ấy là đâm chết.\n\nHôm sau, ông lại đi chợ, lại chén say khướt mới về. Người con sợ cha lại gặp quỷ nó quấy nhiễu gì, bèn săm săm đi đón. Trưởng giả trông rõ con mình, nhưng cho là quỷ, liền rút gươm đâm chết.","loi_ban_vi":"Khó thật! Làm thế nào cho rõ giả thực mà phân biệt được. Cái trò đời, đã gian thì lại ngoan, kẻ gian phi đã rắp tâm lừa ai, thì dùng thiên phương bách kế, làm cho phải mắc lừa mà vẫn có bụng tin. Cho nên khi ta ngờ điều gì, ta phải để cái trí sáng suốt mà dò xét cho đến nơi. Chớ có vội hành động, lấy giả làm thực, cho thực là giả, nhận quỷ làm con, giết con tưởng quỷ như trưởng giả nói trong chuyện này, sau có hối lại cũng không kịp. Đời này biết bao nhiêu chuyện vợ chồng, chuyện phe cánh, ngờ nhau tàn hại nhau, một khi sự thực hiện rõ ra chỉ còn có ôm hận suốt đời, lúc nào cũng băn khoăn thương đến người đã khuất.","giai_nghia":["Lê Khưu: tên một cái gò cao,ở về địa phân huyện Ngu Thành, tỉnh Hà Nam bây giờ","Trưởng giả: Người đứng tuổi, thường chỉ những bậc có trí, có tài, có oai, có chức hay có của.","Lê Khâu: Tên một gò đất, địa danh trong nguyên tác, được sách dịch là gò Lê Khưu.","Trượng nhân: Chỉ người đàn ông lớn tuổi, ông lão.","Đoan: Cố ý, chủ tâm."],"tags":["Ngụ ngôn","Triết lý","Nhận thức luận","Cổ Học Tinh Hoa"]},{"id":68,"title_vi":"TRUYỆN ĐƯỜI ƯƠI","title_zh_simp":"猨说","title_zh_trad":"猨說","title_pinyin":"Yuán shuō","title_han_viet":"VIÊN THUYẾT","title_en":"The Story of the Gibbon","source_book":"《叔苴子·内篇》","source_author":"庄元臣","source_period":"Minh Triều","content_zh_simp":"猨，猿也。产于蜀之凤溪。其面似人，能言，能笑。其血可染绯，经年不渝，故人每诱而捕之。猿性嗜酒，又好着屐。人知之，多置酒与屐于道侧，猿见之，知其诱己也，骂其人而去。去而复顾，因相谓曰：“试尝之，未必害也。”指沾其酒，入口甘美，遂相与饮之。至醉，又相与着屐。人乃出，猿皆醉，不能行，踉跄仆地，遂尽获之。嗟夫！明知其诱己也，而贪昧以受其祸，愚亦甚矣！","content_zh_trad":"猨，猿也。產於蜀之鳳溪。其面似人，能言，能笑。其血可染緋，經年不渝，故人每誘而捕之。猿性嗜酒，又好著屐。人知之，多置酒與屐於道側，猿見之，知其誘己也，罵其人而去。去而復顧，因相謂曰：“試嘗之，未必害也。”指沾其酒，入口甘美，遂相與飲之。至醉，又相與著屐。人乃出，猿皆醉，不能行，踉蹌仆地，遂盡獲之。嗟夫！明知其誘己也，而貪昧以受其禍，愚亦甚矣！","content_pinyin":"Yuán, yuán yě. Chǎn yú Shǔ zhī Fèng xī. Qí miàn sì rén, néng yán, néng xiào. Qí xuè kě rǎn fēi, jīng nián bù yú, gù rén měi yòu ér bǔ zhī. Yuán xìng shì jiǔ, yòu hào zhe jī. Rén zhī zhī, duō zhì jiǔ yǔ jī yú dào cè, yuán jiàn zhī, zhī qí yòu jǐ yě, mà qí rén ér qù. Qù ér fù gù, yīn xiāng wèi yuē: “Shì cháng zhī, wèi bì hài yě.” Zhǐ zhān qí jiǔ, rù kǒu gān měi, suì xiāng yǔ yǐn zhī. Zhì zuì, yòu xiāng yǔ zhe jī. Rén nǎi chū, yuán jiē zuì, bù néng xíng, liàng qiàng pū dì, suì jǐn huò zhī. Jiē fū! Míng zhī qí yòu jǐ yě, ér tān mèi yǐ shòu qí huò, yú yì shèn yǐ!","content_han_viet":"Viên, viên dã. Sản vu Thục chi Phượng Khê. Kỳ diện tự nhân, năng ngôn, năng tiếu. Kỳ huyết khả nhiễm phi, kinh niên bất du, cố nhân mỗi dụ nhi bổ chi. Viên tính thị tửu, hựu hảo trước cứ. Nhân tri chi, đa trí tửu dữ cứ vu đạo trắc, viên kiến chi, tri kỳ dụ kỷ dã, mạ kỳ nhân nhi khứ. Khứ nhi phục cố, nhân tương vị viết: “Thí thường chi, vị tất hại dã.” Chỉ triêm kỳ tửu, nhập khẩu cam mỹ, toại tương dữ ẩm chi. Chí túy, hựu tương dữ trước cứ. Nhân nãi xuất, viên giai túy, bất năng hành, lương sang bộc địa, toại tận hoạch chi. Ta phu! Minh tri kỳ dụ kỷ dã, nhi tham muội dĩ thụ kỳ họa, ngu diệc thậm hĩ!","content_vi":"Ở núi Phong Khê đất Thục có giống Đười Ươi, mặt như mặt người, biết cười, biết nói. Máu nó dùng để nhuộm mùi, không bao giờ phai, nên người ta lừa bắt nó.\n\nTính đười ươi thích uống rượu, thích đi guốc. Người ta biết thế, đem rượu và guốc ra bày la liệt ở quãng đồng không, rồi đi nấp một chỗ. Đười Ươi ngửi hơi rượu, kéo nhau ra thấy rượu, thấy guốc, biết rằng dử mình bèn chửi rủa người lập đánh bẫy, và nói thậm tệ đến cả ông cha người ấy. Đoạn bảo nhau đi, lẩm nhẩm nói chớ có mắc mưu cái loài khốn nạn chực hại mình... Song đã đi mà vẫn ngoảnh lại, rồi bảo nhau:\n\n\"Ta thử nếm xem tưởng không hại gì\"\n\nTay chấm miệng mút, bén mùi làm mãi, thành say sưa mờ mịt, quên cả lời khôn, lẽ phải bấy lâu giữ gìn, chếnh choáng nghiêng ngả, nói nói, cười cười, chân đưa vào guốc thất thểu đi...\n\nNgười nấp bấy giờ đổ ra thì Đười Ươi lảo đảo chạy, con ngả nghiêng, con ngã ngửa, người ta bắt sạch không sót con nào.\n\nThan ôi! Biết rõ người ta lừa gạt mình mà cứ tham lam mê muội để đến nỗi mắc lừa người ta mà mất mạng. Ngu lắm thay! Thật là ngu lắm thay!\n\nDiêu Dung Giải nghĩa -Thục: tức là Thục Quân ở về đất Tứ Xuyên bây giở Lời bàn: Rượu chè, thuốc phiện, cờ bạc, trai gái... ở đời có bao nhiêu sự đam mê, tuy vẫn biết là tai hại mà khốn cái tính ngây, cái máu mê nó như có ma lực vẫn xui giục run rủi ta rủ nhau đua nhau mà tìm đến, mà say đắm, có khi tai hại cũng không chừa.Than ôi! Còn ở trên bờ vực sâu, mà không biết giữ, thì đến lúc lăn xuống, ăn năn sao cho kịp! cổ nhân đã có câu: “Nhất thất túc, thành thiên cổ hận: tái hồi đầu, thị bách niên thân” nghĩa là: Lỡ bước một phen nghìn đời ôm hận; quay đầu nhìn lại chín suối ngậm ngùi. thật đáng ghê thay, cho nên người ta phải cẩn thận giữ mình, khi đã biết sự đam mê có thể tai hại mình được thì cố tự chủ, tự trị, mà hãm mình lại ngay, chớ để cho nhân dục thắng được thiên lý thì phí cả đời người","loi_ban_vi":"Ôi! Rượu chè, thuốc phiện, cờ bạc, tửu sắc... ở đời có biết bao nhiêu sự đam mê, tuy biết rõ là tai hại mà vì cái tính tham, cái máu mê nó như có ma lực xui khiến, vẫn rủ nhau đua nhau tìm đến, say đắm, có khi tai hại cũng không chừa. Than ôi! Đứng trên bờ vực thẳm mà không biết giữ mình, thì đến lúc lăn xuống, ăn năn sao cho kịp! Cổ nhân có câu: “Nhất thất túc, thành thiên cổ hận; tái hồi đầu, thị bách niên thân” (Lỡ bước một phen, nghìn đời ôm hận; quay đầu nhìn lại, đã thấy trăm năm thân tàn). Thật đáng sợ thay! Cho nên người ta phải cẩn thận giữ mình, khi đã biết sự đam mê có thể hại mình thì phải cố tự chủ, tự trị mà ghìm mình lại ngay, chớ để cho nhân dục thắng được thiên lý, thì uổng phí cả đời người.","giai_nghia":["Thục: Tức đất Thục, nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc.","Phượng Khê: Tên một con suối ở đất Thục, nơi sản sinh ra loài đười ươi trong truyện.","Phi: Màu đỏ tươi, đỏ thẫm."],"tags":["Ngụ ngôn","Cảnh tỉnh","Dục vọng","Cổ Học Tinh Hoa"]},{"id":69,"title_vi":"THUẬT XEM TƯỚNG","title_zh_simp":"观人之术","title_zh_trad":"觀人之術","title_pinyin":"Guān rén zhī shù","title_han_viet":"QUAN NHÂN CHI THUẬT","title_en":"The Art of Observing People","source_book":"《呂氏春秋》","source_author":"Lã Bất Vi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"荆有善相人者，所言无遗策。庄王见而问焉，曰：“寡人闻子善相人，子何以教寡人？”对曰：“臣非能相人也，能观人之友也。观布衣也，其友皆孝悌纯谨畏令，如此者，其家必日益，身必日荣矣，所谓吉人也。观事君者也，其友皆诚信有行好善，如此者，事君日益，官职日进，此所谓吉臣也。观人主也，其朝臣多贤，左右多忠，主有失，皆交争正谏，如此者，国日安，主日尊，天下日服，此所谓吉主也。臣非能相人也，能观人之友也。”庄王善之，于是乃招聘四方之士，日夜不懈，遂成霸业。","content_zh_trad":"荊有善相人者，所言無遺策。莊王見而問焉，曰：“寡人聞子善相人，子何以教寡人？”對曰：“臣非能相人也，能觀人之友也。觀布衣也，其友皆孝悌純謹畏令，如此者，其家必日益，身必日榮矣，所謂吉人也。觀事君者也，其友皆誠信有行好善，如此者，事君日益，官職日進，此所謂吉臣也。觀人主也，其朝臣多賢，左右多忠，主有失，皆交爭正諫，如此者，國日安，主日尊，天下日服，此所謂吉主也。臣非能相人也，能觀人之友也。”莊王善之，於是乃招聘四方之士，日夜不懈，遂成霸業。","content_pinyin":"Jīng yǒu shàn xiàng rén zhě, suǒ yán wú yí cè. Zhuāng wáng jiàn ér wèn yān, yuē: “Guǎ rén wén zǐ shàn xiàng rén, zǐ hé yǐ jiào guǎ rén?” Duì yuē: “Chén fēi néng xiàng rén yě, néng guān rén zhī yǒu yě. Guān bù yī yě, qí yǒu jiē xiào tì chún jǐn wèi lìng, rú cǐ zhě, qí jiā bì rì yì, shēn bì rì róng yǐ, suǒ wèi jí rén yě. Guān shì jūn zhě yě, qí yǒu jiē chéng xìn yǒu xíng hǎo shàn, rú cǐ zhě, shì jūn rì yì, guān zhí rì jìn, cǐ suǒ wèi jí chén yě. Guān rén zhǔ yě, qí cháo chén duō xián, zuǒ yòu duō zhōng, zhǔ yǒu shī, jiē jiāo zhēng zhèng jiàn, rú cǐ zhě, guó rì ān, zhǔ rì zūn, tiān xià rì fú, cǐ suǒ wèi jí zhǔ yě. Chén fēi néng xiàng rén yě, néng guān rén zhī yǒu yě.” Zhuāng wáng shàn zhī, yú shì nǎi zhāo pìn sì fāng zhī shì, rì yè bù xiè, suì chéng bà yè.","content_han_viet":"Kinh hữu thiện tướng nhân giả, sở ngôn vô di diệu. Trang Vương kiến nhi vấn yên, viết: “Quả nhân văn tử thiện tướng nhân, tử hà dĩ giáo quả nhân?” Đối viết: “Thần phi năng tướng nhân dã, năng quan nhân chi hữu dã. Quan bố y dã, kỳ hữu giai hiếu đễ thuần cẩn úy lệnh, như thử giả, kỳ gia tất nhật ích, thân tất nhật vinh hĩ, sở vị cát nhân dã. Quan sự quân giả dã, kỳ hữu giai thành tín hữu hạnh hảo thiện, như thử giả, sự quân nhật ích, quan chức nhật tiến, thử sở vị cát thần dã. Quan nhân chủ dã, kỳ triều thần đa hiền, tả hữu đa trung, chủ hữu thất, giai giao tranh chính gián, như thử giả, quốc nhật an, chủ nhật tôn, thiên hạ nhật phục, thử sở vị cát chủ dã. Thần phi năng tướng nhân dã, năng quan nhân chi hữu dã.” Trang Vương thiện chi, vu thị nãi chiêu phẫn tứ phương chi sĩ, nhật dạ bất giải, toại thành bá nghiệp.","content_vi":"Nước Kinh có người giỏi xem tướng, nói câu nào trúng câu ấy. Trong nước xa gần đâu cũng biết tiếng.\n\nVua Trang Vương thấy thế, vời lại hỏi:\n\n\"Nhà ngươi dùng thuật gì mà xem tướng giỏi như thế?\"\n\nNgười xem tướng thưa rằng:\n\n\"Thần không có thuật gì cả. Thần chỉ xem bạn người ta mà biết được người ta hay hay dở. Như thần xem cho thường dân, mà thấy chơi với những người bạn hiếu, đễ, thuần, cẩn biết giữ phép người, thì thần đoán người dân ấy là người hay, thân tất một ngày một vẻ vang, nhà tất một ngày một thịnh vượng.\n\nNhư thần xem cho quan lại mà thấy chơi với những bạn thành, tín, có phẩm hạnh, thích điều phải thì thần đoán cho ông quan ấy là người tốt, làm quan tất mỗi ngày một thăng cao, giúp vua mỗi ngày một ích lợi. Như thần xem cho vua chúa, mà thấy quan gần lắm người hiền, quan xa có lắm người trung, lúc có lỗi, nhiều người can ngăn, thì thần đoán là ông vua giỏi, vua tất mỗi ngày một tôn trọng, nước tất mỗi ngày một tri yên, thiên hạ tất mỗi ngày một quy phục... Thần quả không có thuật gì lạ, chỉ xem mà biết được người hay người dở.\"\n\nVua Trang Vương cho nói là phải. Bấy giờ kíp thu dùng những người tài giỏi, sau nước Sở thành cường thịnh nhất thời Chiến quốc.","loi_ban_vi":"Xem tướng không phải ở cốt cách bề ngoài, mà ở chỗ kết giao. Xem bạn mà biết người, xem người mà biết đức, xem đức mà biết vận mệnh. Kẻ thức giả không cần bói toán, chỉ cần nhìn chỗ dựa của một người là đủ biết họ sẽ đi về đâu.","giai_nghia":[": Chiến quốc thời đại về cuối đời nhà Chu 475- 249 TCN, các nước hay","đánh (chiến) nhau. Có bảy nước mạnh là: Tần, Sở, Yên, Tề, Hàn, Triệu, Ngụy.","荆 (Kinh): tên nước thời xưa, tức nước Sở.","庄王 (Trang Vương): tức Sở Trang Vương, một trong Ngũ Bá thời Xuân Thu.","相人 (tướng nhân): xem tướng, đoán vận mệnh qua diện mạo.","布衣 (bố y): người dân thường, không có chức tước.","孝悌纯谨 (hiếu đễ thuần cẩn): hiếu thảo với cha mẹ, kính nhường anh em, thuần hậu cẩn thận."],"tags":["Nhân tướng học","Kết giao","Trí tuệ","Lã Thị Xuân Thu"]},{"id":70,"title_vi":"THEO AI PHẢI CẨN THẬN","title_zh_simp":"择友当慎","title_zh_trad":"擇友當慎","title_pinyin":"Zé yǒu dāng shèn","title_han_viet":"TRẠCH HỮU ĐƯƠNG THẬN","title_en":"Choose Your Companions Carefully","source_book":"《孔子家语》","source_author":"Khổng Tử","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"孔子见罗雀者，所得皆黄口小雀。夫子问之曰：“大雀独不得，何也？”罗者曰：“大雀善惊而难得，黄口贪食而易得。黄口从大雀则不得，大雀从黄口亦可得。”孔子顾谓弟子曰：“善惊以远害，利食而忘患，自其心矣。而以所从为祸福。故君子慎其所从。以长者之虑，则有全身之阶；随小者之戆，而有危亡之败也。”","content_zh_trad":"孔子見羅雀者，所得皆黃口小雀。夫子問之曰：“大雀獨不得，何也？”羅者曰：“大雀善驚而難得，黃口貪食而易得。黃口從大雀則不得，大雀從黃口亦可得。”孔子顧謂弟子曰：“善驚以遠害，利食而忘患，自其心矣。而以所從為禍福。故君子慎其所從。以長者之慮，則有全身之階；隨小者之戇，而有危亡之敗也。”","content_pinyin":"Kǒngzǐ jiàn luó què zhě, suǒ dé jiē huángkǒu xiǎo què. Fūzǐ wèn zhī yuē: \"Dà què dú bù dé, hé yě?\" Luó zhě yuē: \"Dà què shàn jīng ér nán dé, huángkǒu tān shí ér yì dé. Huángkǒu cóng dà què zé bù dé, dà què cóng huángkǒu yì kě dé.\" Kǒngzǐ gù wèi dìzǐ yuē: \"Shàn jīng yǐ yuǎn hài, lì shí ér wàng huàn, zì qí xīn yǐ. Ér yǐ suǒ cóng wéi huò fú. Gù jūnzǐ shèn qí suǒ cóng. Yǐ zhǎng zhě zhī lǜ, zé yǒu quán shēn zhī jiē; suí xiǎo zhě zhī gàng, ér yǒu wēi wáng zhī bài yě.\"","content_han_viet":"Khổng Tử kiến la tước giả, sở đắc giai hoàng khẩu tiểu tước. Phu tử vấn chi viết: “Đại tước độc bất đắc, hà dã?” La giả viết: “Đại tước thiện kinh nhi nan đắc, hoàng khẩu tham thực nhi dị đắc. Hoàng khẩu tòng đại tước tắc bất đắc, đại tước tòng hoàng khẩu diệc khả đắc.” Khổng Tử cố vị đệ tử viết: “Thiện kinh dĩ viễn hại, lợi thực nhi vong hoạn, tự kỳ tâm hĩ. Nhi dĩ sở tòng vi họa phúc. Cố quân tử thận kỳ sở tòng. Dĩ trưởng giả chi lự, tắc hữu toàn thân chi giai; tùy tiểu giả chi tráng, nhi hữu nguy vong chi bại dã.”","content_vi":"Đức Khổng Tử thấy Kẻ đánh lưới chim sẻ chỉ đánh được thuần sẻ non vàng mép. Ngài bèn hỏi rằng:\n\n\"Không đánh được sẻ già là tại làm sao!\"\n\nKẻ đánh lưới nói:\n\n\"Sẻ già biết sợ, cho nên khó được, sẻ non tham ăn, cho nên dễ bắt. Nếu sẻ non mà theo sẻ già thì bắt sẻ non cũng khó nhưng nếu sẻ già theo sẻ non thì bắt sẻ già cũng dễ.\"\n\nĐức Khổng Tử nghe đoạn quay lại bảo học trò rằng:\n\n\"Biết sợ để tránh tai hại, tham ăn mà quên nguy vong, đó đều là tính tự nhiên vậy. Song phúc hay họa lại do ở cái theo khôn hay theo dại. Cho nên người quân tử trước khi theo ai phải cẩn thận. Theo ai mà biết phòng xa như người lão luyện, thì được toàn thân, theo ai mà hay nông nổi như kẻ trẻ dại thì bại hoại.\"","loi_ban_vi":"Sẻ non tham mồi mà mắc lưới, sẻ già biết sợ mà thoát nạn. Người trí không sợ kẻ dữ, chỉ sợ theo nhầm kẻ dại. Cho nên kẻ quân tử trước khi kết giao, phải xem người ấy có biết sợ điều sai trái hay không.","giai_nghia":["罗雀 (la tước): bắt chim sẻ bằng lưới.","黄口 (hoàng khẩu): chim non, mép còn vàng; ví với người trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm.","善惊 (thiện kinh): hay sợ hãi, cảnh giác cao độ.","戆 (tráng): ngây thơ, khờ dại, nông nổi.","全身之阶 (toàn thân chi giai): con đường giữ được thân mình an toàn."],"tags":["Khổng Tử","Kết giao","Cẩn thận","Giáo huấn"]},{"id":71,"title_vi":"SAY, TỈNH, ĐỤC, TRONG","title_zh_simp":"醉醒浊清","title_zh_trad":"醉醒濁清","title_pinyin":"Zuì Xǐng Zhuó Qīng","title_han_viet":"TÚY TỈNH TRỌC THANH","title_en":"Drunk, Sober, Muddy, Clear","source_book":"《楚辭·漁父》","source_author":"Khuất Nguyên (屈原)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"屈原既放，游于江潭，行吟泽畔，颜色憔悴，形容枯槁。渔父见而问之曰：“子非三闾大夫与？何故至于斯？”屈原曰：“举世皆浊我独清，众人皆醉我独醒，是以见放。”渔父曰：“圣人不凝滞于物，而能与世推移。世人皆浊，何不淈其泥而扬其波？众人皆醉，何不餔其糟而歠其醨？何故深思高举，自令放为？”屈原曰：“吾闻之，新沐者必弹冠，新浴者必振衣。安能以身之察察，受物之汶汶者乎？宁赴湘流，葬于江鱼之腹中。安能以皓皓之白，而蒙世俗之尘埃乎？”渔父莞尔而笑，鼓枻而去，乃歌曰：“沧浪之水清兮，可以濯吾缨；沧浪之水浊兮，可以濯吾足。”遂去，不复与言。","content_zh_trad":"屈原既放，游於江潭，行吟澤畔，顏色憔悴，形容枯槁。漁父見而問之曰：“子非三閭大夫與？何故至於斯？”屈原曰：“舉世皆濁我獨清，眾人皆醉我獨醒，是以見放。”漁父曰：“聖人不凝滯於物，而能與世推移。世人皆濁，何不淈其泥而揚其波？眾人皆醉，何不餔其糟而歠其醨？何故深思高舉，自令放為？”屈原曰：“吾聞之，新沐者必彈冠，新浴者必振衣。安能以身之察察，受物之汶汶者乎？寧赴湘流，葬於江魚之腹中。安能以皓皓之白，而蒙世俗之塵埃乎？”漁父莞爾而笑，鼓枻而去，乃歌曰：“滄浪之水清兮，可以濯吾纓；滄浪之水濁兮，可以濯吾足。”遂去，不復與言。","content_pinyin":"Qū Yuán jì fàng, yóu yú jiāng tán, xíng yín zé pàn, yánsè qiáocuì, xíngróng kūgǎo. Yúfù jiàn ér wèn zhī yuē: “Zǐ fēi Sān Lǘ dàfū yǔ? Hé gù zhì yú sī?” Qū Yuán yuē: “Jǔ shì jiē zhuó wǒ dú qīng, zhòngrén jiē zuì wǒ dú xǐng, shì yǐ jiàn fàng.” Yúfù yuē: “Shèngrén bù níngzhì yú wù, ér néng yǔ shì tuīyí. Shìrén jiē zhuó, hé bù gǔ qí ní ér yáng qí bō? Zhòngrén jiē zuì, hé bù bū qí zāo ér chuò qí lí? Hé gù shēnsī gāojǔ, zì lìng fàng wéi?” Qū Yuán yuē: “Wú wén zhī, xīn mù zhě bì tán guān, xīn yù zhě bì zhèn yī. Ān néng yǐ shēn zhī cháchá, shòu wù zhī ménmén zhě hū? Nìng fù Xiāng liú, zàng yú jiāng yú zhī fù zhōng. Ān néng yǐ hàohào zhī bái, ér méng shìsú zhī chén'āi hū?” Yúfù wǎn'ěr ér xiào, gǔ yì ér qù, nǎi gē yuē: “Cāngláng zhī shuǐ qīng xī, kěyǐ zhuó wú yīng; Cāngláng zhī shuǐ zhuó xī, kěyǐ zhuó wú zú.” Suì qù, bù fù yǔ yán.","content_han_viet":"Khuất Nguyên ký phóng, du vu giang đàm, hành ngâm trạch bạn, nhan sắc tiều tụy, hình dung khô cảo. Ngư phụ kiến nhi vấn chi viết: “Tử phi Tam Lưu đại phu dư? Hà cố chí vu tư?” Khuất Nguyên viết: “Cử thế giai trọc ngã độc thanh, chúng nhân giai túy ngã độc tỉnh, thị dĩ kiến phóng.” Ngư phụ viết: “Thánh nhân bất ngưng trệ vu vật, nhi năng dữ thế thôi di. Thế nhân giai trọc, hà bất cốt kỳ nê nhi dương kỳ ba? Chúng nhân giai túy, hà bất bô kỳ tao nhi xuyết kỳ ly? Hà cố thâm tư cao cử, tự lệnh phóng vi?” Khuất Nguyên viết: “Ngô văn chi, tân mộc giả tất đàn quan, tân dục giả tất chấn y. An năng dĩ thân chi sát sát, thụ vật chi mân mân giả hồ? Ninh phó Tương lưu, táng vu giang ngư chi phúc trung. An năng dĩ hạo hạo chi bạch, nhi mông thế tục chi trần ai hồ?” Ngư phụ uyển nhĩ nhi tiếu, cổ duệ nhi khứ, nãi ca viết: “Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngô anh; Thương Lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngô túc.” Toại khứ, bất phục dữ ngôn.","content_vi":"Khuất Nguyên làm quan đại phu cho đời Hoài Vương nước Sở, bị kẻ sàm báng mà phải phóng khí. Mặt mũi tiều tụy, hình dung khô héo, Khuất Nguyên vừa đi, vừa hát trên bờ đầm.\n\nCó ông lão đánh cá trông thấy hỏi rằng:\n\nÔng có phải là Tam Lưu đại phu đó không? Sao mà đến nỗi khốn khổ như vậy?\n\nKhuất Nguyên nói Cả đời đục cả, một mình ta trong, mọi người say cả một mình ta tỉnh. Bởi vậy cho nên ta phải phóng khí.\n\nÔng lão đánh cá nói:\n\nThánh nhân không câu nệ việc gì, lại hay tùy thời. Có phải cả đời đục cả, sao không khuấy thêm bùn, vỗ thêm sóng cho đục một thể, loài người say cả, sao ông không ăn cả men húp cả bã cho say một thể? Việc gì mà phải lo xa, nghĩ sâu, để cho đến nỗi phải phóng khí?\n\nKhuất Nguyên nói:\n\nTôi nghe mới gội đầu tất phải chải mũ, mới tắm ra phải thay áo, có đâu lại chịu đem cái thân trong sạch mà để cho vật dơ bẩn dính vào mình được? Chả thà ta nhảy xuống sông Tương vùi xác vào bụng cá, chớ sao đang trắng lôm lốp lại chịu để dây phải bụi dơ.\n\nÔng lão đánh cá nghe nói tủm tỉm cười, quay bơi chèo đi rồi hát rằng:\n\nSông Thương nước chảy trong veo Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta Sông Thương nước đục phù sa Thì ta lội xuống để mà rửa chân.\n\nHát xong, đi thẳng không nói gì nữa.\n\nKhuất Nguyên.","loi_ban_vi":": Bài này tác giả chính là Khuất Nguyên, mượn lời lão đánh cá mà đặt lối vấn đáp. Mấy câu hát của lão đánh cá thì có ý khuyên Khuất Nguyên hòa quang đồng trần với đời, mấy câu Khuất Nguyên nói thì lại phản đối lại, chết thời thôi chứ không chịu theo thời, không chịu dày dạn, sống đục, không bằng thác trong. Ôi! Không nỡ bỏ nước nhà mà lẩn lút đi ở nơi khác lại cũng không chịu cùng tiểu nhân mà cẩu thả sống cho qua đời, sau này quả nhiên vùi xác vào bụng cá trong sông Mịch La, lấy nước sông Mịch mà tẩy uế sự nhơ bẩn, thật là nghìn thu trung nghĩa, dòng nước trong xanh, khiến cho ai xem truyện Khuất Nguyên cũng ngậm ngùi thương nhớ và sinh lòng phấn khởi.","giai_nghia":[":","Đại phu: chức quan đời cổ dưới quan Khanh, trên quan Sĩ","Tam Lư đại phu: quan đại phu Tam Lư, Tam Lư họ của Khuất Nguyên.","Câu nệ: bo bo chỉ giữ một bề","Tương: tức sông Tương Giang, một sông lớn chảy qua tỉnh Hồ Nam rồi nhập vào Động Đình hồ","Lèo: dải mũ, mũ thường có hai dải để buộc cho chặt ( mũ thời cổ).","Tam Lưu đại phu: chức quan thời Sở, quản lý ba họ lớn là Chiêu, Khuất, Cảnh.","Canglang: tên con sông, có thể là sông Hán Thủy hoặc một nhánh của sông Dương Tử.","Mịch La: con sông nơi Khuất Nguyên tự trầm."],"tags":["Khuất Nguyên","Sở","ẩn dật","thanh cao"]},{"id":72,"title_vi":"NHAN SÚC NÓI TRUYỆN VỚI TỀ VƯƠNG","title_zh_simp":"颜斶说齐王","title_zh_trad":"顏斶說齊王","title_pinyin":"Yán Chù shuō Qí wáng","title_han_viet":"NHAN SÚC THUYẾT TỀ VƯƠNG","title_en":"Yan Chu Talks with the King of Qi","source_book":"《战国策》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"齐宣王见颜斶，曰：“斶前！”斶亦曰：“王前！”宣王不说。左右曰：“王，人君也；斶，人臣也。王曰‘斶前’，斶亦曰‘王前’，可乎？”斶对曰：“夫斶前为慕势，王前为趋士。与使斶为慕势，不如使王为趋士。”王忿然作色曰：“王者贵乎？士贵乎？”对曰：“士贵耳，王者不贵。”王曰：“有说乎？”斶曰：“有。昔者秦攻齐，令曰：‘有敢去柳下季垄五十步而樵采者，死不赦。’令曰：‘有能得齐王头者，封万户侯，赐金千镒。’由是观之，生王之头，曾不若死士之垄也。”宣王默然不悦。左右皆曰：“斶来，斶来！大王据千乘之地，而建千石钟，万石虡。天下之士，仁义皆来役处；辩知并进，莫不来语。东西南北，莫敢不服。求万物无不备具，而百姓无不亲附。今夫士之高者，乃称匹夫，徒步而处农亩，下则鄙野、监门、闾里，士之贱也，亦甚矣！”斶对曰：“不然。斶闻古大禹之时，诸侯万国。何则？德厚之道，得贵士之力也。故舜起农亩，出于野鄙，而为天子。及汤之时，诸侯三千。当今之世，南面称寡者，乃二十四。由此观之，非得失之策与？稍稍诛灭，灭亡无族之时，欲为监门、闾里，安可得而有乎哉？是故《易传》不云乎：‘居上位，未得其实，以喜其为名者，必以骄奢为行。据慢骄奢，则凶从之。是故无其实而喜其名者削，无德而望其福者约，无功而受其禄者辱，祸必握。’故曰：‘矜功不立，虚愿不至。’此皆幸乐其名，华而无其实德者也。是以尧有九佐，舜有七友，禹有五丞，汤有三辅，自古及今而能虚成名于天下者，无有。是以君王无羞亟问，不愧下学；是故成其道德而扬功名于后世者，尧、舜、禹、汤、周文王是也。故曰：‘无形者，形之君也；无端者，事之本也。’夫上见其原，下通其流，至圣人明学，何不吉之有哉！老子曰：‘虽贵，必以贱为本；虽高，必以下为基。’是以侯王称孤、寡、不谷，是其贱必本与？非夫孤寡者，人之困贱下位也，而侯王以自谓，岂非下人而尊贵士与？夫尧传舜，舜传禹，周成王任周公旦，而世世称曰明主，是以明乎士之贵也。”宣王曰：“嗟乎！君子焉可侮哉，寡人自取病耳！及今闻君子之言，乃今闻细人之行，愿请受为弟子。且颜先生与寡人游，食必太牢，出必乘车，妻子衣服丽都。”颜斶辞去曰：“夫玉生于山，制则破焉，非弗宝贵矣，然夫璞不完。士生乎鄙野，推选则禄焉，非不得尊遂也，然而形神不全。斶愿得归，晚食以当肉，安步以当车，无罪以当贵，清静贞正以自虞。制言者王也，尽忠直言者斶也。言要道已备矣，愿得赐归，安行而反臣之邑屋。”则再拜而辞去也。君子曰：“斶知足矣，归真返璞，则终身不辱。”","content_zh_trad":"齊宣王見顏斶，曰：“斶前！”斶亦曰：“王前！”宣王不說。左右曰：“王，人君也；斶，人臣也。王曰‘斶前’，斶亦曰‘王前’，可乎？”斶對曰：“夫斶前爲慕勢，王前爲趨士。與使斶爲慕勢，不如使王爲趨士。”王忿然作色曰：“王者貴乎？士貴乎？”對曰：“士貴耳，王者不貴。”王曰：“有說乎？”斶曰：“有。昔者秦攻齊，令曰：‘有敢去柳下季壟五十步而樵採者，死不赦。’令曰：‘有能得齊王頭者，封萬戶侯，賜金千鎰。’由是觀之，生王之頭，曾不若死士之壟也。”宣王默然不悅。左右皆曰：“斶來，斶來！大王據千乘之地，而建千石鍾，萬石虡。天下之士，仁義皆來役處；辯知並進，莫不來語。東西南北，莫敢不服。求萬物無不備具，而百姓無不親附。今夫士之高者，乃稱匹夫，徒步而處農畝，下則鄙野、監門、閭里，士之賤也，亦甚矣！”斶對曰：“不然。斶聞古大禹之時，諸侯萬國。何則？德厚之道，得貴士之力也。故舜起農畝，出於野鄙，而爲天子。及湯之時，諸侯三千。當今之世，南面稱寡者，乃二十四。由此觀之，非得失之策與？稍稍誅滅，滅亡無族之時，欲爲監門、閭里，安可得而有乎哉？是故《易傳》不云乎：‘居上位，未得其實，以喜其爲名者，必以驕奢爲行。據慢驕奢，則兇從之。是故無其實而喜其名者削，無德而望其福者約，無功而受其祿者辱，禍必握。’故曰：‘矜功不立，虛願不至。’此皆幸樂其名，華而無其實德者也。是以堯有九佐，舜有七友，禹有五丞，湯有三輔，自古及今而能虛成名於天下者，無有。是以君王無羞亟問，不愧下學；是故成其道德而揚功名於後世者，堯、舜、禹、湯、周文王是也。故曰：‘無形者，形之君也；無端者，事之本也。’夫上見其原，下通其流，至聖人明學，何不吉之有哉！老子曰：‘雖貴，必以賤爲本；雖高，必以下爲基。’是以侯王稱孤、寡、不穀，是其賤必本與？非夫孤寡者，人之困賤下位也，而侯王以自謂，豈非下人而尊貴士與？夫堯傳舜，舜傳禹，周成王任周公旦，而世世稱曰明主，是以明乎士之貴也。”宣王曰：“嗟乎！君子焉可侮哉，寡人自取病耳！及今聞君子之言，乃今聞細人之行，願請受爲弟子。且顏先生與寡人遊，食必太牢，出必乘車，妻子衣服麗都。”顏斶辭去曰：“夫玉生於山，制則破焉，非弗寶貴矣，然夫璞不完。士生乎鄙野，推選則祿焉，非不得尊遂也，然而形神不全。斶願得歸，晚食以當肉，安步以當車，無罪以當貴，清靜貞正以自虞。制言者王也，盡忠直言者斶也。言要道已備矣，願得賜歸，安行而反臣之邑屋。”則再拜而辭去也。君子曰：“斶知足矣，歸真返璞，則終身不辱。”","content_pinyin":"Qí Xuān Wáng jiàn Yán Chù, yuē: “Chù qián!” Chù yì yuē: “Wáng qián!” Xuān Wáng bù shuō. Zuǒyòu yuē: “Wáng, rén jūn yě; Chù, rén chén yě. Wáng yuē ‘Chù qián’, Chù yì yuē ‘Wáng qián’, kě hū?” Chù duì yuē: “Fú Chù qián wéi mù shì, Wáng qián wéi qū shì. Yǔ shǐ Chù wéi mù shì, bùrú shǐ Wáng wéi qū shì.” Wáng fèn rán zuò sè yuē: “Wáng zhě guì hū? Shì guì hū?” Duì yuē: “Shì guì ěr, wáng zhě bù guì.” Wáng yuē: “Yǒu shuō hū?” Chù yuē: “Yǒu. Xī zhě Qín gōng Qí, lìng yuē: ‘Yǒu gǎn qù Liǔ Xià Jì lǒng wǔshí bù ér qiáo cǎi zhě, sǐ bù shè.’ Lìng yuē: ‘Yǒu néng dé Qí wáng tóu zhě, fēng wànhù hóu, cì jīn qiān yì.’ Yóu shì guān zhī, shēng wáng zhī tóu, céng bùruò sǐ shì zhī lǒng yě.” Xuān Wáng mò rán bù yuè. Zuǒyòu jiē yuē: “Chù lái, Chù lái! Dàwáng jù qiān chéng zhī dì, ér jiàn qiān shí zhōng, wàn shí jù. Tiānxià zhī shì, rényì jiē lái yì chù; biàn zhī bìng jìn, mò bù lái yǔ. Dōngxī nánběi, mò gǎn bù fú. Qiú wànwù wú bù bèi jù, ér bǎixìng wú bù qīn fù. Jīn fú shì zhī gāo zhě, nǎi chēng pǐfū, bùtú ér chù nóng mǔ, xià zé bǐyě, jiānmén, lǘlǐ, shì zhī jiàn yě, yì shèn yǐ!” Chù duì yuē: “Bù rán. Chù wén gǔ Dà Yǔ zhī shí, zhūhóu wàn guó. Hé zé? Dé hòu zhī dào, dé guì shì zhī lì yě. Gù Shùn qǐ nóng mǔ, chū yú yě bǐ, ér wéi tiānzǐ. Jí Tāng zhī shí, zhūhóu sānqiān. Dāngjīn zhī shì, nán miàn chēng guǎ zhě, nǎi èrshísì. Yóu cǐ guān zhī, fēi déshī zhī cè yǔ? Shāoshāo zhū miè, mièwáng wú zú zhī shí, yù wéi jiānmén, lǘlǐ, ān kě dé ér yǒu hū zāi? Shìgù 《Yì zhuàn》 bù yún hū: ‘Jū shàngwèi, wèi dé qí shí, yǐ xǐ qí wéi míng zhě, bì yǐ jiāoshē wéi xíng. Jù màn jiāoshē, zé xiōng cóng zhī. Shìgù wú qí shí ér xǐ qí míng zhě xiāo, wú dé ér wàng qí fú zhě yuē, wú gōng ér shòu qí lù zhě rǔ, huò bì wò.’ Gù yuē: ‘Jīn gōng bù lì, xū yuàn bù zhì.’ Cǐ jiē xìng lè qí míng, huá ér wú qí shí dé zhě yě. Shìyǐ Yáo yǒu jiǔ zuǒ, Shùn yǒu qī yǒu, Yǔ yǒu wǔ chéng, Tāng yǒu sān fǔ, zìgǔ jí jīn ér néng xū chéngmíng yú tiānxià zhě, wú yǒu. Shìyǐ jūnwáng wú xiū jí wèn, bù kuì xià xué; shìgù chéng qí dàodé ér yáng gōng míng yú hòushì zhě, Yáo, Shùn, Yǔ, Tāng, Zhōu Wénwáng shì yě. Gù yuē: ‘Wúxíng zhě, xíng zhī jūn yě; wúduān zhě, shì zhī běn yě.’ Fū shàng jiàn qí yuán, xià tōng qí liú, zhì shèngrén míng xué, hé bù jí zhī yǒu zāi! Lǎozi yuē: ‘Suī guì, bì yǐ jiàn wéi běn; suī gāo, bì yǐ xià wéi jī.’ Shìyǐ hóu wáng chēng gū, guǎ, bùgǔ, shì qí jiàn bì běn yǔ? Fēi fú gū guǎ zhě, rén zhī kùn jiàn xiàwèi yě, ér hóu wáng yǐ zì wèi, qǐ fēi xià rén ér zūn guì shì yǔ? Fú Yáo chuán Shùn, Shùn chuán Yǔ, Zhōu Chéngwáng rèn Zhōugōng Dàn, ér shìshì chēng yuē míngzhǔ, shìyǐ míng hū shì zhī guì yě.” Xuān Wáng yuē: “Jiē hū! Jūnzǐ yān kě wǔ zāi, guǎrén zì qǔ bìng ěr! Jí jīn wén jūnzǐ zhī yán, nǎi jīn wén xìrén zhī xíng, yuàn qǐng shòu wéi dìzǐ. Qiě Yán xiānsheng yǔ guǎrén yóu, shí bì tàiláo, chū bì chéng chē, qīzǐ yīfú lì dū.” Yán Chù cí qù yuē: “Fú yù shēng yú shān, zhì zé pò yān, fēi fú bǎoguì yǐ, rán fū pú bù wán. Shì shēng hū bǐyě, tuīxuǎn zé lù yān, fēi bù dé zūn suì yě, rán'ér xíngshén bù quán. Chù yuàn dé guī, wǎn shí yǐ dāng ròu, ān bù yǐ dāng chē, wú zuì yǐ dāng guì, qīngjìng zhēnzhèng yǐ zì yú. Zhì yán zhě wáng yě, jìn zhōng zhí yán zhě Chù yě. Yán yào dào yǐ bèi yǐ, yuàn dé cì guī, ān xíng ér fǎn chén zhī yì wū.” Zé zài bài ér cí qù yě. Jūnzǐ yuē: “Chù zhī zú yǐ, guī zhēn fǎn pú, zé zhōngshēn bù rǔ.”","content_han_viet":"Tề Tuyên Vương kiến Nhan Súc, viết: “Súc tiền!” Súc diệc viết: “Vương tiền!” Tuyên Vương bất duyệt. Tả hữu viết: “Vương, nhân quân dã; Súc, nhân thần dã. Vương viết ‘Súc tiền’, Súc diệc viết ‘Vương tiền’, khả hồ?” Súc đối viết: “Phù Súc tiền vi mộ thế, Vương tiền vi xu sĩ. Dữ sử Súc vi mộ thế, bất như sử Vương vi xu sĩ.” Vương phẫn nhiên tác sắc viết: “Vương giả quý hồ? Sĩ quý hồ?” Đối viết: “Sĩ quý nhĩ, vương giả bất quý.” Vương viết: “Hữu thuyết hồ?” Súc viết: “Hữu. Tích giả Tần công Tề, lệnh viết: ‘Hữu cảm khứ Liễu Hạ Quý lũng ngũ thập bộ nhi tiều thái giả, tử bất xá.’ Lệnh viết: ‘Hữu năng đắc Tề vương đầu giả, phong vạn hộ hầu, tứ kim thiên dật.’ Do thị quan chi, sinh vương chi đầu, tằng bất nhược tử sĩ chi lũng dã.” Tuyên Vương mặc nhiên bất duyệt. Tả hữu giai viết: “Súc lai, Súc lai! Đại vương cứ thiên thặng chi địa, nhi kiến thiên thạch chung, vạn thạch cự. Thiên hạ chi sĩ, nhân nghĩa giai lai dịch xứ; biện tri tịnh tiến, mạc bất lai ngữ. Đông tây nam bắc, mạc cảm bất phục. Cầu vạn vật vô bất bị cụ, nhi bách tính vô bất thân phụ. Kim phù sĩ chi cao giả, nãi xưng thất phu, bộ đồ nhi xử nông mẫu, hạ tắc bỉ dã, giam môn, lư lý, sĩ chi tiện dã, diệc thậm hĩ!” Súc đối viết: “Bất nhiên. Súc văn cổ Đại Vũ chi thì, chư hầu vạn quốc. Hà tắc? Đức hậu chi đạo, đắc quý sĩ chi lực dã. Cố Thuấn khởi nông mẫu, xuất vu dã bỉ, nhi vi thiên tử. Cập Thang chi thì, chư hầu tam thiên. Đương kim chi thế, nam diện xưng quả giả, nãi nhị thập tứ. Do thử quan chi, phi đắc thất chi sách dữ? Sao sao tru diệt, diệt vong vô tộc chi thì, dục vi giam môn, lư lý, an khả đắc nhi hữu hồ tai? Thị cố 《Dịch truyện》 bất vân hồ: ‘Cư thượng vị, vị đắc kỳ thực, dĩ hỉ kỳ vi danh giả, tất dĩ kiêu xa vi hành. Cự mạn kiêu xa, tắc hung tòng chi. Thị cố vô kỳ thực nhi hỉ kỳ danh giả tiêu, vô đức nhi vọng kỳ phúc giả ước, vô công nhi thụ kỳ lộc giả nhục, họa tất ác.’ Cố viết: ‘Căng công bất lập, hư nguyện bất chí.’ Thử giai hạnh lạc kỳ danh, hoa nhi vô kỳ thực đức giả dã. Thị dĩ Nghiêu hữu cửu tá, Thuấn hữu thất hữu, Vũ hữu ngũ thừa, Thang hữu tam phụ, tự cổ cập kim nhi năng hư thành danh vu thiên hạ giả, vô hữu. Thị dĩ quân vương vô tu cấp vấn, bất quý hạ học; thị cố thành kỳ đạo đức nhi dương công danh vu hậu thế giả, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Chu Văn Vương thị dã. Cố viết: ‘Vô hình giả, hình chi quân dã; vô đoan giả, sự chi bản dã.’ Phù thượng kiến kỳ nguyên, hạ thông kỳ lưu, chí thánh nhân minh học, hà bất cát chi hữu tai! Lão Tử viết: ‘Tuy quý, tất dĩ tiện vi bản; tuy cao, tất dĩ hạ vi cơ.’ Thị dĩ hầu vương xưng cô, quả, bất cốc, thị kỳ tiện tất bản dữ? Phi phù cô quả giả, nhân chi khốn tiện hạ vị dã, nhi hầu vương dĩ tự vị, khởi phi hạ nhân nhi tôn quý sĩ dữ? Phù Nghiêu truyền Thuấn, Thuấn truyền Vũ, Chu Thành Vương nhậm Chu Công Đán, nhi thế thế xưng viết minh chủ, thị dĩ minh hồ sĩ chi quý dã.” Tuyên Vương viết: “Ta hồ! Quân tử yên khả vũ tai, quả nhân tự thủ bệnh nhĩ! Cập kim văn quân tử chi ngôn, nãi kim văn tế nhân chi hành, nguyện thỉnh thụ vi đệ tử. Thả Nhan tiên sinh dữ quả nhân du, thực tất thái lao, xuất tất thừa xa, thê tử y phục lệ đô.” Nhan Súc từ khứ viết: “Phù ngọc sinh vu sơn, chế tắc phá yên, phi phù bảo quý hĩ, nhiên phu phác bất hoàn. Sĩ sinh hồ bỉ dã, suy tuyển tắc lộc yên, phi bất đắc tôn toại dã, nhiên nhi hình thần bất toàn. Súc nguyện đắc quy, vãn thực dĩ đương nhục, an bộ dĩ đương xa, vô tội dĩ đương quý, thanh tĩnh trinh chính dĩ tự ngu. Chế ngôn giả vương dã, tận trung trực ngôn giả Súc dã. Ngôn yếu đạo dĩ bị hĩ, nguyện đắc tứ quy, an hành nhi phản thần chi ấp ốc.” Tắc tái bái nhi từ khứ dã. Quân tử viết: “Súc tri túc hĩ, quy chân phản phác, tắc chung thân bất nhục.”","content_vi":"Vua Tuyên Vương nước Tề đến chơi nhà Nhan Súc, bảo:\n\n“Súc lại đây.”\n\nNhan Súc cũng bảo:\n\n“Vua lại đây.”\n\nCác quan thấy vậy, nói:\n\n“Vua là bậc chí tôn, Súc là kể thần hạ. Vua bảo: “Súc lại đây” Súc cũng bảo: “vua lại đây.”, như thế nghe có được hay không?”\n\nNhan Súc nói:\n\n“ Vua gọi Súc mà Súc lại, thì Súc là người hâm mộ thần thế. Súc gọi vua mà vua lại, thì vua là người quý trọng hiền sĩ. Nếu để Súc này mang tiếng hâm mộ quyền thế, thì sao bằng để nhà vua được tiếng quý trọng hiền tài.\n\nVua nghe nói giận lắm, gắt lên rằng:\n\n“ Vua quý hay kẻ sĩ quý?”\n\nNhan Súc đáp:\n\nSĩ quý, vua không quý.\n\nVua hỏi:\n\nCó sách nào nói thế không?\n\nNhan Súc thưa:\n\nCó, Ngày trước, nước Tần sang đánh nước Tề. Có hạ lệnh: “Ai dám đến gần mộ ông Liễu Hạ Quí mà kiếm củi, thì phải xử tử.” lại có lệnh: “Ai lấy được đầu vua Tề thì được phong hầu và thưởng nghìn lạng vàng.” Xem thế đủ biết cái đầu ông vua sống thực không bằng cái mả kẻ sĩ chết.\n\nVua Tuyên Vương nói:\n\nThan ôi! Ngưởi quân tử ai mà dám khinh! Quả nhân cam chịu lỗi! Nay quả nhân xin làm đệ tử để tiên sinh dạy bảo cho. Tiên sinh mà về ở với quả nhân, thì được ăn mặc sung sướng, lên xe, xuống ngựa, vợ con được quần áo xênh xang tha hồ đẹp.\n\nNhan Súc từ chối:\n\nNgọc vốn ở núi, lấy ra mà giũa, chế làm đồ vật, tuy đem bày biện có phần quý báu nhưng cũng là hỏng, vì vóc ngọc không còn. Kẻ sĩ sinh nơi thôn dã, bỏ ra làm quan tuy vinh hiển thật, xong hình thần không còn được toàn, Súc xin ở nhà, lúc đói mới ăn, thì cũng ngon miệng như ăn cơm thịt, lúc đi, cứ bước khoan thai thì cũng nhẹ nhàng như lên xe xuống ngựa, suốt đời không tội lỗi cùng ai, thì cũng sung sướng như quan cao lộc trọng. Hình thần lúc nào cũng được trong sạch chính đính thế là đủ khoan khoái cho Súc rồi.\n\nNói đoạn, Nhan Súc tạ vua Tuyên Vương mà lui vào.","loi_ban_vi":": Xem lời Nhan Súc đối đáp với vua Tuyên Vương thì đủ biết phẩm giá con người ta thực quý hơn vua chúa. Thế mà ở đời, nhiều kể ham mê phú quý, đến nỗi mất cả nhân cách, chôn cả lương tâm, thì thật là khờ dại, đem một sự quý mà đổi lấy những sự hảo quyền ở bề ngoài rất đáng khinh.\n\nNgười ta có vô cầu mà giữ được thiên chức, không mất bản tính thì suốt đời mới không nhục và nhân phẩm mới cao.","giai_nghia":["颜斶 (Yán Chù): Nhan Súc, một ẩn sĩ nước Tề thời Chiến Quốc.","齐宣王 (Qí Xuān Wáng): Tề Tuyên Vương, vua nước Tề, trị vì 319-301 TCN.","柳下季 (Liǔ Xià Jì): Liễu Hạ Quý, tức Triển Cầm, hiền sĩ nước Lỗ, nổi tiếng thanh liêm.","慕势 (mù shì): ham mộ quyền thế.","趋士 (qū shì): đến gần kẻ sĩ, tôn trọng hiền tài.","千乘 (qiān shèng): ngàn cỗ xe, chỉ nước lớn.","镒 (yì): đơn vị trọng lượng thời cổ, 1 dật = 20 lạng (hoặc 24 lạng).","太牢 (tài láo): lễ vật tam sinh (bò, dê, lợn), chỉ thức ăn cao lương mỹ vị.","归真返璞 (guī zhēn fǎn pú): trở về chân thật, giữ bản chất hồn nhiên."],"tags":["Nhan Súc","Tề Tuyên Vương","战国策","Chiến Quốc","sĩ quý","nhân cách","ẩn sĩ"]},{"id":73,"title_vi":"KHẤU CHUẨN THƯƠNG NHỚ MẸ","title_zh_simp":"寇准思母","title_zh_trad":"寇準思母","title_pinyin":"Kòu Zhǔn Sī Mǔ","title_han_viet":"KHẤU CHUẨN TƯ MẪU","title_en":"Kou Zhun Remembers His Mother","source_book":"《宋史·寇准传》","source_author":"Thoát Thoát (脱脱)","source_period":"Nguyên triều","content_zh_simp":"寇准少时，性豪放，不修礼法，好鹰犬。母性严，见之辄怒，杖之，弗悛。一日，准废学嬉游，母怒甚，持秤锤掷之，中足，血流如注。准痛，数日始愈。自是不敢纵逸，专意学问。后登第，官至宰相。及贵，母已殁。每抚足痕，辄恸哭曰：“此痕乃吾成人之所由也。”","content_zh_trad":"寇準少時，性豪放，不修禮法，好鷹犬。母性嚴，見之輒怒，杖之，弗悛。一日，準廢學嬉遊，母怒甚，持秤錘擲之，中足，血流如注。準痛，數日始愈。自是不敢縱逸，專意學問。後登第，官至宰相。及貴，母已歿。每撫足痕，輒慟哭曰：「此痕乃吾成人之所由也。」","content_pinyin":"Kòu Zhǔn shào shí, xìng háofàng, bù xiū lǐfǎ, hào yīng quǎn. Mǔ xìng yán, jiàn zhī zhé nù, zhàng zhī, fú quān. Yī rì, Zhǔn fèi xué xī yóu, mǔ nù shèn, chí chèng chuí zhì zhī, zhòng zú, xuè liú rú zhù. Zhǔn tòng, shù rì shǐ yù. Zì shì bù gǎn zòng yì, zhuān yì xuéwèn. Hòu dēng dì, guān zhì zǎixiàng. Jí guì, mǔ yǐ mò. Měi fǔ zú hén, zhé tòngkū yuē: “Cǐ hén nǎi wú chéngrén zhī suǒ yóu yě.”","content_han_viet":"Khấu Chuẩn thiếu thời, tính hào phóng, bất tu lễ pháp, hiếu ưng khuyển. Mẫu tính nghiêm, kiến chi triếp nộ, trượng chi, phất thuẫn. Nhất nhật, Chuẩn phế học hy du, mẫu nộ thậm, trì xứng chùy trị chi, trúng túc, huyết lưu như chú. Chuẩn thống, sổ nhật thỉ dụ. Tự thị bất cảm túng dật, chuyên ý học vấn. Hậu đăng đệ, quan chí Tể tướng. Cập quý, mẫu dĩ một. Mỗi phủ túc ngân, triếp thống khốc viết: “Thử ngân nãi ngô thành nhân chi sở do dã.”","content_vi":"Ông Khấu Chuẩn thuở nhỏ, tính hay du đãng, không giữ lễ phép, lại thích chơi chim, chơi chó. Bà mẹ ông vốn là người nghiêm khắc, thấy con thế quở phạt luôn, mà vẫn không chừa.\n\nMột hôm, ông bỏ học đi chơi, bà mẹ giận lắm, cầm cái quả cân ném ông, trúng phải chân, máu chảy đầm đìa... Ông bị đau, ít lâu mới khỏi. Tự bấy giớ ông không dám lêu lổng, phóng túng, chỉ chuyên cần học tập. Về sau, thi đỗ, làm quan đến Tể tướng. Lúc ông quy hiển thì mẹ ông đã tạ thế rồi. Mỗi khi sờ đến vết thương ở chân, thì ông lại nức nở khóc lóc và nói rằng:\n\n“ Chính cái vết thương này làm cho ta nên người đây”.\n\nNhân Phủ","loi_ban_vi":"Mẫu từ chi nghiêm, chính thị từ ái chi cực. Nhất chùy chi thương, khắc cốt minh tâm, dĩ chí vu thành nhân. Khả tri gia giáo chi lực, thậm vu sư trưởng; nhi từ mẫu chi ân, vĩnh vi nhân tử giả sở đương minh ký. Phàm vi tử đệ, bất khả bất thận vu sở tòng, diệc bất khả bất cảm vu sở thụ.","giai_nghia":[":","Khấu Chuẩn: người đời Tống đỗ Tiến sĩ làm quan đời vua Chân Tôn đến chức Tể tướng, có công đánh giặc Khiết Đan.","Khấu Chuẩn (寇准): Danh tướng, chính trị gia nổi tiếng thời Bắc Tống, tự là Bình Trọng, người Hoa Châu (nay thuộc Vị Nam, Thiểm Tây).","Bất tu lễ pháp (不修礼法): Không chú ý trau dồi, giữ gìn lễ nghi và pháp độ.","Xứng chùy (秤锤): Quả cân của cây cân, dùng để chỉ vật nặng bằng kim loại.","Đăng đệ (登第): Thi đỗ, trúng tuyển trong kỳ thi khoa cử.","Tể tướng (宰相): Chức quan cao nhất trong triều đình phong kiến, tương đương Thủ tướng ngày nay."],"tags":["Hiếu đạo","Mẫu tử","Giáo dục","Tu thân"]},{"id":74,"title_vi":"TÌNH MẸ CON CON VƯỢN","title_zh_simp":"猿母丧子","title_zh_trad":"猿母喪子","title_pinyin":"Yuán Mǔ Sàng Zǐ","title_han_viet":"VIÊN MẪU TANG TỬ","title_en":"The Mother Gibbon and Her Child","source_book":"《宋景濂集·猿说》","source_author":"Tống Liêm (宋濂)","source_period":"Minh triều","content_zh_simp":"武平产猿，猿毛若金丝，闪闪可观。母子常相随，母猿性黠，子猿性痴。猎者不能得，以毒矢射之。母猿中矢，度不能生，乃取乳汁，饮其子，子饮之，母猿遂死。猎者取子猿，以鞭击母猿尸。子猿见之，哀鸣甚切，奔至其旁，猎者遂得之。归家，每夜，子猿必伏母尸，乃安；或抱之而啼，悲不自胜。未几，亦死。嗟夫！猿犹知有母，爱其母，况于人乎？","content_zh_trad":"武平產猿，猿毛若金絲，閃閃可觀。母子常相隨，母猿性黠，子猿性癡。獵者不能得，以毒矢射之。母猿中矢，度不能生，乃取乳汁，飲其子，子飲之，母猿遂死。獵者取子猿，以鞭擊母猿屍。子猿見之，哀鳴甚切，奔至其旁，獵者遂得之。歸家，每夜，子猿必伏母屍，乃安；或抱之而啼，悲不自勝。未幾，亦死。嗟夫！猿猶知有母，愛其母，況於人乎？","content_pinyin":"Wǔpíng chǎn yuán, yuán máo ruò jīn sī, shǎnshǎn kě guān. Mǔzǐ cháng xiāngsuí, mǔ yuán xìng xiá, zǐ yuán xìng chī. Liè zhě bù néng dé, yǐ dú shǐ shè zhī. Mǔ yuán zhòng shǐ, dù bù néng shēng, nǎi qǔ rǔzhī, yǐn qí zǐ, zǐ yǐn zhī, mǔ yuán suì sǐ. Liè zhě qǔ zǐ yuán, yǐ biān jī mǔ yuán shī. Zǐ yuán jiàn zhī, āi míng shèn qiè, bēn zhì qí páng, liè zhě suì dé zhī. Guī jiā, měi yè, zǐ yuán bì fú mǔ shī, nǎi ān; huò bào zhī ér tí, bēi bù zì shèng. Wèi jǐ, yì sǐ. Jiē fū! Yuán yóu zhī yǒu mǔ, ài qí mǔ, kuàng yú rén hū?","content_han_viet":"Vũ Bình sản viên, viên mao nhược kim ti, thiểm thiểm khả quan. Mẫu tử thường tương tùy, mẫu viên tính hiệt, tử viên tính si. Liệp giả bất năng đắc, dĩ độc thỉ xạ chi. Mẫu viên trúng thỉ, độ bất năng sinh, nãi thủ nhũ chi, ẩm kỳ tử, tử ẩm chi, mẫu viên toại tử. Liệp giả thủ tử viên, dĩ tiên kích mẫu viên thi. Tử viên kiến chi, ai minh thậm thiết, bôn chí kỳ bàng, liệp giả toại đắc chi. Quy gia, mỗi dạ, tử viên tất phục mẫu thi, nãi an; hoặc bão chi nhi đề, bi bất tự thắng. Vị kỷ, diệc tử. Ta phù! Viên do tri hữu mẫu, ái kỳ mẫu, huống vu nhân hồ?","content_vi":"Ở đất Vũ Bình, có giống vượn lông đỏ như vang, nõn như tơ, trông xa lấp lánh rất ngoạn mục. Có hai mẹ con con vượn, mẹ thì khôn ngoan, tai quái, con thì ngây ngô, nhẹ dạ, nhưng lúc nào cũng đi liền bên vượn mẹ. Người đi săn không thể nào nhử mồi, đánh bẫy được, mới lấy thuốc độc xác mũi tên, rình lúc vượn mẹ vô ý thì bắn. Vượn mẹ biết mình không thể sống được, vắt sữa ra dùng cho con uống, xong rồi lăn ra chết. Người đi săn quay về phía vượn con, cầm roi quật vào xác vượn mẹ. Vượn con thấy, kêu gào thương xót, chạy ngay lại gần, người đi săn bắt sống được. Lúc về nhà, cứ đêm đêm, vượn con nằm phục bên xác mẹ thì mới yên; một đôi khi lại ôm lấy kêu gào, vật vã rất thảm thiết. Không được mấy hôm vượn con cũng chết.\n\nThan ôi! Vượn là giống vật còn biết thương mẹ liều chết với mẹ huống chi là giống người lại nỡ nhẫn tâm quên mẹ phụ lòng mẹ ư!\n\nTống Liêm","loi_ban_vi":"Loài vật còn biết trọn tình hiếu đạo, hy sinh thân mình vì mẹ, vậy mà có kẻ làm người lại quên ơn cha mẹ, phụ nghĩa sinh thành, thật đáng xấu hổ thay! Tình mẫu tử là thiên tính, là gốc rễ của luân thường, dù là người hay vật cũng đều có. Người ta nếu đánh mất điều đó thì chẳng khác nào cầm thú, thậm chí còn tệ hơn.","giai_nghia":[":","Vũ Bình: tên đất ở vào địa phận phủ Định Châu tỉnh Phúc Kiến bây giờ.","Tông Liêm: người đời nhà Minh học giỏi, nhờ người từ lúc trẻ đến lúc già không có hôm nào rời quyển sách, văn chương dồi dào làm Sử nhà Nguyên 210 quyển.","Vũ Bình (武平): Tên một huyện thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.","Viên (猿): Loài vượn, ở đây chỉ loài vượn có lông màu vàng óng như tơ.","Hiệt (黠): Khôn ngoan, lanh lợi, thông minh.","Si (痴): Ngây ngô, khờ dại, không hiểu biết.","Độc thỉ (毒矢): Tên tẩm thuốc độc.","Tống Liêm (宋濂): Văn thần nổi tiếng đầu đời Minh, tự Cảnh Liêm, hiệu Tiền Khê, một trong \"Đại Minh Khai Quốc Văn Thần Đệ Nhất\"."],"tags":["Mẫu tử","Hiếu đạo","Nhân luân","Cảm khái"]},{"id":75,"title_vi":"HỌC TRÒ BIẾT HỌC","title_zh_simp":"善学","title_zh_trad":"善學","title_pinyin":"Shàn xué","title_han_viet":"THIỆN HỌC","title_en":"Learning Well","source_book":"《说苑》","source_author":"刘向","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"公明宣学于曾子。三年不读书。曾子曰：“宣，而居参之门，三年不学，何也？”公明宣曰：“安敢不学？宣见夫子居宫庭，亲在，叱咤之声未尝至于犬马，宣说之，学而未能；宣见夫子之应宾客，恭俭而不懈惰，宣说之，学而未能；宣见夫子之居朝廷，严临下而不毁伤，宣说之，学而未能。宣安敢不学而居夫子之门乎？”曾子避席谢之曰：“参不及宣，其学之力也。”","content_zh_trad":"公明宣學於曾子。三年不讀書。曾子曰：「宣，而居參之門，三年不學，何也？」公明宣曰：「安敢不學？宣見夫子居宮庭，親在，叱咤之聲未嘗至於犬馬，宣說之，學而未能；宣見夫子之應賓客，恭儉而不懈惰，宣說之，學而未能；宣見夫子之居朝廷，嚴臨下而不毀傷，宣說之，學而未能。宣安敢不學而居夫子之門乎？」曾子避席謝之曰：「參不及宣，其學之力也。」","content_pinyin":"Gōngmíng Xuān xué yú Zēngzǐ. Sān nián bù dúshū. Zēngzǐ yuē: “Xuān, ér jū Shēn zhī mén, sān nián bù xué, hé yě?” Gōngmíng Xuān yuē: “Ān gǎn bù xué? Xuān jiàn fūzǐ jū gōngtíng, qīn zài, chìzhà zhī shēng wèicháng zhì yú quǎnmǎ, xuān shuō zhī, xué ér wèi néng; xuān jiàn fūzǐ zhī yìng bīnkè, gōngjiǎn ér bù xièduò, xuān shuō zhī, xué ér wèi néng; xuān jiàn fūzǐ zhī jū cháotíng, yán lín xià ér bù huǐshāng, xuān shuō zhī, xué ér wèi néng. Xuān ān gǎn bù xué ér jū fūzǐ zhī mén hū?” Zēngzǐ bìxí xiè zhī yuē: “Shēn bùjí Xuān, qí xué zhī lì yě.”","content_han_viet":"Công Minh Tuyên học vu Tăng Tử. Tam niên bất độc thư. Tăng Tử viết: “Tuyên, nhi cư Sâm chi môn, tam niên bất học, hà dã?” Công Minh Tuyên viết: “An cảm bất học? Tuyên kiến phu tử cư cung đình, thân tại, sất sá chi thanh vị thường chí vu khuyển mã, Tuyên thuyết chi, học nhi vị năng; Tuyên kiến phu tử chi ứng tân khách, cung kiệm nhi bất giải nọa, Tuyên thuyết chi, học nhi vị năng; Tuyên kiến phu tử chi cư triều đình, nghiêm lâm hạ nhi bất hủy thương, Tuyên thuyết chi, học nhi vị năng. Tuyên an cảm bất học nhi cư phu tử chi môn hồ?” Tăng Tử tịch tịch tạ chi viết: “Sâm bất cập Tuyên, kỳ học chi lực dã.”","content_vi":"Công Minh Tuyên đến học thầy Tăng Tử. Ở nhà thầy đã ba năm mà không mấy khi đọc sách.\n\nThầy Tăng Tử hỏi:\n\nNgươi đến đây học đã ba năm nay, ta xem ý người không mấy khi học tập sách vở như các anh em, là tại làm sao?\n\nCông Minh Tuyên nói:\n\nThưa thầy, con vẫn học. Còn thầy: thầy ở trong nhà, trước mặt song thân, lúc nào cũng hiều thuận, hòa nhã, cho đến giống vật như chó, mèo, thầy cũng không quở mắng bao giờ. Thầy ứng tiếp bạn bè cung kính ung dung, rất có lẽ độ, kẻ dở người hay, ai nấy đều thiếp phục. Thầy ở triều đình, đối với kẻ bề ngoài rất là nghiêm trọng mà trong bụng rất là nhân từ, không có ý hại ai bao giờ cả. Ba điều ấy con lấy làm vui lòng mà mãi làm chưa được. Con đâu dám không học mà cứ ở cửa nhà thầy.\n\nThầy Tăng Tử nghe đoạn, tạ Công Minh Tuyên và nói rằng:\n\nTa nay không bằng nhà ngươi.","loi_ban_vi":": Học trò như Công Minh Tuyên, thầy dạy như Tăng Tử, mới thực là học trò biết học, ông thầy biết dạy, xứng đáng thầy trò vậy. Làm ông thầy, không những lấy tri thức mà truyền thụ, lại cần lấy đức tính mà làm gương giáo hóa cho kẻ đi học nữa. Sách có câu: “Dĩ ngôn vi giáo, dĩ thân vi giáo”, cũng là lấy nghĩa ấy. Làm học trò nhưng không những bo bo ở việc học tập văn bài, lại phải học cả động, tĩnh, ngữ, mặc, thái độ hình dung của thầy để bắt chước cho được được thầy nữa. Học như thế mới là học được cái tinh hoa. Công Minh Tuyên chỉ học trong ba điều kể trong bài này, mà tức là học được đủ bồn phận của người đối với gia tộc và xã hội vậy. Đây là học ở trường học thường mà biết học còn hay như thế, huống chi học trường tự nhiên là trường thế giới mà biết học thì hay còn biết chừng nào.","giai_nghia":["Công Minh Tuyên: người nước Lỗ về đời Xuân Thu, học trò thầy Tăng Tử.","公明宣 (Công Minh Tuyên): Học trò của Tăng Tử, người nước Lỗ thời Xuân Thu.","曾子 (Tăng Tử): Tên thật là 曾参 (Tăng Sâm), học trò xuất sắc của Khổng Tử, nổi tiếng về hiếu hạnh.","避席 (tịch tịch): Rời khỏi chiếu, một cử chỉ lịch sự thể hiện sự tôn trọng và khiêm nhường khi nghe lời dạy bảo hoặc lời khen của người khác."],"tags":["Giáo dục","Học tập","Nêu gương","Đạo đức","Tăng Tử"]},{"id":76,"title_vi":"PHÚC ĐẤY HỌA ĐẤY","title_zh_simp":"福兮祸兮","title_zh_trad":"福兮禍兮","title_pinyin":"Fú xī huò xī","title_han_viet":"PHÚC HÊ HỌA HÊ","title_en":"Fortune Here, Misfortune There","source_book":"《郁离子》","source_author":"刘基","source_period":"Nhà Minh","content_zh_simp":"郁离子居山，夜有狸取其鸡，追之弗及。明日，从者擭其入之所以得鸡，狸来而絷焉。身缧而足絷，不能也。郁离子曰：“人之死生，系乎天；物之得失，系乎人。天者，不可测也；人者，可得而制也。故君子修己以俟天，小人怨天而不责人。今有人焉，力能得之，而反失之，是不知也；力不能得之，而强取之，是贪也。不知与贪，君子之所不取也。”","content_zh_trad":"郁離子居山，夜有狸取其雞，追之弗及。明日，從者擭其入之所以得雞，狸來而縶焉。身縲而足縶，不能也。郁離子曰：「人之死生，繫乎天；物之得失，繫乎人。天者，不可測也；人者，可得而制也。故君子修己以俟天，小人怨天而不責人。今有人焉，力能得之，而反失之，是不知也；力不能得之，而強取之，是貪也。不知與貪，君子之所不取也。」","content_pinyin":"Yùlízǐ jū shān, yè yǒu lí qǔ qí jī, zhuī zhī fú jí. Míngrì, cóngzhě huò qí rù zhī suǒyǐ dé jī, lí lái ér zhí yān. Shēn léi ér zú zhí, bù néng yě. Yùlízǐ yuē: \"Rén zhī sǐshēng, xì hū tiān; wù zhī déshī, xì hū rén. Tiān zhě, bùkě cè yě; rén zhě, kě dé ér zhì yě. Gù jūnzǐ xiū jǐ yǐ sì tiān, xiǎorén yuàn tiān ér bù zé rén. Jīn yǒu rén yān, lì néng dé zhī, ér fǎn shī zhī, shì bùzhī yě; lì bùnéng dé zhī, ér qiáng qǔ zhī, shì tān yě. Bùzhī yǔ tān, jūnzǐ zhī suǒ bù qǔ yě.\"","content_han_viet":"Uất Ly Tử cư sơn, dạ hữu ly thủ kỳ kê, truy chi phất cập. Minh nhật, tòng giả hoạch kỳ nhập chi sở dĩ đắc kê, ly lai nhi trập yên. Thân luy nhi túc trập, bất năng dã. Uất Ly Tử viết: “Nhân chi tử sinh, hệ hồ thiên; vật chi đắc thất, hệ hồ nhân. Thiên giả, bất khả trắc dã; nhân giả, khả đắc nhi chế dã. Cố quân tử tu kỷ dĩ sĩ thiên, tiểu nhân oán thiên nhi bất trách nhân. Kim hữu nhân yên, lực năng đắc chi, nhi phản thất chi, thị bất tri dã; lực bất năng đắc chi, nhi cưỡng thủ chi, thị tham dã. Bất tri dữ tham, quân tử chi sở bất thủ dã.”","content_vi":"Một người nhà quê rải cỏ phơi ở chân giậu. Hôm sau ra vơ cỏ, nghe thấy tiếng kêu “tích tích” lật lên xem, thì bắt ngay được một con trĩ.\n\nAnh ta thấy thế, lại cứ để cỏ đấy, có ý mong ngày mai lại được con trĩ nữa.\n\nMai ra, lắng tai nghe lại thấy tiếng kêu “tích tích” như hôm trước, trong bụng mừng thầm. Nhưng vừa bới cỏ lên, thì ra một con rắn, nó cắn ngay vào tay, anh ta bị thương rồi chết.\n\nÚc Ly Tử nói rằng:\n\n“Một việc nhỏ ấy đủ làm gương cho ta. Trong thiên hạ có cái phúc không tưởng được thế, mà may được thế cũng có cái họa không ngờ đến thế, mà xảy ra thế!”","loi_ban_vi":": Sự may, sự rủi người ta không thể lường trước được. Trong cái may, biết đâu mà chẳng có cái không may, trong cái chẳng may, biết đâu mà chẳng không có cái may? Cũng một việc, bận trước là chẳng may, bận sau lại may, như người trước gặp trĩ có lợi, sau gặp rắn bị chết, nói trong chuyện này! Chúng ta nên nhớ rằng: tham thì thâm, đã đắc ý một lần, không nên lại đến lần nữa. Đến không những không được như lần trước mà lại còn bị khinh bỉ khổ nhục nữa.","giai_nghia":["郁离子 (Uất Ly Tử): Tên hiệu của Lưu Cơ (刘基), một nhà tư tưởng, quân sư và văn học gia nổi tiếng đầu đời Minh.","狸 (ly): Con mèo rừng, hoặc có thể hiểu là con cáo.","擭 (hoạch): Cái bẫy để bắt thú."],"tags":["Ngụ ngôn","Triết lý","Tham lam","Nhân quả","Lưu Cơ"]},{"id":77,"title_vi":"HỌA PHÚC KHÔN LƯỜNG","title_zh_simp":"祸福坤量","title_zh_trad":"禍福坤量","title_pinyin":"Huò Fú Kūn Liàng","title_han_viet":"HỌA PHÚC KHÔN LƯỜNG","title_en":"Fortune and Misfortune Are Unfathomable","source_book":"《淮南子·人间训》","source_author":"Lưu An","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"近塞上之人有善术者，马无故亡而入胡。人皆吊之，其父曰：“此何遽不为福乎？”居数月，其马将胡骏马而归。人皆贺之，其父曰：“此何遽不能为祸乎？”家富良马，其子好骑，堕而折其髀。人皆吊之，其父曰：“此何遽不为福乎？”居一年，胡人大入塞，丁壮者引弦而战。近塞之人，死者十九。此独以跛之故，父子相保。","content_zh_trad":"近塞上之人有善術者，馬無故亡而入胡。人皆弔之，其父曰：“此何遽不為福乎？”居數月，其馬將胡駿馬而歸。人皆賀之，其父曰：“此何遽不能為禍乎？”家富良馬，其子好騎，墮而折其髀。人皆弔之，其父曰：“此何遽不為福乎？”居一年，胡人大入塞，丁壯者引弦而戰。近塞之人，死者十九。此獨以跛之故，父子相保。","content_pinyin":"Jìn sài shàng zhī rén yǒu shàn shù zhě, mǎ wúgù wáng ér rù Hú. Rén jiē diào zhī, qí fù yuē: “Cǐ hé jù bù wéi fú hū?” Jū shù yuè, qí mǎ jiāng Hú jùn mǎ ér guī. Rén jiē hè zhī, qí fù yuē: “Cǐ hé jù bù néng wéi huò hū?” Jiā fù liáng mǎ, qí zǐ hào qí, duò ér zhé qí bì. Rén jiē diào zhī, qí fù yuē: “Cǐ hé jù bù wéi fú hū?” Jū yī nián, Hú rén dà rù sài, dīngzhuàng zhě yǐn xián ér zhàn. Jìn sài zhī rén, sǐ zhě shíjiǔ. Cǐ dú yǐ bǒ zhī gù, fùzǐ xiāng bǎo.","content_han_viet":"Cận tái thượng chi nhân hữu thiện thuật giả, mã vô cố vong nhi nhập Hồ. Nhân giai điếu chi, kỳ phụ viết: “Thử hà cự bất vi phúc hồ?” Cư sổ nguyệt, kỳ mã tương Hồ tuấn mã nhi quy. Nhân giai hạ chi, kỳ phụ viết: “Thử hà cự bất năng vi họa hồ?” Gia phú lương mã, kỳ tử hiếu kỵ, đọa nhi chiết kỳ tỵ. Nhân giai điếu chi, kỳ phụ viết: “Thử hà cự bất vi phúc hồ?” Cư nhất niên, Hồ nhân đại nhập tái, đinh tráng giả dẫn huyền nhi chiến. Cận tái chi nhân, tử giả thập cửu. Thử độc dĩ bả chi cố, phụ tử tương bảo.","content_vi":"Một ông lão ở gần cửa ải có con ngựa tự nhiên đi sang nước Hồ mất.\n\nNgười quen kẻ thuộc đều đến hỏi thăm.\n\nÔng lão nói:\n\nMất ngựa thế mà phúc cho tôi đấy biết đâu.\n\nCách mấy tháng con ngựa về lại quyến thêm được một con ngựa hay nữa.\n\nNgười quen kẻ thuộc đều đến mừng rỡ.\n\nÔng lão nói:\n\nĐược ngựa thế mà họa cho tôi biết đâu.\n\nTừ khi được ngựa hay, con ông lão thích cưỡi, chẳng may ngã què chân.\n\nNgười quen kẻ thuộc đều đến hỏi thăm.\n\nÔng lão nói:\n\nCon què thế mà phúc cho tôi đấy biết đâu.\n\nCách một năm, có giặc Hồ. Nhà vua bắt lính đi đánh giặc. Quân lính mười người chết đến chín. Chỉ con ông lão, vì què không phải đi lính, mà cha con vẫn có nhau.","loi_ban_vi":": họa phúc xoay vần, khó lòng biết được. Trong cái phúc thường có cái họa nấp sẵn ở đấy, trong cái họa thường khi lại có cái phúc nấp sẵn ở đây. Cho nên, đối với sự họa phúc, ta không nên vội lấy việc chỉ có một thời mà quyết định cho là hay mãi hay dở mãi được. Ta chỉ nên, khi gặp phúc, thì thao thủ cẩn thận, đừng có kiêu xa phóng túng, may mà giữ được phúc lâu dài, khi gặp họa, thì tu tỉnh lấy thân, đừng có ngã lòng, đừng có oán trách, may mà qua được họa lại gặp phúc chăng.","giai_nghia":["Hồ: tức là Hung nô ở phía bắc nước Tàu hay vào nhiễu loạn nước Tàu","Hoài Nam Tử: tên là Lưu An, tôn thất nhà Tây Hán, tức Hoài Nam Vương, làm sách nói về đạo đức.","Tái (塞): Vùng biên giới, cửa ải.","Hồ (胡): Tên gọi chung của các dân tộc du mục phía Bắc Trung Quốc thời cổ.","Hà cự (何遽): Làm sao, sao lại, dùng trong câu hỏi phản vấn, nghĩa là 'sao biết được...'.","Tỵ (髀): Xương đùi, phần trên của chân.","Thập cửu (十九): Mười phần thì chín phần, ý nói tỉ lệ tử vong rất cao."],"tags":["Triết lý nhân sinh","Họa phúc","Biến hóa","Hoài Nam Tử","Đạo gia"]},{"id":78,"title_vi":"VẼ GÌ KHÓ","title_zh_simp":"画什么难","title_zh_trad":"畫什麼難","title_pinyin":"Huà Shénme Nán","title_han_viet":"VẼ GÌ KHÓ","title_en":"What Is Difficult to Paint?","source_book":"《韩非子·外储说左上》","source_author":"Hàn Phi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"客有为齐王画者，齐王问曰：“画，孰最难者？”曰：“犬马最难，鬼魅最易。”曰：“何也？”曰：“犬马，人所知也，旦暮罄于前，不可类之，故难。鬼魅，无形者，不罄于前，故易之也。”","content_zh_trad":"客有為齊王畫者，齊王問曰：“畫，孰最難者？”曰：“犬馬最難，鬼魅最易。”曰：“何也？”曰：“犬馬，人所知也，旦暮罄於前，不可類之，故難。鬼魅，無形者，不罄於前，故易之也。”","content_pinyin":"Kè yǒu wéi Qí wáng huà zhě, Qí wáng wèn yuē: “Huà, shú zuì nán zhě?” Yuē: “Quǎn mǎ zuì nán, guǐ mèi zuì yì.” Yuē: “Hé yě?” Yuē: “Quǎn mǎ, rén suǒ zhī yě, dàn mù qìng yú qián, bù kě lèi zhī, gù nán. Guǐ mèi, wú xíng zhě, bù qìng yú qián, gù yì zhī yě.”","content_han_viet":"Khách hữu vi Tề vương họa giả, Tề vương vấn viết: “Họa, thục tối nan giả?” Viết: “Khuyển mã tối nan, quỷ mị tối dị.” Viết: “Hà dã?” Viết: “Khuyển mã, nhân sở tri dã, đán mộ khánh vu tiền, bất khả loại chi, cố nan. Quỷ mị, vô hình giả, bất khánh vu tiền, cố dị chi dã.”","content_vi":"Có người thợ vẽ, vẽ cho vua nước Tề mấy bức tranh.\n\nVua hỏi:\n\n- Vẽ cái gì khó ?\n\nThưa:\n\n- Vẽ chó, vẽ ngựa khó.\n\n- Vẽ gì dễ?\n\n- Vẽ ma vẽ quỷ dễ.\n\n- Sao lại thế?\n\n- Chó ngựa ai cũng trông thấy, vẽ mà không giống, thì người ta chê cười, cho nên khó vẽ. Ma quỷ là giống vô hình, không ai trông thấy, tùy ý muốn vẽ thế nào cũng được, không sợ ai bẻ, cho nên dễ vẽ.\n\nNgười nào bỏ những công việc nhật dụng thường hành, chỉ chăm làm những việc kì dị quái gở để lòe thiên hạ, thì cũng chẳng khác nào như người thợ chỉ vẽ ma, vẽ quỷ, nghĩa là tránh cái khó mà làm cái dễ vậy.","loi_ban_vi":"Việc đời cũng như vẽ vậy. Kẻ ham chuộng hư danh, lập dị, bày ra những điều quái gở, cao xa để lừa dối thiên hạ, đó là tránh việc thực tế khó khăn mà làm việc hư ảo dễ dàng. Người quân tử nên chăm lo việc thường hành, thiết thực, dám đối diện với khó khăn, chứ không nên trốn tránh để chuộng những điều huyền hoặc, vô bổ.","giai_nghia":["Tề vương (齊王): Vua nước Tề thời Chiến Quốc.","Khuyển mã (犬馬): Chó và ngựa, chỉ những sự vật quen thuộc, gần gũi với đời sống con người.","Quỷ mị (鬼魅): Ma quỷ, những thứ hư vô, không có thực, không ai nhìn thấy.","Khánh (罄): Hiện ra, bày ra đầy đủ.","Loại (類): Giống, mô phỏng cho giống."],"tags":["Triết lý nhân sinh","Ngụ ngôn","Hàn Phi Tử","Pháp gia","Thực tế"]},{"id":79,"title_vi":"CÁCH ĐÂM HỔ","title_zh_simp":"刺虎","title_zh_trad":"刺虎","title_pinyin":"Cì Hǔ","title_han_viet":"THÍCH HỔ","title_en":"Stabbing the Tigers","source_book":"《史记·张仪列传》","source_author":"Tư Mã Thiên","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"卞庄子欲刺虎，馆竖子止之曰：“两虎方且食牛，食甘必争，争则必斗，斗则大者伤，小者死。从伤而刺之，一举必有双虎之名。”卞庄子以为然，立须之。有顷，两虎果斗，大者伤，小者死。庄子从伤者而刺之，一举果有双虎之功。","content_zh_trad":"卞莊子欲刺虎，館豎子止之曰：「兩虎方且食牛，食甘必爭，爭則必鬥，鬥則大者傷，小者死。從傷而刺之，一舉必有雙虎之名。」卞莊子以為然，立須之。有頃，兩虎果鬥，大者傷，小者死。莊子從傷者而刺之，一舉果有雙虎之功。","content_pinyin":"Biàn Zhuāngzǐ yù cì hǔ, guǎn shùzǐ zhǐ zhī yuē: “Liǎng hǔ fāng qiě shí niú, shí gān bì zhēng, zhēng zé bì dòu, dòu zé dà zhě shāng, xiǎo zhě sǐ. Cóng shāng ér cì zhī, yījǔ bì yǒu shuāng hǔ zhī míng.” Biàn Zhuāngzǐ yǐwéi rán, lì xū zhī. Yǒuqǐng, liǎng hǔ guǒ dòu, dà zhě shāng, xiǎo zhě sǐ. Zhuāngzǐ cóng shāng zhě ér cì zhī, yījǔ guǒ yǒu shuāng hǔ zhī gōng.","content_han_viet":"Biện Trang tử dục thích hổ, quán trụ tử chỉ chi viết: “Lưỡng hổ phương thả thực ngưu, thực cam tất tranh, tranh tắc tất đấu, đấu tắc đại giả thương, tiểu giả tử. Tòng thương nhi thích chi, nhất cử tất hữu song hổ chi danh.” Biện Trang tử dĩ vi nhiên, lập tu chi. Hữu khoảnh, lưỡng hổ quả đấu, đại giả thương, tiểu giả tử. Trang tử tòng thương giả nhi thích chi, nhất cử quả hữu song hổ chi công.","content_vi":"Hai con hổ đang ăn thịt một con trâu. Biện Trang muốn ra đâm hổ. Có thằng trẻ con bảo rằng:\n\nHãy lượm đã ông ạ. Hổ là giống tàn bạo, trâu là mồi ngon ngọt. Bây giờ hai con hổ đang cùng ăn một con trâu, thấy thịt trâu ngon, tất tranh nhau, đánh nhau. Đánh nhau, thì hổ nhỏ chết mất mà hổ lớn cũng bị thương. Ông đợi đến bấy giờ hãy ra, thì không phải chỉ đâm được một con, mà rồi được cả hai con không? Như thế, thì chẳng phải là công dùng ít mà lợi được nhiều ư?\n\nBiện Trang cho lời nói ấy là phải, làm theo y như thế, quả nhiên bắt được cả hai con hổ.","loi_ban_vi":": Bài này cốt ý dạy ta làm việc gì biết thừa cơ mà làm, thì ít khó nhọc, mà lại dễ thành công. Như Biện Trang đây, bắt hai con hổ ngay, công phu nhiều mà chưa chắc đã được. Đợi nó đánh nhau, một con chết một con bị thương, thì ra chỉ mất công bắt một con hổ yếu (vì mới bị thương) mà rồi được cả hai con hổ vậy. Ý bài này cũng giống câu nói của Mạnh Tử: “Tuy hữu trí tuệ, bất thừa thời thế; tuy hữu ti cơ, bất như đãi thời”. Nghĩa là tuy có khôn ngoan sáng suốt, chẳng bằng thừa được cái thế, lại dễ làm hơn, tuy có điền khí sẵn sàng, chẳng bằng đợi đến thời đáng làm mới làm thì lại được việc.","giai_nghia":[":","Biện Trang: Người nước Lỗ, thời Xuân Thu, làm quan Đại phu ở ấp Biện, là người khỏe có tiếng, thường hay đâm được hổ.","卞庄子 (Biện Trang tử): Một dũng sĩ nổi tiếng thời Xuân Thu, người nước Lỗ.","馆竖子 (quán trụ tử): Đứa trẻ hầu hạ trong quán trọ, ý chỉ kẻ hầu cận, người ở.","一举 (nhất cử): Một hành động, một việc làm; ở đây chỉ việc ra tay một lần.","须 (tu): Chờ đợi."],"tags":["Mưu lược","Chiến lược","Chờ thời cơ","Ngụ ngôn","Sử ký"]},{"id":80,"title_vi":"ÂM NHẠC","title_zh_simp":"乐论","title_zh_trad":"樂論","title_pinyin":"Yuè Lùn","title_han_viet":"NHẠC LUẬN","title_en":"Discourse on Music","source_book":"《荀子·乐论》","source_author":"Tuân Tử","source_period":"Tiên Tần (thời Chiến Quốc)","content_zh_simp":"夫乐者，乐也，人情之所必不免也。故人不能无乐，乐则必发于声音，形于动静，而人之道，声音动静，性术之变尽是矣。故人不能不乐，乐则不能无形，形而不为道，则不能无乱。先王恶其乱也，故制《雅》《颂》之声以道之，使其声足以乐而不流，使其文足以辨而不諿，使其曲直、繁省、廉肉、节奏足以感动人之善心，使夫邪污之气无由得接焉。","content_zh_trad":"夫樂者，樂也，人情之所必不免也。故人不能無樂，樂則必發於聲音，形於動靜，而人之道，聲音動靜，性術之變盡是矣。故人不能不樂，樂則不能無形，形而不為道，則不能無亂。先王惡其亂也，故制《雅》《頌》之聲以道之，使其聲足以樂而不流，使其文足以辨而不諿，使其曲直、繁省、廉肉、節奏足以感動人之善心，使夫邪污之氣無由得接焉。","content_pinyin":"Fú yuè zhě, lè yě, rénqíng zhī suǒ bì bùmiǎn yě. Gù rén bùnéng wú lè, lè zé bì fā yú shēngyīn, xíng yú dòngjìng, ér rén zhī dào, shēngyīn dòngjìng, xìng shù zhī biàn jìn shì yǐ. Gù rén bùnéng bù lè, lè zé bùnéng wú xíng, xíng ér bù wéi dào, zé bùnéng wú luàn. Xiān wáng è qí luàn yě, gù zhì 《Yǎ》《Sòng》 zhī shēng yǐ dào zhī, shǐ qí shēng zúyǐ lè ér bù liú, shǐ qí wén zúyǐ biàn ér bù xī, shǐ qí qūzhí, fánshěng, lián ròu, jiézòu zúyǐ gǎndòng rén zhī shànxīn, shǐ fú xié wū zhī qì wú yóu dé jiē yān.","content_han_viet":"Phù nhạc giả, lạc dã, nhân tình chi sở tất bất miễn dã. Cố nhân bất năng vô lạc, lạc tắc tất phát vu thanh âm, hình vu động tĩnh, nhi nhân chi đạo, thanh âm động tĩnh, tính thuật chi biến tận thị hĩ. Cố nhân bất năng bất lạc, lạc tắc bất năng vô hình, hình nhi bất vi đạo, tắc bất năng vô loạn. Tiên vương ố kỳ loạn dã, cố chế 《Nhã》《Tụng》 chi thanh dĩ đạo chi, sử kỳ thanh túc dĩ lạc nhi bất lưu, sử kỳ văn túc dĩ biện nhi bất tê, sử kỳ khúc trực, phồn tỉnh, liêm nhục, tiết tấu túc dĩ cảm động nhân chi thiện tâm, sử phù tà ô chi khí vô do đắc tiếp yên.","content_vi":"Âm là tự lòng người ta mà sinh ra. Lòng người có cảm giác, mới phát động ra âm. Âm tuy thành ở ngoài miệng mà thực phát ra tự trong lòng.\n\nCho nên nghe âm thanh mà biết được phong tục, xét phong tục mà biết được chí hướng. xem chí hướng mà biết được đạo đức, thịnh, suy, khôn, dại, hay dở đều hện ra âm nhạc không giấu được ai. Bởi vậy cứ lấy âm nhạc mà nghiệm được một nước ra thế nào.\n\nĐất xấu thì cây cối khẳng khiu, nước **c thì tôm cá gầy còm. Đời suy thì lễ nghĩa phiền mà âm nhạc dâm. Những âm dâm đãng, tà khúc, những âm trên bộc trong dâu mà dưới dân gian lấy làm thích là nước loạn, mà trên vua chúa lấy làm vui là đức suy.\n\nÂm nhạc đã không có tiết tấu, không được trang nghiêm, thuần một màu dâm đãng đã xuất ra thời chỉ cảm được cái lòng dâm đãng tà khúc mà rồi sinh ra bao nhiêu việc tà khúc gian nguy vậy.\n\nCho nên người quân tử để tâm vào đạo mà sửa lấy đức, chỉnh lại đức để làm âm nhạc, hòa nhạc để cho thành thuận, mà nhạc có hòa, thì mới chỉnh đốn được mọi việc.\n\nTuân tử","loi_ban_vi":"Nếu xem âm nhạc một nước mà biết được nước ấy là thế nào, thì đủ biết âm nhạc có một cái quan hệ mật thiết với sự tồn vong, thịnh suy của một nước. Ôi! Âm nhạc của nước ta hiện nay thế nào! Có nhiều người nếu không chê rằng là ai oán chi âm, Trịnh Vệ chi thanh, thì cũng không cho được rằng có vẻ hùng dũng, cái khí cao xa ở trong ấy. Tiếc rằng người đánh đàn, kẻ kéo nhị thì nhiều, nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có lưu thủy với nam ai, còn người thực am hiểu âm luật, có thể cải lương được âm nhạc chưa có mấy. Ước gì những bậc có tài nghệ âm nhạc hằng lưu tâm đến, làm cho cái âm nhạc sầu não, ẻo lả kia được chỉnh đốn mà phấn chấn lên, thì thực là bậc “cứu quốc” có công to với cả nước vậy.","giai_nghia":["乐 (nhạc): Âm nhạc; cũng có nghĩa là vui (lạc).","雅、颂 (Nhã, Tụng): Hai bộ phận trong Kinh Thi, tượng trưng cho âm nhạc chính thống, trang nhã của triều đình.","先王 (tiên vương): Các bậc vua chúa thời thượng cổ, được coi là thánh nhân.","邪污之气 (tà ô chi khí): Khí chất tà ác, ô uế, chỉ những điều xấu xa trong lòng người."],"tags":["Âm nhạc","Triết lý","Đạo đức","Tuân Tử","Chính trị"]},{"id":81,"title_vi":"TRÍ VÀ NHÂN","title_zh_simp":"智仁之辨","title_zh_trad":"智仁之辨","title_pinyin":"Zhì Rén Zhī Biàn","title_han_viet":"TRÍ NHÂN CHI BIỆN","title_en":"The Distinction Between Wisdom and Benevolence","source_book":"《孔子家語》","source_author":"Khổng Tử (孔子) - do Vương Túc (王肅) biên soạn","source_period":"Đông Hán - Ngụy Tấn (thế kỷ 3)","content_zh_simp":"子路见于孔子。孔子问曰：“何谓智者？何谓仁者？”子路对曰：“智者使人知己，仁者使人爱己。”子曰：“可谓士矣。”子路出，子贡入。问曰：“何谓智者？何谓仁者？”子贡对曰：“智者知人，仁者爱人。”子曰：“可谓士矣。”子贡出，颜回入。问曰：“何谓智者？何谓仁者？”颜回对曰：“智者自知，仁者自爱。”子曰：“可谓士君子矣。”","content_zh_trad":"子路見於孔子。孔子問曰：“何謂智者？何謂仁者？”子路對曰：“智者使人知己，仁者使人愛己。”子曰：“可謂士矣。”子路出，子貢入。問曰：“何謂智者？何謂仁者？”子貢對曰：“智者知人，仁者愛人。”子曰：“可謂士矣。”子貢出，顏回入。問曰：“何謂智者？何謂仁者？”顏回對曰：“智者自知，仁者自愛。”子曰：“可謂士君子矣。”","content_pinyin":"Zǐlù jiàn yú Kǒngzǐ. Kǒngzǐ wèn yuē: “Hé wèi zhì zhě? Hé wèi rén zhě?” Zǐlù duì yuē: “Zhì zhě shǐ rén zhī jǐ, rén zhě shǐ rén ài jǐ.” Zǐ yuē: “Kě wèi shì yǐ.” Zǐlù chū, Zǐgòng rù. Wèn yuē: “Hé wèi zhì zhě? Hé wèi rén zhě?” Zǐgòng duì yuē: “Zhì zhě zhī rén, rén zhě ài rén.” Zǐ yuē: “Kě wèi shì yǐ.” Zǐgòng chū, Yán Huí rù. Wèn yuē: “Hé wèi zhì zhě? Hé wèi rén zhě?” Yán Huí duì yuē: “Zhì zhě zì zhī, rén zhě zì ài.” Zǐ yuē: “Kě wèi shì jūnzǐ yǐ.”","content_han_viet":"Tử Lộ kiến vu Khổng Tử. Khổng Tử vấn viết: “Hà vị trí giả? Hà vị nhân giả?” Tử Lộ đối viết: “Trí giả sử nhân tri kỷ, nhân giả sử nhân ái kỷ.” Tử viết: “Khả vị sĩ hĩ.” Tử Lộ xuất, Tử Cống nhập. Vấn viết: “Hà vị trí giả? Hà vị nhân giả?” Tử Cống đối viết: “Trí giả tri nhân, nhân giả ái nhân.” Tử viết: “Khả vị sĩ hĩ.” Tử Cống xuất, Nhan Hồi nhập. Vấn viết: “Hà vị trí giả? Hà vị nhân giả?” Nhan Hồi đối viết: “Trí giả tự tri, nhân giả tự ái.” Tử viết: “Khả vị sĩ quân tử hĩ.”","content_vi":"Thầy Tử Lộ yết kiến đức Khổng Tử.\n\nĐức Khổng Tử hỏi: Thế nào là người trí? Thế nào là người nhân?\n\nThầy Tử Lộ thưa:Người trí là người làm thế nào để cho người ta biết mình; người nhân là người làm thế nào để cho người ta yêu mình.\n\nĐức Khổng Tử bảo: Nhà ngươi nói vậy cũng khá gọi là người có học vấn.\n\nThầy Tử Lộ ra, thầy Tử Cống vào, đức Khổng Tử lại hỏi người trí, người nhân là thế nào?\n\nThầy Tử Cống thưa: Người trí là người biết người; người nhận là người yêu người.\n\nĐức Khổng Tử bảo: Nhà ngươi nói vậy cũng khá gọi là người có học vấn Thầy Tử Cống ra, thần Nhan Hồi vào, đức Khổng Tử lại đem trí, nhân ra hỏi.\n\nThầy Nhan Hồi thưa: Người trí là người tự biết mình; người nhân là người tự yêu mình.\n\nĐức Khổng Tử bảo: Nhà ngươi nói như vậy đáng gọi là bậc sĩ quân tử.","loi_ban_vi":"Cũng một chữ Trí, một chữ Nhân mà ba người đáp mỗi người một khác.\n\nKhông phải là trí với nhân có lắm nghĩa, thay đổi khác nhau, đó là tùy theo cái trình độ học vấn, kiến thức của mỗi người, mà tư tưởng thuyết minh có phần hơn kém nhau. Thầy Tử Lộ đáp như thế là người vụ ngoại, chỉ cần cho người ta biết mình, yêu mình mà thôi. Thầy Tử Cống đám như thế là người quên mình, chỉ biết người, yêu người mà thôi. So với thầy Tử Lộ thì cao hơn một bậc. Song chưa bằng thầy Nhan Hồi, học như thế mới là học vị kỷ; nghĩa là học để tự biết mình, yêu mình trước, rồi suy rộng ra đến biết người, yêu người. Biết mình, yêu mình không phải là có lòng tự kỷ hẹp hòi. Có biết mình thì mới tu tỉnh được tâm thân, cải quá thiên thiện mà nên người hay, người khá, cũng như câu: “Connais toi toi même” của người Tô Lạp Thị. Có yêu mình, thì mới biết trọng tư cách của mình, quí phẩm giá của mình rồi mới đến thân nhân dân, ái vật, tức cũng như câu tục ngữ Pháp: “Charité bien ordonnée commence par soi-même”.","giai_nghia":["Tử Lộ: học trò giỏi của đức Khổng Tử, có tiếng về khoa chánh sự","Tử Cống: học trò giỏi của đức Khổng Tử, có tiếng về khoa ngôn ngữ","Nhan Hồi: học trò giỏi nhất của đức Khổng Tử, có tiếng về khoa đức hạnh","Sĩ quân tử: bậc người thượng lưu trong xã hội, có đức hạnh, có học vấn, có kiến thức","Gia Ngữ: Tên đầy đủ là 《孔子家語》, do Vương Túc đời Tào Ngụy biên soạn, ghi chép lời dạy của Khổng Tử và lời đối đáp của các môn đệ.","Tử Lộ (子路): Tên thật là Trọng Do (仲由), tự Tử Lộ, nổi tiếng với tính cách cương trực, dũng cảm.","Tử Cống (子貢): Tên thật là Đoan Mộc Tứ (端木賜), tự Tử Cống, nổi tiếng với tài ăn nói và kinh doanh.","Nhan Hồi (顏回): Tự Tử Uyên (子淵), là người đệ tử được Khổng Tử khen ngợi nhất về đức hạnh và sự ham học.","士 (sĩ): Tầng lớp trí thức, kẻ sĩ thời xưa, có học vấn và đạo đức.","士君子 (sĩ quân tử): Người có học vấn, đạo đức và phẩm hạnh cao thượng, hoàn thiện hơn bậc 'sĩ'."],"tags":["Khổng Tử","Nho giáo","Trí tuệ","Nhân nghĩa","Tu thân"]},{"id":82,"title_vi":"HẾT LÒNG VÌ NƯỚC","title_zh_simp":"申包胥哭秦庭","title_zh_trad":"申包胥哭秦庭","title_pinyin":"Shēn Bāoxū Kū Qín Tíng","title_han_viet":"THÂN BAO TƯ KHÓC TẦN ĐÌNH","title_en":"Shen Baoxu Weeps at the Qin Court","source_book":"《說苑》","source_author":"Lưu Hướng (劉向)","source_period":"Tây Hán (thế kỷ 1 TCN)","content_zh_simp":"楚平王听信谗言，杀其大夫伍奢，伍尚为奢长子，亦被杀。其少子伍员奔吴，为吴相。临行，谓其友申包胥曰：“三年后楚不亡，吾不见子矣。”申包胥曰：“子亡楚，吾必存楚。”后三年，伍员率吴师伐楚，昭王出奔，入于山中。申包胥亡于山中，闻伍员强暴，乃之秦，求救兵，告于秦哀公曰：“吴为无道，行封豕长蛇，荐食上国，今又欲虐楚。寡君出走，居于云梦，使下臣告急。”哀公曰：“诺，吾固将图之。”申包胥曰：“寡君越在草莽，未获所伏，下臣何敢即安？”立依于庭墙而哭，日夜不绝声，勺饮不入口七日。秦哀公为赋《无衣》之诗，乃出师救楚。吴师闻之，乃引兵而去。楚昭王返国，赏申包胥。申包胥曰：“吾为君也，非为身也。君既定矣，又何求？”遂逃赏，终身不见。","content_zh_trad":"楚平王聽信讒言，殺其大夫伍奢，伍尚為奢長子，亦被殺。其少子伍員奔吳，為吳相。臨行，謂其友申包胥曰：“三年後楚不亡，吾不見子矣。”申包胥曰：“子亡楚，吾必存楚。”後三年，伍員率吳師伐楚，昭王出奔，入於山中。申包胥亡於山中，聞伍員強暴，乃之秦，求救兵，告於秦哀公曰：“吳為無道，行封豕長蛇，薦食上國，今又欲虐楚。寡君出走，居於雲夢，使下臣告急。”哀公曰：“諾，吾固將圖之。”申包胥曰：“寡君越在草莽，未獲所伏，下臣何敢即安？”立依於庭牆而哭，日夜不絕聲，勺飲不入口七日。秦哀公為賦《無衣》之詩，乃出師救楚。吳師聞之，乃引兵而去。楚昭王返國，賞申包胥。申包胥曰：“吾為君也，非為身也。君既定矣，又何求？”遂逃賞，終身不見。","content_pinyin":"Chǔ Píngwáng tīngxìn chányán, shā qí dàfū Wǔ Shē, Wǔ Shàng wéi Shē zhǎngzǐ, yì bèi shā. Qí shǎo zǐ Wǔ Yuán bēn Wú, wéi Wú xiàng. Línxíng, wèi qí yǒu Shēn Bāoxū yuē: “Sān nián hòu Chǔ bù wáng, wú bù jiàn zǐ yǐ.” Shēn Bāoxū yuē: “Zǐ wáng Chǔ, wú bì cún Chǔ.” Hòu sān nián, Wǔ Yuán shuài Wú shī fá Chǔ, Zhāowáng chūbēn, rù yú shān zhōng. Shēn Bāoxū wáng yú shān zhōng, wén Wǔ Yuán qiángbào, nǎi zhī Qín, qiú jiùbīng, gào yú Qín Āigōng yuē: “Wú wéi wúdào, xíng fēng shǐ cháng shé, jiàn shí shàngguó, jīn yòu yù nüè Chǔ. Guǎjūn chūzǒu, jū yú Yúnmèng, shǐ xiàchén gàojí.” Āigōng yuē: “Nuò, wú gù jiāng tú zhī.” Shēn Bāoxū yuē: “Guǎjūn yuè zài cǎomǎng, wèi huò suǒ fú, xiàchén hé gǎn jí ān?” Lì yī yú tíng qiáng ér kū, rìyè bù jué shēng, sháo yǐn bù rù kǒu qī rì. Qín Āigōng wèi fù 《Wúyī》 zhī shī, nǎi chū shī jiù Chǔ. Wú shī wén zhī, nǎi yǐn bīng ér qù. Chǔ Zhāowáng fǎn guó, shǎng Shēn Bāoxū. Shēn Bāoxū yuē: “Wú wèi jūn yě, fēi wèi shēn yě. Jūn jì dìng yǐ, yòu hé qiú?” Suì táo shǎng, zhōngshēn bù jiàn.","content_han_viet":"Sở Bình Vương thính tín sàm ngôn, sát kỳ đại phu Ngũ Xa, Ngũ Thượng vi Xa trưởng tử, diệc bị sát. Kỳ thiếu tử Ngũ Viên bôn Ngô, vi Ngô tướng. Lâm hành, vị kỳ hữu Thân Bao Tư viết: “Tam niên hậu Sở bất vong, ngô bất kiến tử hĩ.” Thân Bao Tư viết: “Tử vong Sở, ngô tất tồn Sở.” Hậu tam niên, Ngũ Viên suất Ngô sư phạt Sở, Chiêu Vương xuất bôn, nhập vu sơn trung. Thân Bao Tư vong vu sơn trung, văn Ngũ Viên cường bạo, nãi chi Tần, cầu cứu binh, cáo vu Tần Ai Công viết: “Ngô vi vô đạo, hành phong trĩ trường xà, tiến thực thượng quốc, kim hựu dục ngược Sở. Quả quân xuất tẩu, cư vu Vân Mộng, sử hạ thần cáo cấp.” Ai Công viết: “Nặc, ngô cố tương đồ chi.” Thân Bao Tư viết: “Quả quân việt tại thảo mãng, vị hoạch sở phục, hạ thần hà cảm tức an?” Lập y vu đình tường nhi khốc, nhật dạ bất tuyệt thanh, chước ẩm bất nhập khẩu thất nhật. Tần Ai Công vị phú 《Vô Y》 chi thi, nãi xuất sư cứu Sở. Ngô sư văn chi, nãi dẫn binh nhi khứ. Sở Chiêu Vương phản quốc, thưởng Thân Bao Tư. Thân Bao Tư viết: “Ngô vi quân dã, phi vi thân dã. Quân ký định hĩ, hựu hà cầu?” Toại đào thưởng, chung thân bất kiến.","content_vi":"Vua Bình Vương nước Sở nghe lời gièm pha, giết chết đại tướng là Ngũ Xa, Ngũ Thượng là con cả Ngũ Xa cũng bị hại. Người con thứ ba là Ngũ Viên bèn bỏ nước Sở, sang làm tướng nước Ngô. Trước khi đi, có đến từ giã một người bạn đang làm quan đại phu tên là Thân Bao Tư mà bảo rằng:\n\n“Ba năm nữa nước Sở không mất, thời tôi không trông thấy bác nữa.”\n\nThân Bao Tư nói: “Bác làm mất nước Sở, thì tôi tất phải giữ cho nước Sở còn.”\n\nBa năm sau, Ngũ Viên đem quân Ngô về đánh Sở, vua Chiêu Vương nối ngôi cho Bình Vương thua chạy, phải trốn vào trong núi.\n\nThân Bao Tư đang ở trong núi, nghe nói Ngũ Viên cường bạo bèn sang cầu cứu nước Tần, tâu cùng vua rằng:\n\n“Nước Ngôn vô đạo, quân khỏe người nhiều, sắp đánh cả thiên hạ, bây giờ mới đánh một nước Sở thôi trước. Vua nước tôi phải chạy trốn, hiện đang ở Vân Mộng, sai tôi đến cấp báo với thượng quốc.”\n\nVua nước Tần là Ai Công bảo: Ừ! Để rồi ta liệu. Nhà ngươi hãy ra nghỉ ngoài sứ quán.\n\nThân Bao Tư nói: “Vua nước tôi bây giờ đang khốn đốn, phận làm bầy tôi đâu giám ăn nằm yên một chỗ”.\n\nNói đoạn cứ đứng giữa sân khóc lóc thảm thiết suốt bảy ngày đêm.\n\nAi Công thấy vậy, nói rằng: “Một nước có người bầy tôi như thế, ta không cứu cũng không đành”. Rồi đem quân sang cứu nước Sở.\n\nQuân Ngô nghe thấy tin, vội phải rút quân về.\n\nNước Sở nhờ thế mà không mất, vua Chiêu Vương lại lên ngôi, tìm Thân Bao Tư để thưởng công thì không thấy đâu cả. Thân Bao Tư đã lánh lâu rồi.\n\nTrước khi đi lánh, Thân Bao Tư có nói rằng:\n\n“Mượn quân, yêu nước không phải là vị thân, cứu cấp, trừ hại không phải là vị danh. Bây giờ nước đã định rồi, thì ta còn cầu gì nữa?”","loi_ban_vi":"Ngũ Viên vì cha bị giết oan mà quyết chỉ muốn haị vua, làm cho vua mất nước là trọng chữ Hiếu hơn chữ Trung, có phần đáng khen cũng có phần nên chê. Thân Bao Tư muốn cứu nước chỉ lấy nước mắt, tiếng khóc mà nên công, thực là người quá nhẫn nhục trong lúc kế cùng lực kiệt, để chuyển được người không có ý giúp cũng phải giúp, thế là có bụng rất trung, yêu vua, cứu nước vậy. Việc nghĩa làm là làm cho cả nước, làm được là hả, là sướng, chớ có cầu cạnh gì riêng cho thân mình?","giai_nghia":["Sở: xem truyện số 9","Đại tướng: một chức quan to nhất","Ngũ Xa: người nước Sở thời Xuân Thu, thờ vua Bình Vương vì can vua mà phải giết","Ngũ Thượng: con cả Ngũ Xa, cha bị nạn, đi theo cha rồi cũng bị hại","Ngũ Viên: tức là Ngũ Tử Tư, có thứ Ngũ Xa, trốn sang Ngô để mưu phục thù cho cha","Thân Bao Tư: người thời Xuân Thu làm quan đại phu thờ vua Bình Vương nước Sở và chơi thân với Ngũ Viên.","Thuyết Uyển (說苑): Bộ sách do Lưu Hướng đời Tây Hán biên soạn, gồm các câu chuyện lịch sử và ngụ ngôn để khuyên răn đạo đức.","Ngũ Xa (伍奢): Đại phu nước Sở, cha của Ngũ Thượng và Ngũ Viên (Ngũ Tử Tư).","Ngũ Viên (伍員): Tức Ngũ Tử Tư (伍子胥), sau khi cha và anh bị vua Sở Bình Vương giết, đã bỏ trốn sang nước Ngô và trở thành tướng quốc, giúp Ngô đánh bại Sở.","Thân Bao Tư (申包胥): Bạn của Ngũ Viên, là đại phu nước Sở, nổi tiếng với lòng trung thành và câu chuyện khóc ở triều đình nước Tần.","Vân Mộng (雲夢): Tên một vùng đầm lầy lớn ở vùng đất Sở, nay thuộc tỉnh Hồ Bắc.","《無衣》(Vô Y): Một bài thơ trong Kinh Thi (詩經), thể hiện tinh thần đồng cam cộng khổ, chung vai đánh giặc. Việc Tần Ai Công đọc bài thơ này ngụ ý đồng ý xuất binh."],"tags":["Trung quân","Yêu nước","Lịch sử Trung Quốc","Xuân Thu","Thân Bao Tư"]},{"id":83,"title_vi":"BỌ NGỰA CHỐNG XE","title_zh_simp":"螳臂当车","title_zh_trad":"螳臂當車","title_pinyin":"Táng bì dāng chē","title_han_viet":"ĐƯƠNG BÍ ĐANG XA","title_en":"The Mantis Defying the Chariot","source_book":"《韩诗外传》","source_author":"韩婴","source_period":"西汉","content_zh_simp":"齐庄公出猎，有螳螂举足将搏其轮。问其御曰：“此何虫也？”对曰：“此所谓螳螂者也。其为虫也，知进而不知却，不量力而轻敌。”庄公曰：“此为人，而必为天下勇武矣！”回车而避之。勇武闻之，知所尽死矣。","content_zh_trad":"齊莊公出獵，有螳螂舉足將搏其輪。問其御曰：「此何蟲也？」對曰：「此所謂螳螂者也。其為蟲也，知進而不知卻，不量力而輕敵。」莊公曰：「此為人，而必為天下勇武矣！」迴車而避之。勇武聞之，知所盡死矣。","content_pinyin":"Qí Zhuānggōng chū liè, yǒu tángláng jǔ zú jiāng bó qí lún. Wèn qí yù yuē: \"Cǐ hé chóng yě?\" Duì yuē: \"Cǐ suǒwèi tángláng zhě yě. Qí wéi chóng yě, zhī jìn ér bùzhī què, bù liàng lì ér qīng dí.\" Zhuānggōng yuē: \"Cǐ wéi rén, ér bì wèi tiānxià yǒngwǔ yǐ!\" Huí chē ér bì zhī. Yǒngwǔ wén zhī, zhī suǒ jìn sǐ yǐ.","content_han_viet":"Tề Trang công xuất liệp, hữu đường lang cử túc tương bác kỳ luân. Vấn kỳ ngự viết: “Thử hà trùng dã?” Đối viết: “Thử sở vị đường lang giả dã. Kỳ vi trùng dã, tri tiến nhi bất tri khước, bất lượng lực nhi khinh địch.” Trang công viết: “Thử vi nhân, nhi tất vi thiên hạ dũng vũ hĩ!” Hồi xa nhi tị chi. Dũng vũ văn chi, tri sở tận tử hĩ.","content_vi":"Một hôm Trang Công nước Tề xa giá đi săn. Xe ra khỏi thành, đi trên đường cái, có con bọ ngựa cứ đứng giữ đường, giương càng chực chống lại cái xe. Tả hữu thấy thế, kêu lên rằng: “Chết! Chết!”. Trang Công nghe tiếng tưởng sự gì nguy hiểm, vội vàng bắt dừng xe lại hỏi. Tả hữu thưa:\n\n“Có con bọ ngựa thấy xem sắp đến, không tránh lại giơ càng lên muốn chống lại. Giống bọ ngựa quái lạ, chỉ biết tiến lên chứ không lùi, không chịu lượng sức mình khỏe hay yếu, hễ gặp cừu địch thì xem thường xem khinh, cứ lập tức xông vào đánh. Xin cứ để cho xe đi, xem bọ ngựa sống hay chết thế nào”.\n\nTrang Công nói: “Hãy khoan. Giống bọ ngựa thế mà đáng kính. Giả sử bây giờ có một người bị kẻ tàn bạo hà hiếp không ngại gian nan, không sợ nguy hiểm, nhất quyết chỉ tiến lên chọi với cường địch, chết cũng không thoát tị thì chẳng nên đáng tôn kính lắm ư!”\n\nNói đoạn, Trang Công bảo tránh xe đi sang một bên.\n\nTừ hôm đó, bọn tướng sĩ Trang Công nghe thấy câu chuyện, khi phải đi đánh giặc đâu là liều chết tiến lên, chớ không chịu không bằng con bọ ngựa.","loi_ban_vi":"Có kẻ cừu địch trước mặt, không biết lượng sức người ta yếu hay khỏe thế nào, cứ liều xông vào chọi, có khi như trứng chọi đá, nồi đất chọi với nồi đồng, thì cũng là khờ dại đáng tiếc. Tuy vậy có kẻ hà hiếp mình thậm tệ. mà mình còn đủ chí khí chống lại, thế là mình hiểu được cái lẽ tự vệ, chết cũng không chịu nhục. Nhất là mình lại quả quyết, phấn chấn tiến lên, không chịu nhẫn nhục lùi lại, thế là có ý chí đáng khen. Ôi! Giống bọ ngựa là giống sâu bọ còn biết thế, huống chi là giống người ta là bậc tinh anh lại chịu kém bọ ngựa hay sao! Trang Công thật là khéo biết dạy, mà tướng sĩ Trang Công thực là biết nghe vậy.","giai_nghia":["螳臂当车 (Táng bì dāng chē): Idiom meaning 'a mantis using its arms to stop a chariot', signifying overestimating one's own strength and attempting something beyond one's ability.","齐庄公 (Qí Zhuānggōng): Duke Zhuang of Qi, a ruler of the State of Qi during the Spring and Autumn period.","御 (yù): Charioteer, the person who drives the chariot.","勇武 (yǒngwǔ): Brave warriors; here, it refers to the soldiers of Duke Zhuang."],"tags":["Triết lý sống","Lòng dũng cảm","Ẩn dụ","Bài học đạo đức"]},{"id":84,"title_vi":"ỨNG ĐỐI LINH LỢI","title_zh_simp":"应对话利","title_zh_trad":"應對伶俐","title_pinyin":"Yìngduì línglì","title_han_viet":"ỨNG ĐỐI LINH LỢI","title_en":"Clever Responses","source_book":"《晋书》","source_author":"房玄龄等","source_period":"唐代","content_zh_simp":"晋明帝数岁，坐元帝膝上。有人从长安来，元帝问洛下消息，潸然流涕。明帝问何以致泣，具以东渡意告之。因问明帝：“汝意谓长安何如日远？”答曰：“日远。不闻人从日边来，居然可知。”元帝异之。明日，集群臣宴会，告以此意，更重问之。乃答曰：“日近。”元帝失色，曰：“何故异昨日之言邪？”答曰：“举目见日，不见长安。”","content_zh_trad":"晉明帝數歲，坐元帝膝上。有人從長安來，元帝問洛下消息，潸然流涕。明帝問何以致泣，具以東渡意告之。因問明帝：「汝意謂長安何如日遠？」答曰：「日遠。不聞人從日邊來，居然可知。」元帝異之。明日，集群臣宴會，告以此意，更重問之。乃答曰：「日近。」元帝失色，曰：「何故異昨日之言邪？」答曰：「舉目見日，不見長安。」","content_pinyin":"Jìn Míngdì shù suì, zuò Yuándì xī shàng. Yǒu rén cóng Cháng'ān lái, Yuándì wèn Luòxià xiāoxī, shānrán liútì. Míngdì wèn hé yǐ zhì qì, jù yǐ dōngdù yì gào zhī. Yīn wèn Míngdì: \"Rǔ yì wèi Cháng'ān hé rú rì yuǎn?\" Dá yuē: \"Rì yuǎn. Bù wén rén cóng rì biān lái, jūrán kě zhī.\" Yuándì yì zhī. Míngrì, jí qúnchén yànhuì, gào yǐ cǐ yì, gèng chóng wèn zhī. Nǎi dá yuē: \"Rì jìn.\" Yuándì shīsè, yuē: \"Hégù yì zuórì zhī yán xié?\" Dá yuē: \"Jǔ mù jiàn rì, bù jiàn Cháng'ān.\"","content_han_viet":"Tấn Minh Đế sổ tuế, tọa Nguyên Đế tất thượng. Hữu nhân tòng Trường An lai, Nguyên Đế vấn Lạc Hạ tiêu tức, san san lưu thế. Minh Đế vấn hà dĩ trí khấp, cụ dĩ đông độ ý cáo chi. Nhân vấn Minh Đế: “Nhữ ý vị Trường An hà như nhật viễn?” Đáp viết: “Nhật viễn. Bất văn nhân tòng nhật biên lai, cư nhiên khả tri.” Nguyên Đế dị chi. Minh nhật, tập quần thần yến hội, cáo dĩ thử ý, cánh trọng vấn chi. Nãi đáp viết: “Nhật cận.” Nguyên Đế thất sắc, viết: “Hà cố dị tạc nhật chi ngôn tà?” Đáp viết: “Cử mục kiến nhật, bất kiến Trường An.”","content_vi":"Thiệu là con vua Nguyên Đế nhà Tần, lúc nhỏ đã cực kỳ thông tuệ.\n\nMột hôm có sứ thần ở Trường An lại, vua Nguyên Đế hỏi thử rằng:\n\n“Trường An gần hay mặt trời gần hơn?”\n\nThiệu đáp: Trường An gần hơn.\n\n- Tại làm sao?\n\n- Tôi chỉ thấy nói có người ở Trường An lại, chứ chưa từng thấy nói có người ở mặt trời lại đây bao giờ.\n\nVua nghe câu nói lấy làm lạ.\n\nCách mấy hôm, vua đem câu chuyện kể lại cho quần thần nghe. Nhân Thiệu đứng hầu bên lại hỏi đùa rằng:\n\n- Trường An gần hay mặt trời gần hơn?\n\nThiệu đáp: Mặt trời gần hơn.\n\nVua ngạc nhiên hỏi: Sao hôm nay lại trả lời khác hôm nọ như thế?\n\n- Tôi ngửng đầu lên, tôi trông thấy ngay mặt trời, chớ không trông thấy Trường An đâu cả.\n\nVua nghe lại càng lấy làm lạ.\n\nTấn Sử","loi_ban_vi":"Xem xét sự vật, tùy thời tùy thế mà đáp, không câu nệ một lẽ, ấy là thông minh biến hóa. Nhưng xét cho cùng, lấy mắt thấy tai nghe làm bằng chứng, chính là cái lẽ thực dụng của người xưa, đáng để ta suy ngẫm.","giai_nghia":["Tấn: tên một nước triều đại bên Tàu (265- 419)","Thiệu: sau nối ngôi Nguyên Đế, gọi là vua Minh Đế","Trường An: tên một thành cũ bên Tàu, tức là bắc huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây bây giờ","晋明帝 (Jìn Míngdì): Emperor Ming of Jin, a young prince known for his extraordinary intelligence.","晋元帝 (Jìn Yuándì): Emperor Yuan of Jin, his father.","长安 (Cháng'ān): The ancient capital, often used to represent the distant imperial court or homeland.","东渡 (dōngdù): The event of crossing the Yangtze River eastward, referring to the Jin court's relocation southward."],"tags":["Trí tuệ","Ứng đối","Giai thoại","Tư duy linh hoạt"]},{"id":85,"title_vi":"THỬA GIÀY","title_zh_simp":"郑人买履","title_zh_trad":"鄭人買履","title_pinyin":"Zhèng rén mǎi lǚ","title_han_viet":"TRỊNH NHÂN MÃI LÝ","title_en":"The Man of Zheng Who Bought Shoes","source_book":"《韩非子·外储说左上》","source_author":"韩非 (Hàn Phi)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"郑人有欲买履者，先自度其足，而置之其坐。至之市，而忘操之。已得履，乃曰：“吾忘持度。”反归取之。及反，市罢，遂不得履。人曰：“何不试之以足？”曰：“宁信度，无自信也。”","content_zh_trad":"鄭人有欲買履者，先自度其足，而置之其坐。至之市，而忘操之。已得履，乃曰：「吾忘持度。」反歸取之。及反，市罷，遂不得履。人曰：「何不試之以足？」曰：「寧信度，無自信也。」","content_pinyin":"Zhèng rén yǒu yù mǎi lǚ zhě, xiān zì duó qí zú, ér zhì zhī qí zuò. Zhì zhī shì, ér wàng cāo zhī. Yǐ dé lǚ, nǎi yuē: “Wú wàng chí dù.” Fǎn guī qǔ zhī. Jí fǎn, shì bà, suì bù dé lǚ. Rén yuē: “Hé bù shì zhī yǐ zú?” Yuē: “Nìng xìn dù, wú zì xìn yě.”","content_han_viet":"Trịnh nhân hữu dục mãi lý giả, tiên tự độ kỳ túc, nhi trí chi kỳ tọa. Chí chi thị, nhi vong thao chi. Dĩ đắc lý, nãi viết: “Ngô vong trì độ.” Phản quy thủ chi. Cập phản, thị bãi, toại bất đắc lý. Nhân viết: “Hà bất thí chi dĩ túc?” Viết: “Ninh tín độ, vô tự tín dã.”","content_vi":"Nước Trịnh có kẻ định thửa giày, đo chân làm no rồi để cái no bên chỗ ngồi. Lúc đi chợ quên không cầm no đi. Đến hàng giày mới sực nhớ ra nói rằng: “Thôi quên! Không cầm no đi rồi!”. Rồi, mãi vội chạy về nhà lấy no.\n\nKhi trở lại thì chợ đã tan, không thửa được giày nữa. Có người thấy thế bảo rằng:\n\n“Sao không đưa chân ra người ta đo có được không?”\n\nAnh ta cãi: “Tôi chỉ tin cái no thôi, chớ tôi không tin chân tôi được.”\n\nÔi! Thửa giày cốt chỉ đi vừa chân là được mà không tin chân, chỉ tin cái no đo chân, chẳng là câu nệ quá lắm ư! Ở đời kẻ làm công việc cứ bo bo giữ lề lối cổ hủ, không biết thế nào là hợp thời thích nghi thì có khác gì người đi thử giày chỉ tin no đo chân, mà không tin chính chân mình hay chăng?","loi_ban_vi":"Việc đời, lẽ biến, phải tùy thời mà ứng biến. Kẻ câu nệ sách vở, bo bo giữ khuôn xưa, không chịu xét thực tế, thì dẫu có thước tấc rõ ràng cũng hóa ra vô dụng, chẳng khác gì người Trịnh mua giày kia, chỉ tin cái “độ” đã đo, mà không tin chính cái chân của mình vậy.","giai_nghia":["Trịnh: xem truyện số 34","No: các mẫu đo cá, chiều dài, ngắn của đồ vật gì","度 (duó/độ): Ở đây nghĩa là đo, nhưng cũng có thể hiểu là cái thước đo, vật dùng để đo.","履 (lǚ/lý): Giày, dép.","坐 (zuò/tọa): Chỗ ngồi, đồ vật dùng để ngồi."],"tags":["Ngụ ngôn","Hàn Phi Tử","Bảo thủ","Thích ứng","Triết lý sống"]},{"id":86,"title_vi":"CỨU NGƯỜI LÚC NGUY CẤP","title_zh_simp":"涸辙之鲋","title_zh_trad":"涸轍之鮒","title_pinyin":"Hé zhé zhī fù","title_han_viet":"HẠC TRIẾT CHI PHỤ","title_en":"The Fish in the Dried-Up Rut","source_book":"《庄子·外物》","source_author":"庄周 (Trang Chu)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"庄周家贫，故往贷粟于监河侯。监河侯曰：“诺。我将得邑金，将贷子三百金，可乎？”庄周忿然作色曰：“周昨来，有中道而呼者。周顾视车辙中，有鲋鱼焉。周问之曰：‘鲋鱼来！子何为者邪？’对曰：‘我，东海之波臣也。君岂有斗升之水而活我哉？’周曰：‘诺。我且南游吴越之王，激西江之水而迎子，可乎？’鲋鱼忿然作色曰：‘吾失我常与，我无所处。吾得斗升之水然活耳，君乃言此，曾不如早索我于枯鱼之肆！’”","content_zh_trad":"莊周家貧，故往貸粟於監河侯。監河侯曰：「諾。我將得邑金，將貸子三百金，可乎？」莊周忿然作色曰：「周昨來，有中道而呼者。周顧視車轍中，有鮒魚焉。周問之曰：『鮒魚來！子何為者邪？』對曰：『我，東海之波臣也。君豈有斗升之水而活我哉？』周曰：『諾。我且南遊吳越之王，激西江之水而迎子，可乎？』鮒魚忿然作色曰：『吾失我常與，我無所處。吾得斗升之水然活耳，君乃言此，曾不如早索我於枯魚之肆！』」","content_pinyin":"Zhuāng Zhōu jiā pín, gù wǎng dài sù yú jiān hé hóu. Jiān hé hóu yuē: “Nuò. Wǒ jiāng dé yì jīn, jiāng dài zǐ sān bǎi jīn, kě hū?” Zhuāng Zhōu fèn rán zuò sè yuē: “Zhōu zuó lái, yǒu zhōng dào ér hū zhě. Zhōu gù shì chē zhé zhōng, yǒu fù yú yān. Zhōu wèn zhī yuē: ‘Fù yú lái! Zǐ hé wéi zhě xié?’ Duì yuē: ‘Wǒ, Dōng Hǎi zhī bō chén yě. Jūn qǐ yǒu dǒu shēng zhī shuǐ ér huó wǒ zāi?’ Zhōu yuē: ‘Nuò. Wǒ qiě nán yóu Wú Yuè zhī wáng, jī Xī Jiāng zhī shuǐ ér yíng zǐ, kě hū?’ Fù yú fèn rán zuò sè yuē: ‘Wú shī wú cháng yǔ, wú wú suǒ chù. Wú dé dǒu shēng zhī shuǐ rán huó ěr, jūn nǎi yán cǐ, céng bù rú zǎo suǒ wǒ yú kū yú zhī sì!’”","content_han_viet":"Trang Chu gia bần, cố vãng đãi túc vu Giám Hà hầu. Giám Hà hầu viết: “Nặc. Ngã tương đắc ấp kim, tương đãi tử tam bách kim, khả hồ?” Trang Chu phẫn nhiên tác sắc viết: “Chu tạc lai, hữu trung đạo nhi hô giả. Chu cố thị xa triết trung, hữu phụ ngư yên. Chu vấn chi viết: ‘Phụ ngư lai! Tử hà vi giả da?’ Đối viết: ‘Ngã, Đông Hải chi ba thần dã. Quân khởi hữu đẩu thăng chi thủy nhi hoạt ngã tai?’ Chu viết: ‘Nặc. Ngã thả nam du Ngô Việt chi vương, khích Tây Giang chi thủy nhi nghênh tử, khả hồ?’ Phụ ngư phẫn nhiên tác sắc viết: ‘Ngô thất ngô thường dữ, ngô vô sở xứ. Ngô đắc đẩu thăng chi thủy nhiên hoạt nhĩ, quân nãi ngôn thử, tằng bất như tảo sách ngã vu khô ngư chi tứ!’”","content_vi":"Trang Chu nghèo túng sang hỏi vay thóc Ngụy Văn Hầu. Ngụy Văn Hầu nói:\n\n“Tôi có cái ấp, người ta sắp nộp tiền thóc, tôi sẽ cho ông vay ba trăm lạng, ông có bằng lòng không?”\n\nTrang Chu giận nói: “Khi Chu đến đây, đi giữa đường nghe có tiếng gọi, ngoảnh lại thấy một con cá đang ngắc ngải trong cái vết bánh xe. Chu này hỏi: Cá ở đây làm gì thế? - Cá đáp: Tôi là thủy thần ở bên bể Đông mắc nạn tại đây, ông có thể cho tôi bát nước để cứu tôi lúc nguy cấp này không? - Chu này bảo: Để tôi qua chơi nước Ngô, nước Việt rồi lấy nước sông Tây Giang về đón ngươi, ngươi có bằng lòng không? Cá giận nói: Tôi đang cần đến nước, ông chỉ cho tôi được một ít là tôi sống. Nay ông nói như thế; đợi đến lúc ông về, thì có khi ông đến chỗ hàng cá khô đã thấy tôi đấy rồi.”","loi_ban_vi":"Cứu người phải cứu lúc khốn cùng, giúp người phải giúp việc cấp thiết. Lời hứa suông xa vời, không bằng hành động thiết thực ngay trước mắt. Kẻ thấy người ta nguy cấp mà hứa hão huyền, khác nào đem nước sông Tây Giang hứa với con cá đang hấp hối trong vũng xe, thật là vô bổ và tàn nhẫn.","giai_nghia":["Ngụy Văn Hầu: Văn Hầu nước Ngụy, cứ theo sách Trang Tử tuyết thi là Giám Hà Hầu","监河侯 (Jiān Hé Hóu/Giám Hà hầu): Một vị quan được giao coi sóc sông ngòi, ở đây dùng như tên một nhân vật.","波臣 (bō chén/ba thần): Thần dân của sóng nước, cách cá tự xưng.","枯鱼之肆 (kū yú zhī sì/khô ngư chi tứ): Cửa hàng cá khô, ý nói nếu chậm trễ thì cá đã chết."],"tags":["Trang Tử","Ngụ ngôn","Cứu giúp","Thực tế","Châm biếm"]},{"id":87,"title_vi":"NGHÈO MÀ KHÔNG OÁN","title_zh_simp":"贫而无怨","title_zh_trad":"貧而無怨","title_pinyin":"Pín ér wú yuàn","title_han_viet":"BẦN NHI VÔ OÁN","title_en":"Poor Without Resentment","source_book":"《庄子·大宗师》","source_author":"Trang Tử (庄子)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"子舆与子桑友，而霖雨十日。子舆曰：“子桑殆病矣！”裹饭而往食之。至子桑之门，则若歌若哭，鼓琴曰：“父邪？母邪？天乎？人乎？”有不任其声而趋举其诗焉。子舆入，曰：“子之歌诗，何故若是？”曰：“吾思夫使我至此极者而弗得也。父母岂欲吾贫哉？天无私覆，地无私载，天地岂私贫我哉？求其为之者而不得也。然而至此极者，命也夫！”","content_zh_trad":"子輿與子桑友，而霖雨十日。子輿曰：“子桑殆病矣！”裹飯而往食之。至子桑之門，則若歌若哭，鼓琴曰：“父邪？母邪？天乎？人乎？”有不任其聲而趨舉其詩焉。子輿入，曰：“子之歌詩，何故若是？”曰：“吾思夫使我至此極者而弗得也。父母豈欲吾貧哉？天無私覆，地無私載，天地豈私貧我哉？求其為之者而不得也。然而至此極者，命也夫！”","content_pinyin":"Zǐyú yǔ Zǐsāng yǒu, ér lín yǔ shí rì. Zǐyú yuē: “Zǐsāng dài bìng yǐ!” Guǒ fàn ér wǎng shí zhī. Zhì Zǐsāng zhī mén, zé ruò gē ruò kū, gǔ qín yuē: “Fù yé? Mǔ yé? Tiān hū? Rén hū?” Yǒu bù rèn qí shēng ér qū jǔ qí shī yān. Zǐyú rù, yuē: “Zǐ zhī gē shī, hé gù ruò shì?” Yuē: “Wú sī fū shǐ wǒ zhì cǐ jí zhě ér fú dé yě. Fùmǔ qǐ yù wú pín zāi? Tiān wú sī fù, dì wú sī zài, tiāndì qǐ sī pín wǒ zāi? Qiú qí wéi zhī zhě ér bùdé yě. Rán'ér zhì cǐ jí zhě, mìng yě fú!”","content_han_viet":"Tử Dư dữ Tử Tang hữu, nhi lâm vũ thập nhật. Tử Dư viết: “Tử Tang đãi bệnh hĩ!” Quả phạn nhi vãng thực chi. Chí Tử Tang chi môn, tắc nhược ca nhược khốc, cổ cầm viết: “Phụ da? Mẫu da? Thiên hồ? Nhân hồ?” Hữu bất nhậm kỳ thanh nhi xu cử kỳ thi yên. Tử Dư nhập, viết: “Tử chi ca thi, hà cố nhược thị?” Viết: “Ngô tư phù sử ngã chí thử cực giả nhi phất đắc dã. Phụ mẫu khởi dục ngô bần tai? Thiên vô tư phúc, địa vô tư tái, thiên địa khởi tư bần ngã tai? Cầu kỳ vi chi giả nhi bất đắc dã. Nhiên nhi chí thử cực giả, mệnh dã phù!”","content_vi":"Tử Dư làm bạn với Tử Tang. Tử Tang rất nghèo. Gặp khi trời mưa luôn mười hôm, Tử Dư nhớ đến bạn nghĩ bụng rằng: “Tử Tang đến khốn mất!”.\n\nMới bọc gạo đem lại cho.\n\nLúc đến trước cửa, thấy Tử Tang đang đánh đàn, nửa như khóc, nửa như hát, tiếng không ra hơi, giọng thì liu nhíu, lắng tai nghe như có câu rằng:\n\n“Cha ư! Mẹ ư! Người ư!”\n\nTử Dư bước vào hỏi: “Bác đàn hát như thế là làm sao vậy?”\n\nTử Tang nói: “Tôi nghĩ mãi mà không biết tự đâu đến nông nỗi cùng cực như thế này? Nào có phải cha mẹ tôi muốn cho tôi nghèo khổ đâu! Nào có phải trời đất để cho tôi nghèo riêng một mình đâu? Trời không riêng che đất không riêng chở một ai…Thực tôi muốn tìm cho biết tự đâu tôi phải chịu cùng cực như thế này, mà không ra. Vậy thì chẳng phải là cái mệnh nó xui khiến ra như thế ư!”","loi_ban_vi":"Tử Tang nghèo mà cho là số mệnh thì ý giống câu ngạn ngữ của ta: “Số giàu của đến dửng dưng, số nghèo con mắt cháo chưng vẫn nghèo”. Phàm yên phận nghèo, hay không lo nghèo, hay quên cả cảnh nghèo, đó là nết cao quý của hiền triết, không để cho cảnh làm lụy được tâm, làm tổn được chí.\n\nNhưng chúng ta chớ quên rằng những bậc hiền triết thường cần lao, hoặc cầy ruộng hay câu cá, hoặc kiếm củi hay chăn nuôi cho có đủ sống, rồi các ngài mới sống cho ra sống. Cần lao để mưu sinh, đó là sự thường, chúng ta phải có trước đã, để cho thoát khỏi nhục ký sinh, cái hại cơ hàn thiết thân bất cố liêm sỉ. Khi chúng ta tự lập được, đã biết trọng liêm sỉ, thì chúng ta mới có thể trở nên người không lo nghèo được.","giai_nghia":["Tử Dư, Tử Tang: hai người đời Xuân Thu tính khoáng đạt, chơi thân với nhau.","霖雨 (lâm vũ): Mưa dầm, mưa liên tục nhiều ngày.","裹饭 (quả phạn): Gói cơm, bọc thức ăn mang đi.","殆病 (đãi bệnh): Có lẽ đã khốn khổ, gặp nguy khốn.","不任其声 (bất nhậm kỳ thanh): Tiếng không ra hơi, yếu ớt không chịu nổi.","命也夫 (mệnh dã phù): Là mệnh vậy thay! Lời than thở về số phận."],"tags":["Trang Tử","An phận","Nghèo khó","Số mệnh"]},{"id":88,"title_vi":"THÂN TRỌNG HƠN LÀM VUA","title_zh_simp":"贵身于王","title_zh_trad":"貴身於王","title_pinyin":"Guì shēn yú wáng","title_han_viet":"QUÝ THÂN Ư VƯƠNG","title_en":"Valuing One's Life More Than Kingship","source_book":"《庄子·让王》","source_author":"Trang Tử (庄子)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"越人三世弑其君，王子搜患之，逃乎丹穴。而越国无君，求王子搜不得，从之丹穴。王子搜不肯出，越人薰之以艾，乘以王舆。王子搜援绥登车，仰天而呼曰：“君乎！君乎！独不可以舍我乎！”王子搜非恶为君也，恶为君之患也。若王子搜者，可谓不以国伤生矣，此固越人之所欲得为君也。","content_zh_trad":"越人三世弒其君，王子搜患之，逃乎丹穴。而越國無君，求王子搜不得，從之丹穴。王子搜不肯出，越人薰之以艾，乘以王輿。王子搜援綏登車，仰天而呼曰：“君乎！君乎！獨不可以舍我乎！”王子搜非惡為君也，惡為君之患也。若王子搜者，可謂不以國傷生矣，此固越人之所欲得為君也。","content_pinyin":"Yuè rén sān shì shì qí jūn, wángzǐ Sōu huàn zhī, táo hū dān xué. Ér Yuè guó wú jūn, qiú wángzǐ Sōu bù dé, cóng zhī dān xué. Wángzǐ Sōu bù kěn chū, Yuè rén xūn zhī yǐ ài, chéng yǐ wáng yú. Wángzǐ Sōu yuán suí dēng chē, yǎng tiān ér hū yuē: “Jūn hū! Jūn hū! Dú bù kěyǐ shě wǒ hū!” Wángzǐ Sōu fēi è wéi jūn yě, è wéi jūn zhī huàn yě. Ruò wángzǐ Sōu zhě, kěwèi bù yǐ guó shāng shēng yǐ, cǐ gù Yuè rén zhī suǒ yù dé wéi jūn yě.","content_han_viet":"Việt nhân tam thế thí kỳ quân, Vương tử Sưu hoạn chi, đào hồ Đan huyệt. Nhi Việt quốc vô quân, cầu Vương tử Sưu bất đắc, tòng chi Đan huyệt. Vương tử Sưu bất khẳng xuất, Việt nhân huân chi dĩ ngải, thặng dĩ vương dư. Vương tử Sưu viên tuy đăng xa, ngưỡng thiên nhi hô viết: “Quân hồ! Quân hồ! Độc bất khả dĩ xả ngã hồ!” Vương tử Sưu phi ác vi quân dã, ác vi quân chi hoạn dã. Nhược Vương tử Sưu giả, khả vị bất dĩ quốc thương sinh hĩ, thử cố Việt nhân chi sở dục đắc vi quân dã.","content_vi":"Người nước Việt giết ba đời vua. Con vua đời thứ ba tên là Sưu lo sợ, phải trốn vào ở trong hang.\n\nNước Việt thành ra không có vua. Người Việt đi tìm con vua mãi không thấy. Đến lúc tìm thấy ở trong hang thì con vua không chịu ra. Người Việt một mặt lấy lá ngải hun vào hang, một mặt đem xe đón. Con vua bất đắc dĩ phải ra. Lúc lên xe, ngửa mặt lên trời kêu to rằng:\n\n“Ôi làm vua! Ôi làm vua! Ta không muốn làm vua cũng không được hay sao!”\n\nCon vua lo như thế không phải là ghét làm vua, ghét là ghét cái họa làm vua. Không muốn làm vua, tức là không chịu lấy một nước mà phiền lụy đến thân mình. Thân mình không muốn phiền lụy, thì khi làm vua, tất không nỡ làm phiền lụy khổ hại ai. Mà chỉ bởi cái lẽ ấy, người Việt mới cố tôn lên làm vua cho được.","loi_ban_vi":"Làm vua thường tình ai chả muốn. Thế mà có người đến làm vua cũng không muốn! Không phải ghét gì làm vua, nhưng ghét rằng làm vua thường có khi không giữ được toàn tính mệnh. Bài này cốt ý cảnh tỉnh những kẻ ham danh, ham lợi để hại đến thân. Cứ theo ý tác giả thì chỉ những người nào không có chút gì phiền lụy đến tấm thân, mới là không “thương sinh” nghĩa là hại đến đời mình, mà giữ được “toàn sinh” nghĩa là giữ được đời mình cho trọn vẹn. Còn như đây không muốn làm vua mà cứ bị tôn lên làm vua, là vì rằng ông thông minh nhân hậu, lại có đức độ cùng biết người và thương dân thì dân chúng nào chả muốn tôn lên làm quân trưởng.","giai_nghia":["三世弑其君 (tam thế thí kỳ quân): Ba đời giết vua của mình, chỉ việc nước Việt nhiều lần loạn thần giết vua.","丹穴 (Đan huyệt): Tên một cái hang, nơi Vương tử Sưu trốn.","薰之以艾 (huân chi dĩ ngải): Lấy lá ngải cứu hun khói để ép người trong hang phải ra.","援绥 (viên tuy): Nắm lấy dây leo lên xe.","不以国伤生 (bất dĩ quốc thương sinh): Không vì nước mà làm hại đến sinh mệnh của mình."],"tags":["Trang Tử","Trọng thân","Danh lợi","Ẩn dật"]},{"id":89,"title_vi":"THÂN TRỌNG HƠN THIÊN HẠ","title_zh_simp":"身重于天下","title_zh_trad":"身重於天下","title_pinyin":"Shēn zhòng yú tiānxià","title_han_viet":"THÂN TRỌNG Ư THIÊN HẠ","title_en":"The Body Is More Important Than the World","source_book":"《庄子·让王》","source_author":"Trang Chu (庄子)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"韩魏相与争侵地。子华子见昭僖侯，昭僖侯有忧色。子华子曰：“今使天下书铭于君之前，书之言曰：‘左手攫之则右手废，右手攫之则左手废，然而攫之者必有天下。’君能攫之乎？”昭僖侯曰：“寡人不攫也。”子华子曰：“甚善！自是观之，两臂重于天下也，身又重于两臂。韩之轻于天下亦远矣，今之所争者，其轻于韩又远。君固愁身伤生以忧戚不得也！”昭僖侯曰：“善哉！教寡人者众矣，未尝得闻此言也。”子华子可谓知轻重矣。","content_zh_trad":"韓魏相與爭侵地。子華子見昭僖侯，昭僖侯有憂色。子華子曰：“今使天下書銘於君之前，書之言曰：‘左手攫之則右手廢，右手攫之則左手廢，然而攫之者必有天下。’君能攫之乎？”昭僖侯曰：“寡人不攫也。”子華子曰：“甚善！自是觀之，兩臂重於天下也，身又重於兩臂。韓之輕於天下亦遠矣，今之所爭者，其輕於韓又遠。君固愁身傷生以憂戚不得也！”昭僖侯曰：“善哉！教寡人者眾矣，未嘗得聞此言也。”子華子可謂知輕重矣。","content_pinyin":"Hán Wèi xiāng yǔ zhēng qīn dì. Zǐ Huá Zǐ jiàn Zhāo Xī Hóu, Zhāo Xī Hóu yǒu yōu sè. Zǐ Huá Zǐ yuē: \"Jīn shǐ tiānxià shū míng yú jūn zhī qián, shū zhī yán yuē: 'Zuǒ shǒu jué zhī zé yòu shǒu fèi, yòu shǒu jué zhī zé zuǒ shǒu fèi, rán'ér jué zhī zhě bì yǒu tiānxià.' Jūn néng jué zhī hū?\" Zhāo Xī Hóu yuē: \"Guǎrén bù jué yě.\" Zǐ Huá Zǐ yuē: \"Shén shàn! Zì shì guān zhī, liǎng bì zhòng yú tiānxià yě, shēn yòu zhòng yú liǎng bì. Hán zhī qīng yú tiānxià yì yuǎn yǐ, jīn zhī suǒ zhēng zhě, qí qīng yú Hán yòu yuǎn. Jūn gù chóu shēn shāng shēng yǐ yōuqī bù dé yě!\" Zhāo Xī Hóu yuē: \"Shàn zāi! Jiào guǎrén zhě zhòng yǐ, wèicháng dé wén cǐ yán yě.\" Zǐ Huá Zǐ kěwèi zhī qīngzhòng yǐ.","content_han_viet":"Hàn Ngụy tương dữ tranh xâm địa. Tử Hoa Tử kiến Chiêu Hi hầu, Chiêu Hi hầu hữu ưu sắc. Tử Hoa Tử viết: “Kim sử thiên hạ thư minh vu quân chi tiền, thư chi ngôn viết: ‘Tả thủ quặc chi tắc hữu thủ phế, hữu thủ quặc chi tắc tả thủ phế, nhiên nhi quặc chi giả tất hữu thiên hạ.’ Quân năng quặc chi hồ?” Chiêu Hi hầu viết: “Quả nhân bất quặc dã.” Tử Hoa Tử viết: “Thậm thiện! Tự thị quan chi, lưỡng tý trọng vu thiên hạ dã, thân hựu trọng vu lưỡng tý. Hàn chi khinh vu thiên hạ diệc viễn hĩ, kim chi sở tranh giả, kỳ khinh vu Hàn hựu viễn. Quân cố sầu thân thương sinh dĩ ưu thích bất đắc dã!” Chiêu Hi hầu viết: “Thiện tai! Giáo quả nhân giả chúng hĩ, vị thường đắc văn thử ngôn dã.” Tử Hoa Tử khả vị tri khinh trọng hĩ.","content_vi":"Nước Hàn, nước Ngụy muốn lấn đất của nhau, Tử Hoa Tử đến ra mắt vua Chiêu Nghi nước Ngụy, thấy vua có dáng lo buồn mới hỏi rằng:\n\n“Giá bây giờ cả bao nhiêu nước họp nhau, đính ước một câu và khắc câu ấy trước mặt vua rằng: “Tay trái lấy thiên hạ thì hỏng mất tay phải; tay phải lấy thiên hạ thì hỏng mất tay trái”. Hỏng mất một tay mới lấy được thiên hạ, thế thì nhà vua có bằng lòng lấy thiên hạ không?”\n\nVua Chiêu Hi nói: “Thế thì ta chẳng lấy thiên hạ làm gì”.\n\nTử Hoa Tử thưa: “Nhà vua nói phải lắm. Cứ xem như thế thì hai cánh tay trọng hơn cả thiên hạ, thì cái thân ta trọng hơn hai cánh tay ta lại đáng trọng hơn biết là bao! Nước Hàn so với cả thiên hạ bé nhỏ thấm vào đâu! Miếng đất tranh nhau so với cả nước Hàn bé nhỏ thấm vào đâu! Thế mà sao chỉ vì lo không tranh được miếng đất nhỏ ấy, mà nhà vua đến nỗi ủ dột, buồn rầu, mất ăn, mất ngủ, thương sinh quá như vậy?”\n\nVua Chiêu Hi nói: “Phải lắm. Người dạy bảo quả nhân cũng nhiều, nhưng chưa từng thấy ai dạy bảo quả nhân được những lời như thế.”\n\nTử Hoa Tử bàn như thế mới thực là người biết điều khinh, điều trọng ở đời vậy.","loi_ban_vi":"Mất một cánh tay mà được cả thiên hạ còn không muốn, huống chi hại cả cái thân mà được một miếng đất cỏn con lại còn muốn hay sao! Thế mới hay, tất cả mọi người, trên tự vua chúa dưới đến thường dân ai ai cũng biết trọng cái thân mình, quí thân mình hơn cả ngoại vật, nhưng tiếc thay những kẻ có quyền thế trong tay thường chỉ biết mến một cái thân mình, còn cái thân của người, của bao nhiêu người lại nỡ đem ra sát hại để thỏa chút lòng tham muốn, cầu lợi rất đáng khinh bỉ. Nếu ai cũng biết thương sinh là hại, sát sinh là bất nghĩa, thì còn đâu là những sự chiến tranh hại kể có đến muôn, triệu tính mệnh sinh linh!","giai_nghia":["Hàn: một nước lớn trong bảy nước thời Chiến Quốc ở vào trung bộ Hà Nam bây giờ.","Ngụy: cũng là một nước lớn về thời đại ấy, ở vào bắc bộ Hà Nam và phía nam Sơn Tây bây giờ.","Tử Hoa Tử: một nhà học thuyết giỏi nước Ngụy đời vua Chiêu Hi.","子华子 (Tử Hoa Tử): Một nhà tư tưởng thời Chiến Quốc, được nhắc đến trong các sách như Lã Thị Xuân Thu và Trang Tử.","昭僖侯 (Chiêu Hi hầu): Vua nước Hàn thời Chiến Quốc, trị vì khoảng 362-333 TCN.","攫 (quặc): Chộp lấy, đoạt lấy.","废 (phế): Hỏng, tàn phế.","铭 (minh): Khắc, ghi chép."],"tags":["Trang Tử","Đạo Gia","Trọng Thân","Khinh Trọng","Triết Lý Sống"]},{"id":90,"title_vi":"CHÚC MỪNG","title_zh_simp":"华封三祝","title_zh_trad":"華封三祝","title_pinyin":"Huá fēng sān zhù","title_han_viet":"HOA PHONG TAM CHÚC","title_en":"The Three Wishes at Huafeng","source_book":"《庄子·天地》","source_author":"Trang Chu (庄子)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"尧观乎华。华封人曰：“嘻，圣人！请祝圣人，使圣人寿。”尧曰：“辞。”“使圣人富。”尧曰：“辞。”“使圣人多男子。”尧曰：“辞。”封人曰：“寿、富、多男子，人之所欲也。女独不欲，何邪？”尧曰：“多男子则多惧，富则多事，寿则多辱。是三者，非所以养德也，故辞。”封人曰：“始也我以女为圣人邪，今然君子也。天生万民，必授之职。多男子而授之职，则何惧之有！富而使人分之，则何事之有！夫圣人鹑居而鷇食，鸟行而无彰；天下有道，则与物皆昌；天下无道，则修德就闲；千岁厌世，去而上仙；乘彼白云，至于帝乡；三患莫至，身常无殃；则何辱之有！”封人去之，尧随之曰：“请问。”封人曰：“退已！”","content_zh_trad":"堯觀乎華。華封人曰：“嘻，聖人！請祝聖人，使聖人壽。”堯曰：“辭。”“使聖人富。”堯曰：“辭。”“使聖人多男子。”堯曰：“辭。”封人曰：“壽、富、多男子，人之所欲也。女獨不欲，何邪？”堯曰：“多男子則多懼，富則多事，壽則多辱。是三者，非所以養德也，故辭。”封人曰：“始也我以女為聖人邪，今然君子也。天生萬民，必授之職。多男子而授之職，則何懼之有！富而使人分之，則何事之有！夫聖人鶉居而鷇食，鳥行而無彰；天下有道，則與物皆昌；天下無道，則修德就閒；千歲厭世，去而上仙；乘彼白雲，至於帝鄉；三患莫至，身常無殃；則何辱之有！”封人去之，堯隨之曰：“請問。”封人曰：“退已！”","content_pinyin":"Yáo guān hū Huá. Huá fēngrén yuē: \"Xī, shèngrén! Qǐng zhù shèngrén, shǐ shèngrén shòu.\" Yáo yuē: \"Cí.\" \"Shǐ shèngrén fù.\" Yáo yuē: \"Cí.\" \"Shǐ shèngrén duō nánzǐ.\" Yáo yuē: \"Cí.\" Fēngrén yuē: \"Shòu, fù, duō nánzǐ, rén zhī suǒ yù yě. Nǚ dú bù yù, hé xié?\" Yáo yuē: \"Duō nánzǐ zé duō jù, fù zé duō shì, shòu zé duō rǔ. Shì sān zhě, fēi suǒyǐ yǎng dé yě, gù cí.\" Fēngrén yuē: \"Shǐ yě wǒ yǐ nǚ wèi shèngrén xié, jīn rán jūnzǐ yě. Tiān shēng wànmín, bì shòu zhī zhí. Duō nánzǐ ér shòu zhī zhí, zé hé jù zhī yǒu! Fù ér shǐ rén fēn zhī, zé hé shì zhī yǒu! Fū shèngrén chún jū ér kòu shí, niǎo xíng ér wú zhāng; tiānxià yǒu dào, zé yǔ wù jiē chāng; tiānxià wú dào, zé xiū dé jiù xián; qiān suì yàn shì, qù ér shàng xiān; chéng bǐ báiyún, zhì yú dì xiāng; sān huàn mò zhì, shēn cháng wú yāng; zé hé rǔ zhī yǒu!\" Fēngrén qù zhī, Yáo suí zhī yuē: \"Qǐng wèn.\" Fēngrén yuē: \"Tuì yǐ!\"","content_han_viet":"Nghiêu quan hồ Hoa. Hoa phong nhân viết: “Hi, thánh nhân! Thỉnh chúc thánh nhân, sử thánh nhân thọ.” Nghiêu viết: “Từ.” “Sử thánh nhân phú.” Nghiêu viết: “Từ.” “Sử thánh nhân đa nam tử.” Nghiêu viết: “Từ.” Phong nhân viết: “Thọ, phú, đa nam tử, nhân chi sở dục dã. Nhữ độc bất dục, hà tà?” Nghiêu viết: “Đa nam tử tắc đa cụ, phú tắc đa sự, thọ tắc đa nhục. Thị tam giả, phi sở dĩ dưỡng đức dã, cố từ.” Phong nhân viết: “Thủy dã ngã dĩ nhữ vi thánh nhân tà, kim nhiên quân tử dã. Thiên sinh vạn dân, tất thụ chi chức. Đa nam tử nhi thụ chi chức, tắc hà cụ chi hữu! Phú nhi sử nhân phân chi, tắc hà sự chi hữu! Phù thánh nhân thuần cư nhi khấu thực, điểu hành nhi vô chương; thiên hạ hữu đạo, tắc dữ vật giai xương; thiên hạ vô đạo, tắc tu đức tựu nhàn; thiên tuế yếm thế, khứ nhi thượng tiên; thừa bỉ bạch vân, chí vu đế hương; tam hoạn mạc chí, thân thường vô ương; tắc hà nhục chi hữu!” Phong nhân khứ chi, Nghiêu tùy chi viết: “Thỉnh vấn.” Phong nhân viết: “Thoái dĩ!”","content_vi":"Vua Nghiêu đến chơi đất Hoa. Viên quan giữ cõi đất Hoa chúc rằng:\n\n- Xin chúc nhà vua sống lâu.\n\nVua Nghiêu nói: Đừng chúc thế.\n\nViên quan lại chúc: Xin chúc nhà vua giàu có.\n\nVua Nghiêu nói: Đừng chúc thế.\n\nViên quan lại chúc: Xin chúc nhà vua lắm con trai.\n\nVua Nghiêu nói: Đừng chúc thế.\n\nViên quan lấy làm lạ, hỏi: Sống lâu, giàu có, lắm con trai, người ta ai cũng muốn, một mình nhà vua không muốn là cớ làm sao?\n\nVua Nghiêu nói: Lắm con trai thì sợ nhiều; giàu có thì công việc nhiều; sống lâu thì nhục nhã nhiều. Ba điều ấy không phải là những điều gây nên đức hay cho mình nên ta từ chối.\n\nViên quan nói: Nhà vua như thế thực là một bậc quân tử. Nhưng trời sinh ra người, mỗi đứa cho làm một việc thì có lo sợ gì. Giàu có mà biết đem chia của với người ta thì còn công việc gì? Ăn uống có chừng, ngủ có độ, trong bụng lúc nào cũng thư thái tự nhiên, thiên hạ hay ra, thì cũng hay với thiên hạ, thiên hạ mà dở thì làm cho thiên hạ hay, trăm tuổi thì nhắm mắt về cõi rất vui, một đời không có tai họa gì, thì còn nhục nhã làm sao được.\n\nViên quan nói xong lùi ngay. Vua Nghiêu còn muốn nói nữa thì cho theo không kịp.","loi_ban_vi":"Lời bàn: Vua Nghiêu từ chối ba điều mà người đời thường mong ước, vì cho rằng chúng không nuôi dưỡng được đức hạnh. Người giữ đất Hoa lại chỉ ra rằng, tai họa không nằm ở phú quý, trường thọ hay đông con, mà ở chỗ con người không biết thuận theo lẽ tự nhiên, không biết chia sẻ và tu dưỡng. Kẻ thức thời thì dù ở thời loạn hay thời thịnh cũng giữ được thân mình vô sự. Đáng quý thay cái lối sống ung dung tự tại, không bị vật dục trói buộc, xem nhẹ được mất, hơn thua mà vẫn giữ trọn khí tiết thanh cao!","giai_nghia":["Nghiêu: vua đời Đường (357 - 289 tr.Th.Ch) .","Hoa: chỗ vua Nghiêu đóng kinh đô.","华封人 (Hoa phong nhân): Người giữ biên giới đất Hoa, nơi vua Nghiêu tuần thú.","三祝 (Tam chúc): Ba lời chúc, tức chúc sống lâu, giàu có, nhiều con trai.","鹑居而鷇食 (thuần cư nhi khấu thực): Ở như chim cút, ăn như chim non (ý nói sống đơn giản, tự nhiên, không cầu kỳ).","帝乡 (Đế hương): Nơi ở của Thượng Đế, cõi tiên."],"tags":["Trang Tử","Đạo Gia","Vua Nghiêu","Vô Vi","Triết Lý Sống"]},{"id":91,"title_vi":"NGƯỜI BÁN THỊT DÊ","title_zh_simp":"屠羊说","title_zh_trad":"屠羊說","title_pinyin":"Tú yáng shuō","title_han_viet":"ĐỒ DƯƠNG THUYẾT","title_en":"The Mutton Butcher","source_book":"《庄子》","source_author":"Trang Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"楚昭王失国，屠羊说走而从于昭王。昭王反国，将赏从者，及屠羊说。屠羊说曰：“大王失国，说失屠羊；大王反国，说亦反屠羊。臣之爵禄已复矣，又何赏之有？”王曰：“强之！”屠羊说曰：“大王失国，非臣之罪，故不敢伏其诛；大王反国，非臣之功，故不敢当其赏。”王曰：“见之！”屠羊说曰：“楚国之法，必有重赏大功而后得见。今臣之知不足以存国，而勇不足以死寇。吴军入郢，说畏难而避寇，非故随大王也。今大王欲废法毁约而见说，此非臣之所以闻于天下也。”王谓司马子綦曰：“屠羊说居处卑贱而陈义甚高，子綦为我延之以三旌之位。”屠羊说曰：“夫三旌之位，吾知其贵于屠羊之肆也；万钟之禄，吾知其富于屠羊之利也。然岂可以贪爵禄而使吾君有妄施之名乎？说不敢当，愿复反吾屠羊之肆。”遂不受也。","content_zh_trad":"楚昭王失國，屠羊說走而從於昭王。昭王反國，將賞從者，及屠羊說。屠羊說曰：“大王失國，說失屠羊；大王反國，說亦反屠羊。臣之爵祿已復矣，又何賞之有？”王曰：“強之！”屠羊說曰：“大王失國，非臣之罪，故不敢伏其誅；大王反國，非臣之功，故不敢當其賞。”王曰：“見之！”屠羊說曰：“楚國之法，必有重賞大功而後得見。今臣之知不足以存國，而勇不足以死寇。吳軍入郢，說畏難而避寇，非故隨大王也。今大王欲廢法毀約而見說，此非臣之所以聞於天下也。”王謂司馬子綦曰：“屠羊說居處卑賤而陳義甚高，子綦為我延之以三旌之位。”屠羊說曰：“夫三旌之位，吾知其貴於屠羊之肆也；萬鍾之祿，吾知其富於屠羊之利也。然豈可以貪爵祿而使吾君有妄施之名乎？說不敢當，願復反吾屠羊之肆。”遂不受也。","content_pinyin":"Chǔ Zhāo wáng shī guó, Tú yáng Shuō zǒu ér cóng yú Zhāo wáng. Zhāo wáng fǎn guó, jiāng shǎng cóng zhě, jí Tú yáng Shuō. Tú yáng Shuō yuē: “Dà wáng shī guó, Shuō shī tú yáng; Dà wáng fǎn guó, Shuō yì fǎn tú yáng. Chén zhī jué lù yǐ fù yǐ, yòu hé shǎng zhī yǒu?” Wáng yuē: “Qiáng zhī!” Tú yáng Shuō yuē: “Dà wáng shī guó, fēi chén zhī zuì, gù bù gǎn fú qí zhū; Dà wáng fǎn guó, fēi chén zhī gōng, gù bù gǎn dāng qí shǎng.” Wáng yuē: “Jiàn zhī!” Tú yáng Shuō yuē: “Chǔ guó zhī fǎ, bì yǒu zhòng shǎng dà gōng ér hòu dé jiàn. Jīn chén zhī zhī bù zú yǐ cún guó, ér yǒng bù zú yǐ sǐ kòu. Wú jūn rù Yǐng, Shuō wèi nán ér bì kòu, fēi gù suí Dà wáng yě. Jīn Dà wáng yù fèi fǎ huǐ yuē ér jiàn Shuō, cǐ fēi chén zhī suǒ yǐ wén yú tiān xià yě.” Wáng wèi Sīmǎ Zǐqí yuē: “Tú yáng Shuō jū chù bēi jiàn ér chén yì shèn gāo, Zǐqí wèi wǒ yán zhī yǐ sān jīng zhī wèi.” Tú yáng Shuō yuē: “Fú sān jīng zhī wèi, wú zhī qí guì yú tú yáng zhī sì yě; wàn zhōng zhī lù, wú zhī qí fù yú tú yáng zhī lì yě. Rán qǐ kě yǐ tān jué lù ér shǐ wú jūn yǒu wàng shī zhī míng hū? Shuō bù gǎn dāng, yuàn fù fǎn wú tú yáng zhī sì.” Suì bù shòu yě.","content_han_viet":"Sở Chiêu Vương thất quốc, Đồ Dương Thuyết tẩu nhi tòng ư Chiêu Vương. Chiêu Vương phản quốc, tương thưởng tòng giả, cập Đồ Dương Thuyết. Đồ Dương Thuyết viết: “Đại vương thất quốc, Thuyết thất đồ dương; Đại vương phản quốc, Thuyết diệc phản đồ dương. Thần chi tước lộc dĩ phục hĩ, hựu hà thưởng chi hữu?” Vương viết: “Cưỡng chi!” Đồ Dương Thuyết viết: “Đại vương thất quốc, phi thần chi tội, cố bất cảm phục kỳ tru; Đại vương phản quốc, phi thần chi công, cố bất cảm đương kỳ thưởng.” Vương viết: “Kiến chi!” Đồ Dương Thuyết viết: “Sở quốc chi pháp, tất hữu trọng thưởng đại công nhi hậu đắc kiến. Kim thần chi trí bất túc dĩ tồn quốc, nhi dũng bất túc dĩ tử khấu. Ngô quân nhập Dĩnh, Thuyết úy nan nhi tị khấu, phi cố tùy Đại vương dã. Kim Đại vương dục phế pháp hủy ước nhi kiến Thuyết, thử phi thần chi sở dĩ văn ư thiên hạ dã.” Vương vị Tư Mã Tử Kỳ viết: “Đồ Dương Thuyết cư xử ti tiện nhi trần nghĩa thậm cao, Tử Kỳ vi ngã diên chi dĩ tam tinh chi vị.” Đồ Dương Thuyết viết: “Phù tam tinh chi vị, ngô tri kỳ quý ư đồ dương chi tứ dã; vạn chung chi lộc, ngô tri kỳ phú ư đồ dương chi lợi dã. Nhiên khởi khả dĩ tham tước lộc nhi sử ngô quân hữu vọng thi chi danh hồ? Thuyết bất cảm đương, nguyện phục phản ngô đồ dương chi tứ.” Toại bất thụ dã.","content_vi":"Vua Chiêu Vương nước Sở mất nước, phải bỏ chạy. Có người hàng thịt dê tên là Duyệt, cũng chạy theo vua.\n\nSau vua Chiêu Vương lại trở về, lấy lại được nước. Vua bèn thưởng những người chạy theo khi trước, có cả anh hàng thịt dê nữa. Ai ai cũng nhận thưởng, chỉ có anh hàng thịt dê từ chối, nói rằng:\n\n- Trước nhà vua mất nước, tôi mất nghề bán thịt dê, nay nhà vua còn nước, tôi còn nghề bán thịt dê. Thế là tôi giữ được nghiệp cũ đủ ăn rồi, còn đâu dám mong thưởng gì nữa.\n\nVua cố ép. Người hàng thịt dê thưa rằng:\n\n- Nhà vua mất nước không phải tội tôi, nên tôi không dám liều chết; nhà vua lấy lại được nước không phải công tôi, nên tôi không dám lĩnh thưởng.\n\nVua bảo để rồi ra đến nhà ngươi chơi vậy.\n\nNgười hàng thịt dê nói: Theo phép nước Sở, phàm người nào có công to được trọng thưởng thì vua mới đến nhà. Nay tôi xét tôi trí mưu không đủ giữ được nước, dũng cảm không đủ giết được giặc. Quân giặc vào trong nước, tôi lánh nạn, phải theo nhà vua chớ có phải là cốt ý theo nhà vua đâu! Nay nhà vua lại muốn bỏ phép nước mà đến chơi nhà tôi, tôi e thiên hạ lại chê cười chăng.\n\nChiêu Vương thấy nói, ngoảnh lại bảo Tư Mã Sử Ký rằng: Người hàng thịt dê này tuy làm nghề vi tiện mà giãi bày nghĩa lý rất cao xa. Nhà ngươi làm thế nào mời được người ấy ra giữ chức tam công cho ta.\n\nNgười hàng thịt dê nói: tôi biết chức tam công là quí hơn cửa hàng bán thịt dê, bổng lộc nghìn vạn, giàu hơn tiền lãi bán thịt dê. Nhưng tôi đâu dám tham tước lộc mà để nhà vua mang tiếng là gia ơn không phải nghĩa. Tôi thực không dám nhận. Xin cho về giữ lấy nghề bán thịt dê.\n\nNói đoạn lui ra ngay.","loi_ban_vi":"Vua Chiêu Vương muốn thưởng là lấy cái ý khi mình gặp bước lưu vong mà người ta đi theo mình, là người ta có lòng trung thành với mình. Người hàng thịt dê không nhận thưởng là lấy cái nghĩa không đáng nhận vì không có công cán gì. Nếu ai cũng biết an phận thủ thường, quí trọng nghề nghiệp như người bán thịt dê, thì còn ai là kẻ ham mê phú quí, quyền thế và sự thưởng phạt ở đời chẳng là công minh lắm ư! Thực đáng làm gương cho những kẻ không biết liêm sỉ, tài năng công đức chẳng có gì, mà cũng cố cày cục, chạy chọt lấy chút phẩm hàm chức vị để lòe đời vậy.","giai_nghia":["Tam công: ba chức quan to, đời nhà Chu thì là Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo, đời nhà Tây Hán thì là Đại Tư Mã, Đại Tư Đề, Đại Tư Không, đời nhà Đông Hán thì là Thái Úy, Tư Đồ, Tư Không.","Đồ Dương Thuyết (屠羊说): Tên người bán thịt dê, 'Đồ' là giết mổ, 'Dương' là con dê, 'Thuyết' là tên người.","Tam công (三公): Ba chức quan cao nhất thời cổ đại Trung Quốc, thường là Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo.","Vạn chung (万钟): 'Chung' là đơn vị đo lường thời cổ, 'Vạn chung' chỉ bổng lộc rất nhiều, giàu có tột bậc."],"tags":["Trang Tử","Khiêm nhường","An phận","Liêm sỉ","Đạo trị quốc"]},{"id":92,"title_vi":"THÀNH THỰC","title_zh_simp":"曾子杀猪","title_zh_trad":"曾子殺豬","title_pinyin":"Zēngzǐ shā zhū","title_han_viet":"TĂNG TỬ SÁT TRƯ","title_en":"Zengzi Kills the Pig","source_book":"《韩非子·外储说左上》","source_author":"Hàn Phi Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"曾子之妻之市，其子随之而泣。其母曰：“女还，顾反为女杀彘。”妻适市来，曾子欲捕彘杀之。妻止之曰：“特与婴儿戏耳。”曾子曰：“婴儿非与戏也。婴儿非有知也，待父母而学者也，听父母之教。今子欺之，是教子欺也。母欺子，子而不信其母，非所以成教也。”遂烹彘也。","content_zh_trad":"曾子之妻之市，其子隨之而泣。其母曰：“女還，顧反為女殺彘。”妻適市來，曾子欲捕彘殺之。妻止之曰：“特與嬰兒戲耳。”曾子曰：“嬰兒非與戲也。嬰兒非有知也，待父母而學者也，聽父母之教。今子欺之，是教子欺也。母欺子，子而不信其母，非所以成教也。”遂烹彘也。","content_pinyin":"Zēngzǐ zhī qī zhī shì, qí zǐ suí zhī ér qì. Qí mǔ yuē: “Rǔ hái, gù fǎn wèi rǔ shā zhì.” Qī shì shì lái, Zēngzǐ yù bǔ zhì shā zhī. Qī zhǐ zhī yuē: “Tè yǔ yīng'ér xì ěr.” Zēngzǐ yuē: “Yīng'ér fēi yǔ xì yě. Yīng'ér fēi yǒu zhī yě, dài fùmǔ ér xué zhě yě, tīng fùmǔ zhī jiào. Jīn zǐ qī zhī, shì jiào zǐ qī yě. Mǔ qī zǐ, zǐ ér bù xìn qí mǔ, fēi suǒyǐ chéng jiào yě.” Suì pēng zhì yě.","content_han_viet":"Tăng Tử chi thê chi thị, kỳ tử tùy chi nhi khấp. Kỳ mẫu viết: “Nhữ hoàn, cố phản vi nhữ sát trệ.” Thê thích thị lai, Tăng Tử dục bộ trệ sát chi. Thê chỉ chi viết: “Đặc dữ anh nhi hý nhĩ.” Tăng Tử viết: “Anh nhi phi dữ hý dã. Anh nhi phi hữu tri dã, đãi phụ mẫu nhi học giả dã, thính phụ mẫu chi giáo. Kim tử khi chi, thị giáo tử khi dã. Mẫu khi tử, tử nhi bất tín kỳ mẫu, phi sở dĩ thành giáo dã.” Toại phanh trệ dã.","content_vi":"Vợ thầy Tăng Tử đi chợ. Con khóc đòi đi theo. Mẹ bảo:\n\nCon ở nhà rồi mẹ về mẹ làm thịt con lợn cho ăn.\n\nLúc vợ về thầy Tăng Tử bắt lợn đi làm thịt.\n\nVợ nói:\n\nTôi nói đùa nó đấy mà.\n\nThầy Tăng Tử bảo:\n\nNói đùa là thế nào? Đứng khinh trẻ thơ là không biết gì. Cha mẹ làm gì nó thường hay bắt trước. Nay mình nói dối nó, chẳng là mình dạy nó nói dối ư!\n\nTăng Tử nói xong, làm thịt lợn cho con ăn thực.\n\nLời bàn: “Ấu tử thương thi vô cuồng”; câu kinh Lễ đã dạy, ta không nên nói dối trẻ. Thầy Tăng Tử nhà nghèo, phải giết lợn, mẹ thầy Mạnh Tử cũng có mua miếng thịt lợn nhà láng giềng cho con ăn, đều là đã trót nói đùa vời trẻ cho ăn thịt lợn, thì không muốn dối trá nó, để giữ lấy lòng thực. Phàm cha mẹ ai là không muốn cho con thành thực. Nhưng muốn như vậy, tất phải giữ gìn, chớ có nói dối nó bao giờ. Lục Chí có câu nói rằng: “ Nều mình không hết lòng thành mà mong người ta hết lòng thành, chắc người ta chán mình mà không theo mình nữa. Lần này mình không có lòng thành mà bảo lần sau rồi có lòng thành, chắc người ta ngờ vực mà không tin nữa”. Cũng một ý với","loi_ban_vi":"Việc dạy con cốt ở sự chân thật, lời nói và việc làm của cha mẹ chính là khuôn phép đầu tiên cho trẻ noi theo. Nếu cha mẹ đã hứa mà không giữ, thì chẳng những khiến con mất lòng tin mà còn gián tiếp dạy con thói dối trá. Cho nên bậc làm cha mẹ phải cẩn ngôn, thận hành, lấy sự thành tín làm gốc để rèn dạy con nên người lương thiện.","giai_nghia":["Tăng Tử (曾子): Tên thật là Tăng Sâm, học trò xuất sắc của Khổng Tử, nổi tiếng về chữ Hiếu và sự tu thân.","Trệ (彘): Từ cổ chỉ con lợn (heo).","Anh nhi (婴儿): Trẻ thơ, trẻ nhỏ chưa hiểu biết."],"tags":["Tăng Tử","Giáo dục","Thành thực","Lời hứa","Gia đình"]},{"id":93,"title_vi":"MẸ HIỀN DẠY CON","title_zh_simp":"孟母三迁","title_zh_trad":"孟母三遷","title_pinyin":"Mèng mǔ sān qiān","title_han_viet":"MẠNH MẪU TAM THIÊN","title_en":"Mencius's Mother Moves Three Times","source_book":"《列女傳》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"邹孟轲母，号孟母。其舍近墓。孟子之少也，嬉游为墓间之事，踊跃筑埋。孟母曰：“此非吾所以居处子。”乃去，舍市傍。其嬉游为贾人炫卖之事。孟母又曰：“此非吾所以居处子也。”复徙舍学宫之傍。其嬉游乃设俎豆，揖让进退。孟母曰：“真可以居吾子矣。”遂居。及孟子长，学六艺，卒成大儒之名。君子谓孟母善以渐化。诗云：“彼姝者子，何以予之？”此之谓也。孟子之少也，既学而归，孟母方绩，问曰：“学何所至矣？”孟子曰：“自若也。”孟母以刀断其织。孟子惧而问其故。孟母曰：“子之废学，若吾断斯织也。夫君子学以立名，问则广知，是以居则安宁，动则远害。今而废之，是不免于厮役，而无以离于祸患也。何以异于织绩而食，中道废而不为，宁能衣其夫子，而长不乏粮食哉？女则废其所食，男则堕于修德，不为窃盗，则为虏役矣。”孟子惧，旦夕勤学不息，师事子思，遂成天下之名儒。君子谓孟母知为人母之道矣。","content_zh_trad":"鄒孟軻母，號孟母。其舍近墓。孟子之少也，嬉遊為墓間之事，踴躍築埋。孟母曰：“此非吾所以居處子。”乃去，舍市傍。其嬉遊為賈人炫賣之事。孟母又曰：“此非吾所以居處子也。”復徙舍學宮之傍。其嬉遊乃設俎豆，揖讓進退。孟母曰：“真可以居吾子矣。”遂居。及孟子長，學六藝，卒成大儒之名。君子謂孟母善以漸化。詩云：“彼姝者子，何以予之？”此之謂也。孟子之少也，既學而歸，孟母方績，問曰：“學何所至矣？”孟子曰：“自若也。”孟母以刀斷其織。孟子懼而問其故。孟母曰：“子之廢學，若吾斷斯織也。夫君子學以立名，問則廣知，是以居則安寧，動則遠害。今而廢之，是不免於廝役，而無以離於禍患也。何以異於織績而食，中道廢而不為，寧能衣其夫子，而長不乏糧食哉？女則廢其所食，男則墮於修德，不為竊盜，則為虜役矣。”孟子懼，旦夕勤學不息，師事子思，遂成天下之名儒。君子謂孟母知為人母之道矣。","content_pinyin":"Zōu Mèng kē mǔ, hào Mèng mǔ. Qí shè jìn mù. Mèngzǐ zhī shào yě, xī yóu wéi mù jiān zhī shì, yǒngyuè zhù mái. Mèng mǔ yuē: “Cǐ fēi wú suǒ yǐ jū chǔ zǐ.” Nǎi qù, shè shì bàng. Qí xī yóu wéi gǔ rén xuàn mài zhī shì. Mèng mǔ yòu yuē: “Cǐ fēi wú suǒ yǐ jū chǔ zǐ yě.” Fù xǐ shè xué gōng zhī bàng. Qí xī yóu nǎi shè zǔ dòu, yī ràng jìn tuì. Mèng mǔ yuē: “Zhēn kěyǐ jū wú zǐ yǐ.” Suì jū. Jí Mèngzǐ cháng, xué liù yì, zú chéng dà rú zhī míng. Jūnzǐ wèi Mèng mǔ shàn yǐ jiàn huà. Shī yún: “Bǐ shū zhě zǐ, hé yǐ yǔ zhī?” Cǐ zhī wèi yě. Mèngzǐ zhī shào yě, jì xué ér guī, Mèng mǔ fāng jī, wèn yuē: “Xué hé suǒ zhì yǐ?” Mèngzǐ yuē: “Zì ruò yě.” Mèng mǔ yǐ dāo duàn qí zhī. Mèngzǐ jù ér wèn qí gù. Mèng mǔ yuē: “Zǐ zhī fèi xué, ruò wú duàn sī zhī yě. Fū jūnzǐ xué yǐ lì míng, wèn zé guǎng zhī, shì yǐ jū zé ānníng, dòng zé yuǎn hài. Jīn ér fèi zhī, shì bùmiǎn yú sī yì, ér wú yǐ lí yú huòhuàn yě. Hé yǐ yì yú zhī jī ér shí, zhōngdào fèi ér bù wéi, níng néng yī qí fūzǐ, ér cháng bù fá liángshí zāi? Nǚ zé fèi qí suǒ shí, nán zé duò yú xiū dé, bù wéi qiè dào, zé wéi lǔ yì yǐ.” Mèngzǐ jù, dàn xī qín xué bù xī, shī shì Zǐsī, suì chéng tiānxià zhī míng rú. Jūnzǐ wèi Mèng mǔ zhī wéi rén mǔ zhī dào yǐ.","content_han_viet":"Sâu Mạnh Kha mẫu, hiệu Mạnh mẫu. Kì xá cận mộ. Mạnh Tử chi thiếu dã, hí du vi mộ gian chi sự, dũng dược trúc mai. Mạnh mẫu viết: “Thử phi ngô sở dĩ cư xử tử.” Nãi khứ, xá thị bạng. Kì hí du vi giả nhân huyễn mại chi sự. Mạnh mẫu hựu viết: “Thử phi ngô sở dĩ cư xử tử dã.” Phục thỉ xá học cung chi bạng. Kì hí du nãi thiết trở đậu, ấp nhượng tiến thoái. Mạnh mẫu viết: “Chân khả dĩ cư ngô tử hĩ.” Toại cư. Cập Mạnh Tử trưởng, học lục nghệ, tốt thành đại nho chi danh. Quân tử vị Mạnh mẫu thiện dĩ tiệm hóa. Thi vân: “Bỉ thù giả tử, hà dĩ dữ chi?” Thử chi vị dã. Mạnh Tử chi thiếu dã, kí học nhi quy, Mạnh mẫu phương tích, vấn viết: “Học hà sở chí hĩ?” Mạnh Tử viết: “Tự nhược dã.” Mạnh mẫu dĩ đao đoạn kì chức. Mạnh Tử cụ nhi vấn kì cố. Mạnh mẫu viết: “Tử chi phế học, nhược ngô đoạn tư chức dã. Phu quân tử học dĩ lập danh, vấn tắc quảng tri, thị dĩ cư tắc an ninh, động tắc viễn hại. Kim nhi phế chi, thị bất miễn vu tê dịch, nhi vô dĩ ly vu họa hoạn dã. Hà dĩ dị vu chức tích nhi thực, trung đạo phế nhi bất vi, ninh năng y kì phu tử, nhi trường bất phạp lương thực tai? Nữ tắc phế kì sở thực, nam tắc đóa vu tu đức, bất vi thiết đạo, tắc vi lỗ dịch hĩ.” Mạnh Tử cụ, đán tịch cần học bất tức, sư sự Tử Tư, toại thành thiên hạ chi danh nho. Quân tử vị Mạnh mẫu tri vi nhân mẫu chi đạo hĩ.","content_vi":"Thầy Mạnh Tử, thuở nhỏ nhà gần nghĩa địa, thấy người ta đào, chôn, lăn khóc, về nhà cũng bắt trước đào, chôn lăn khóc.\n\nBà mẹ thấy thế nói:\n\nChỗ này không phải chỗ con ta ở được Rồi dọn nhà ra gần chợ. Thầy Mạnh Tử ở gần chợ, thấy người buôn bán điên đảo, về nhà cũng bắt chước người ta buôn bán điên đảo.\n\nBà mẹ thấy thế lại nói:\n\nChỗ này cũng không phải là chỗ con ta ở được.\n\nBèn dọn nhà đến ở cạnh trường học. Thầy Mạnh Tử ở gần trường học, thầy trẻ đua nhau học tập lễ phép, cắp sách vở, về nhà cũng bắt chước học tập lễ phép, cắp sách vở.\n\nBấy giờ bà mẹ mới vui lòng nói:\n\nChỗ này là chỗ con ta ở được đây.\n\nMột hôm, thầy Mạnh Tử thấy nhà hàng xóm giết lợn, về hỏi mẹ:\n\nNgười ta giết lợn làm gì thế?\n\nBà mẹ nói đùa:\n\nĐể cho con ăn đấy.\n\nNói xong, bà nghĩ lại hối rằng:\n\nTa nói lỡ mồm rồi. Con ta thơ ấu, trí thức mới mở mang mà ta nói dối nó, thì chẳng ra ta dạy nó nói dối hay sao?\n\nRồi bà đi mua thịt lợn về cho con ăn thật.\n\nLại một hôm thầy Mạnh Tử đang đi học, bỏ học về nhà chơi. Bà mẹ đang ngồi dệt cửi, trông thấy, liền cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung, mà nói rằng:\n\nCon đi học mà bỏ học thì cũng như ta đang dệt tấm vải này mà cắt đứt đi vậy.\n\nTừ hôm đó thầy Mạnh Tử học tập rất chuyên cần rồi về sau thành một bậc đại hiền. Thế chẳng nhờ có cái công giáo dục quý báu của bà mẹ hay sao?","loi_ban_vi":": mẹ thầy Mạnh Từ thực là biết dạy con. Mấy lần dọn nhà, thế là hiểu cái lẽ gần mực thì đen gần đen thì rạng. Nói lỡ lời phải mua thịt cho con ăn, thế là hiểu cái lẽ chớ nên nói dối trẻ. Thấy nó bỏ học mà cầm dao cắt đứt tấm vải làm thí dụ, thế là hiểu cái lẽ học hành cốt phải chuyên cần. Người ta đã nói: người mẹ là thầy giáo thứ nhất của trẻ, nên người mẹ phải biết cách dạy trẻ mới được. Dạy con từ thuở còn thơ, cái buổi đầu là cái buổi khó, mà cái buổi ấy là ở trong tay người, người mẹ tức là người có trách nhiệm gia đình giáo dục rất to, không kém gì người cha, mà có lẽ hơn.","giai_nghia":["Mạnh mẫu: Mẹ của Mạnh Tử (Mạnh Kha), người nước Trâu thời Chiến Quốc.","Trở đậu: Đồ đựng lễ vật trong các nghi lễ tế tự thời xưa, tượng trưng cho lễ nghi.","Tử Tư: Cháu nội của Khổng Tử, một nhà Nho nổi tiếng, thầy của Mạnh Tử.","Lục nghệ: Sáu môn nghệ thuật cổ điển gồm Lễ, Nhạc, Xạ, Ngự, Thư, Số."],"tags":["Giáo dục","Mạnh Tử","Mẫu thân","Môi trường sống"]},{"id":94,"title_vi":"NGỌC BÍCH HỌ HÒA","title_zh_simp":"和氏璧","title_zh_trad":"和氏璧","title_pinyin":"Hé shì bì","title_han_viet":"HÒA THỊ BÍCH","title_en":"The Jade Disc of Mr. He","source_book":"《韓非子》","source_author":"Hàn Phi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"楚人和氏得玉璞楚山中，奉而献之厉王。厉王使玉人相之，玉人曰：“石也。”王以和为诳，而刖其左足。及厉王薨，武王即位，和又奉其璞而献之武王。武王使玉人相之，又曰：“石也。”王又以和为诳，而刖其右足。武王薨，文王即位，和乃抱其璞而哭于楚山之下，三日三夜，泣尽而继之以血。王闻之，使人问其故，曰：“天下之刖者多矣，子奚哭之悲也？”和曰：“吾非悲刖也，悲夫宝玉而题之以石，贞士而名之以诳，此吾所以悲也。”王乃使玉人理其璞而得宝焉，遂命曰“和氏之璧”。","content_zh_trad":"楚人和氏得玉璞楚山中，奉而獻之厲王。厲王使玉人相之，玉人曰：“石也。”王以和為誑，而刖其左足。及厲王薨，武王即位，和又奉其璞而獻之武王。武王使玉人相之，又曰：“石也。”王又以和為誑，而刖其右足。武王薨，文王即位，和乃抱其璞而哭於楚山之下，三日三夜，泣盡而繼之以血。王聞之，使人問其故，曰：“天下之刖者多矣，子奚哭之悲也？”和曰：“吾非悲刖也，悲夫寶玉而題之以石，貞士而名之以誑，此吾所以悲也。”王乃使玉人理其璞而得寶焉，遂命曰“和氏之璧”。","content_pinyin":"Chǔ rén Hé shì dé yù pú Chǔ shān zhōng, fèng ér xiàn zhī Lì Wáng. Lì Wáng shǐ yù rén xiàng zhī, yù rén yuē: “Shí yě.” Wáng yǐ Hé wéi kuáng, ér yuè qí zuǒ zú. Jí Lì Wáng hōng, Wǔ Wáng jí wèi, Hé yòu fèng qí pú ér xiàn zhī Wǔ Wáng. Wǔ Wáng shǐ yù rén xiàng zhī, yòu yuē: “Shí yě.” Wáng yòu yǐ Hé wéi kuáng, ér yuè qí yòu zú. Wǔ Wáng hōng, Wén Wáng jí wèi, Hé nǎi bào qí pú ér kū yú Chǔ shān zhī xià, sān rì sān yè, qì jǐn ér jì zhī yǐ xuè. Wáng wén zhī, shǐ rén wèn qí gù, yuē: “Tiānxià zhī yuè zhě duō yǐ, zǐ xī kū zhī bēi yě?” Hé yuē: “Wú fēi bēi yuè yě, bēi fū bǎoyù ér tí zhī yǐ shí, zhēn shì ér míng zhī yǐ kuáng, cǐ wú suǒ yǐ bēi yě.” Wáng nǎi shǐ yù rén lǐ qí pú ér dé bǎo yān, suì mìng yuē “Hé shì zhī bì”.","content_han_viet":"Sở nhân Hòa thị đắc ngọc phác Sở sơn trung, phụng nhi hiến chi Lệ Vương. Lệ Vương sử ngọc nhân tướng chi, ngọc nhân viết: “Thạch dã.” Vương dĩ Hòa vi cuống, nhi nguyệt kì tả túc. Cập Lệ Vương hoăng, Vũ Vương tức vị, Hòa hựu phụng kì phác nhi hiến chi Vũ Vương. Vũ Vương sử ngọc nhân tướng chi, hựu viết: “Thạch dã.” Vương hựu dĩ Hòa vi cuống, nhi nguyệt kì hữu túc. Vũ Vương hoăng, Văn Vương tức vị, Hòa nãi bão kì phác nhi khốc vu Sở sơn chi hạ, tam nhật tam dạ, khấp tận nhi kế chi dĩ huyết. Vương văn chi, sử nhân vấn kì cố, viết: “Thiên hạ chi nguyệt giả đa hĩ, tử hề khốc chi bi dã?” Hòa viết: “Ngô phi bi nguyệt dã, bi phu bảo ngọc nhi đề chi dĩ thạch, trinh sĩ nhi danh chi dĩ cuống, thử ngô sở dĩ bi dã.” Vương nãi sử ngọc nhân lí kì phác nhi đắc bảo yên, toại mệnh viết “Hòa thị chi bích”.","content_vi":"Nước Sở có người họ Hòa, được một hòn ngọc ở trong núi, đem dâng vua Lê Vương. Vua sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc nói: “Đá không phải ngọc”. Vua cho người họ Hòa là nói dối, sai chặt chân trái.\n\nĐến khi vua Vũ Vương nối ngôi, người họ Hòa lại đem ngọc đên dâng.\n\nVua sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc nói: “Đá không phải ngọc”\n\nĐến khi vua Văn Vương lên ngôi, người họ Hòa ôm hòn ngọc, khóc ở chân núi Sở Sơn suốt ba ngày ba đêm đến chảy máu mắt ra. Vua thấy thế, sai người đến hỏi. Người họ Hòa thưa: “ Tôi khóc không phải là thương hại chân tôi bị chặt, chỉ thương về nỗi ngọc mà cho là đá, nói thật mà cho là nói dối”.\n\nVua bèn sai người xem lại cho rõ kỹ, thì quả nhiên là ngọc thật, mới đặt tên gọi là “ngọc bích họ Hòa”.","loi_ban_vi":": Người ta ở đời thường mờ mịt của thật cho là của giả, sự phải ngờ là sự trái. Hoặc có ai biết lẽ phải, muốn đem ra báy tỏ, mà thiên hạ không biết cho, lại còn mỉa mai, thì thực là khổ tâm. Người họ Hòa không đau vì nỗi hai chân bị chặt chỉ vì đau vì nỗi ngọc mà cho là đá, nói thực cho là nói dối, quả là một người vì yêu cái thực, cái phải, cố làm cho sự thực, sự phải phá đổ đực sự u mê của người đời.","giai_nghia":[":","Sở: xem bài 9","Lê Vương, Vũ Vương, Văn Vương: ba vua kế tiếp nước Sở","Ngọc bích: thứ ngọc rất đẹp, rất quý hiếm","Họ Hòa: Người họ Hòa ở nước Sở, tên thật không rõ, chỉ biết là 'Hòa thị'.","Ngọc phác: Hòn đá còn nguyên vỏ bọc bên ngoài, chưa được mài giũa, bên trong chứa ngọc quý.","Lệ Vương, Vũ Vương, Văn Vương: Các vị vua nước Sở thời Xuân Thu.","Hòa thị bích: Viên ngọc bích nổi tiếng của họ Hòa, sau này trở thành bảo vật quốc gia thời Chiến Quốc, được gọi là 'Hòa thị bích'."],"tags":["Ngọc bích","Sự thật","Tri thức","Hàn Phi Tử"]},{"id":95,"title_vi":"NUÔI GÀ CHỌI","title_zh_simp":"养斗鸡","title_zh_trad":"養鬥雞","title_pinyin":"Yǎng dòujī","title_han_viet":"DƯỠNG ĐẤU KÊ","title_en":"Training a Fighting Cock","source_book":"《庄子·达生》","source_author":"Trang Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"纪渻子为王养斗鸡。十日而问：“鸡已乎？”曰：“未也，方虚憍而恃气。”十日又问，曰：“未也，犹应向景。”十日又问，曰：“未也，犹疾视而盛气。”十日又问，曰：“几矣。鸡虽有鸣者，已无变矣，望之似木鸡矣，其德全矣，异鸡无敢应者，反走矣。”","content_zh_trad":"紀渻子為王養鬥雞。十日而問：“雞已乎？”曰：“未也，方虛憍而恃氣。”十日又問，曰：“未也，猶應向景。”十日又問，曰：“未也，猶疾視而盛氣。”十日又問，曰：“幾矣。雞雖有鳴者，已無變矣，望之似木雞矣，其德全矣，異雞無敢應者，反走矣。”","content_pinyin":"Jǐ Shěngzǐ wèi wáng yǎng dòujī. Shí rì ér wèn: \"Jī yǐ hū?\" Yuē: \"Wèi yě, fāng xū jiāo ér shì qì.\" Shí rì yòu wèn, yuē: \"Wèi yě, yóu yìng xiàng yǐng.\" Shí rì yòu wèn, yuē: \"Wèi yě, yóu jí shì ér shèng qì.\" Shí rì yòu wèn, yuē: \"Jī yǐ. Jī suī yǒu míng zhě, yǐ wú biàn yǐ, wàng zhī sì mù jī yǐ, qí dé quán yǐ, yì jī wú gǎn yìng zhě, fǎn zǒu yǐ.\"","content_han_viet":"Kỷ Sảnh tử vi vương dưỡng đấu kê. Thập nhật nhi vấn: “Kê dĩ hồ?” Viết: “Vị dã, phương hư kiêu nhi thị khí.” Thập nhật hựu vấn, viết: “Vị dã, do ứng hướng cảnh.” Thập nhật hựu vấn, viết: “Vị dã, do tật thị nhi thịnh khí.” Thập nhật hựu vấn, viết: “Cơ hĩ. Kê tuy hữu minh giả, dĩ vô biến hĩ, vọng chi tự mộc kê hĩ, kỳ đức toàn hĩ, dị kê vô cảm ứng giả, phản tẩu hĩ.”","content_vi":"Vua Tuyên Vương sai Kỷ Sảnh nuôi một con gà chọi.\n\nĐược mười hôm, vua hỏi:\n\nGà đã đem chọi được chưa?\n\nKỷ Sảnh thưa:\n\nChưa được, gà hăng lắm, chưa thấy gà khác đã muốn chọi rồi.\n\nCách mười hôm, vua hỏi:\n\nGà đã đem chọi được chưa?\n\nKỷ Sảnh thưa:\n\nChưa được, gà còn hăng, mới thấy bóng gà khác đã muốn chọi rồi.\n\nCách mười hôm, vua lại hỏi:\n\nGà đã chọi được chưa?\n\nKỷ Sảnh thưa:\n\nChưa được, gà còn hơi hăng, trông thấy gà khác đã muốn chọi rồi.\n\nMười hôm sau, vua lại hỏi:\n\nGà đã đem chọi được chưa?\n\nKỷ Sảnh thưa:\n\nĐược rồi, gà bây giờ cho nghe thấy tiếng gà khác cũng không cho vào đâu.\n\nTrông thì tựa như gà gỗ, mà thực thì đủ các ngòn hay. Gà khác coi cũng đủ sợ, phải lùi chạy.","loi_ban_vi":":\n\n1. Chưa trông thấy gà khác đã muốn chọi thế tức khĩ hão chớ vì tất chọi mà đã được.\n\n2. Trông thấy bóng gà khác đã muốn chọi thế là cậy khỏe chớ vị tất chọi mà đã được.\n\n3. Trông thực thấy gà khác đã muốn chọi thế là còn hiều thắng chớ vị tất chọi mà đã được.\n\nChỉ đến lúc mất hết tất cả tức khí, cậy khỏe, hiếu thắng, luyện đã được hình toàn thần toàn đủ hết cả ngón hay, mà trông bề ngoài trơ ra như gỗ, là lúc ấy mới chọi được, có khi không phải đợi chọi, gà khác ngó thấy cũng đủ sợ mà trốn chạy rồi. Thế mới hay những bậc thánh hiến chỉ thu cái tài vào khuôn phép nén cái khí vào tâm thần, chỉ cốt trong mình cho đầy đủ, không có ý gì tranh cạnh với ai, mà thiên hạ hồ dễ ai cạnh tranh nổi. Chớ những kẻ chỉ vụ bề ngoài, chăm chăm danh lợi, có tranh giành mới lấy làm vui lòng, có tham lam mới lấy làm mãn nguyện, còn là những hạng tầm thường, có khi hại đến thân mà vẫn tự đắc cho là phải.","giai_nghia":[":","Tuyên Vương: đây là Tuyên Vương nước Tề","Gà gỗ: chữ là Mộc Kê. Các nhà làm văn hay dùng hai chữ ấy để khen những bậc học tập, tu dưỡng được hoàn toàn, không có gì bộc lộ ra ngoài.","纪渻子 (Jǐ Shěngzǐ / Kỷ Sảnh tử): Tên người, chuyên gia nuôi gà chọi cho vua Tuyên Vương nước Tề.","虚憍而恃气 (xū jiāo ér shì qì / hư kiêu nhi thị khí): Hưng phấn hão huyền, cậy vào khí lực.","犹应向景 (yóu yìng xiàng yǐng / do ứng hướng cảnh): Còn phản ứng với tiếng vang và bóng dáng, ý nói còn bị kích động bởi những thứ bên ngoài.","疾视而盛气 (jí shì ér shèng qì / tật thị nhi thịnh khí): Trừng mắt nhìn, đầy vẻ hung hăng, hiếu chiến.","木鸡 (mù jī / mộc kê): Con gà bằng gỗ. Hình ảnh ẩn dụ cho trạng thái đạt đến cảnh giới cao nhất: trông như vô tri nhưng thực chất đã đạt đến sự toàn diện về đức hạnh và năng lực.","其德全矣 (qí dé quán yǐ / kỳ đức toàn hĩ): Đức hạnh của nó đã hoàn toàn, ý chỉ sự tu dưỡng nội tại đã đạt đến mức viên mãn."],"tags":["Trang Tử","Ngụ ngôn","Tu dưỡng","Nội hàm","Chiến Quốc"]},{"id":96,"title_vi":"DÙNG CHÓ BẮT CHUỘT","title_zh_simp":"狗乃取鼠","title_zh_trad":"狗乃取鼠","title_pinyin":"Gǒu nǎi qǔ shǔ","title_han_viet":"CẨU NÃI THỦ THỬ","title_en":"The Dog That Caught Mice","source_book":"《吕氏春秋·士容》","source_author":"Lã Bất Vi","source_period":"Tần Triều","content_zh_simp":"齐有善相狗者，其邻假以买取鼠之狗。期年乃得之，曰：“是良狗也。”其邻畜之数年，而不取鼠，以告相者。相者曰：“此良狗也。其志在獐麋豕鹿，不在鼠。欲其取鼠也则桎之。”其邻桎其后足，狗乃取鼠。","content_zh_trad":"齊有善相狗者，其鄰假以買取鼠之狗。期年乃得之，曰：“是良狗也。”其鄰畜之數年，而不取鼠，以告相者。相者曰：“此良狗也。其誌在獐麋豕鹿，不在鼠。欲其取鼠也則桎之。”其鄰桎其後足，狗乃取鼠。","content_pinyin":"Qí yǒu shàn xiàng gǒu zhě, qí lín jiǎ yǐ mǎi qǔ shǔ zhī gǒu. Jī nián nǎi dé zhī, yuē: \"Shì liáng gǒu yě.\" Qí lín chù zhī shù nián, ér bù qǔ shǔ, yǐ gào xiàng zhě. Xiàng zhě yuē: \"Cǐ liáng gǒu yě. Qí zhì zài zhāng mí shǐ lù, bù zài shǔ. Yù qí qǔ shǔ yě zé zhì zhī.\" Qí lín zhì qí hòu zú, gǒu nǎi qǔ shǔ.","content_han_viet":"Tề hữu thiện tướng cẩu giả, kỳ lân giả dĩ mãi thủ thử chi cẩu. Cơ niên nãi đắc chi, viết: “Thị lương cẩu dã.” Kỳ lân súc chi sổ niên, nhi bất thủ thử, dĩ cáo tướng giả. Tướng giả viết: “Thử lương cẩu dã. Kỳ chí tại chương mi thỉ lộc, bất tại thử. Dục kỳ thủ thử dã tắc chất chi.” Kỳ lân chất kỳ hậu túc, cẩu nãi thủ thử.","content_vi":"Nước Tề có người xem tướng chó giỏi. Nhà láng giềng nhờ mua một con chó hay bắt chuột. Một năm trời anh ta mới mua được, bảo nhà láng giếng:\n\n“Con chó này tốt đấy”\n\nNhà láng giềng nuôi chó mấy năm mà không thấy nó bắt chuột, mới nói chuyện với anh ta. Anh ta bảo: “Con chó tốt lắm đấy. Nhưng cái chí nó chăm bắt hươu nai, cầy, cáo chớ không muốn bắt chuột. Bây giờ muốn nó bắt chuột thì phải cùm chân nó lại.”\n\nNhà láng giềng làm theo như thế, quả sau con chó hay bắt chuột.","loi_ban_vi":": con chó trước không bắt chuột, là vì nó có tài bắt những hươu nai, không thèm bắt chuột. Sau nó bắt chuột, là vì người ta đã cùm chân, hãm cái tài nó lại, không cho chạy nhanh quá. - Cốt ý bài ngụ ngôn này nói kẻ có đại tài mà đem dùng vào việc nhỏ thì không được việc. Muốn cho được việc, thì người dùng tất phải biết chế hạn cái tài ấy lại. Nên người có tài mà làm được việc hay không làm được việc là cốt ở người biết dùng hay không biết dùng mà thôi. Nhưng muốn cho người có cái tài to làm việc nhỏ thì phải làm cho mất cái tài to đi đã, thì chẳng đáng tiếc cho người có tài mà chẳng gặp được tri kỷ lắm ru !","giai_nghia":["相狗 (xiàng gǒu / tướng cẩu): Xem tướng, đánh giá phẩm chất của chó.","期年 (jī nián / cơ niên): Trọn một năm.","獐麋豕鹿 (zhāng mí shǐ lù / chương mi thỉ lộc): Các loài thú lớn như chương, nai, lợn rừng, hươu. Ý chỉ mục tiêu lớn lao.","桎 (zhì / chất): Cùm, trói chân. Ở đây chỉ việc hạn chế khả năng của con chó.","士容 (Shì róng / Sĩ dung): Tên thiên trong sách, nói về phong thái, khí độ của kẻ sĩ."],"tags":["Lã Thị Xuân Thu","Ngụ ngôn","Dụng nhân","Tài năng","Tần Triều"]},{"id":97,"title_vi":"LỜI NGƯỜI BÁN CAM","title_zh_simp":"卖柑者言","title_zh_trad":"賣柑者言","title_pinyin":"Mài gān zhě yán","title_han_viet":"MẠI CAM GIẢ NGÔN","title_en":"The Words of the Orange Seller","source_book":"《郁离子》","source_author":"Lưu Cơ (劉基)","source_period":"Nhà Minh (明朝)","content_zh_simp":"杭有卖果者，善藏柑，涉寒暑不溃，出之烨然，玉质而金色。置于市，贾十倍，人争鬻之。予贸得其一，剖之，如有烟扑口鼻，视其中，则干若败絮。予怪而问之曰：“若所市于人者，将以实笾豆，奉祭祀，供宾客乎？将炫外以惑愚瞽也？甚矣哉，为欺也！”卖者笑曰：“吾业是有年矣，吾赖是以食吾躯。吾售之，人取之，未尝有言，而独不足子所乎？世之为欺者不寡矣，而独我也乎？吾子未之思也。今夫佩虎符、坐皋比者，洸洸乎干城之具也，果能授孙、吴之略耶？峨大冠、拖长绅者，昂昂乎庙堂之器也，果能建伊、皋之业耶？盗起而不知御，民困而不知救，吏奸而不知禁，法斁而不知理，坐糜廪粟而不知耻。观其坐高堂，骑大马，醉醇醴而饫肥鲜者，孰不巍巍乎可畏，赫赫乎可象也？又何往而不金玉其外，败絮其中也哉？今子是之不察，而以察吾柑！”予默默无以应。退而思其言，类东方生滑稽之流。岂其愤世疾邪者耶？而托于柑以讽耶？","content_zh_trad":"杭有賣果者，善藏柑，涉寒暑不潰，出之燁然，玉質而金色。置於市，賈十倍，人爭鬻之。予貿得其一，剖之，如有煙撲口鼻，視其中，則乾若敗絮。予怪而問之曰：“若所市於人者，將以實籩豆，奉祭祀，供賓客乎？將炫外以惑愚瞽也？甚矣哉，為欺也！”賣者笑曰：“吾業是有年矣，吾賴是以食吾軀。吾售之，人取之，未嘗有言，而獨不足子所乎？世之為欺者不寡矣，而獨我也乎？吾子未之思也。今夫佩虎符、坐皋比者，洸洸乎干城之具也，果能授孫、吳之略耶？峨大冠、拖長紳者，昂昂乎廟堂之器也，果能建伊、皋之業耶？盜起而不知禦，民困而不知救，吏奸而不知禁，法斁而不知理，坐糜廩粟而不知恥。觀其坐高堂，騎大馬，醉醇醴而飫肥鮮者，孰不巍巍乎可畏，赫赫乎可象也？又何往而不金玉其外，敗絮其中也哉？今子是之不察，而以察吾柑！”予默默無以應。退而思其言，類東方生滑稽之流。豈其憤世疾邪者耶？而託於柑以諷耶？","content_pinyin":"Háng yǒu mài guǒ zhě, shàn cáng gān, shè hán shǔ bù kuì, chū zhī yè rán, yù zhì ér jīn sè. Zhì yú shì, jiǎ shí bèi, rén zhēng yù zhī. Yǔ mào dé qí yī, pōu zhī, rú yǒu yān pū kǒu bí, shì qí zhōng, zé gān ruò bài xù. Yǔ guài ér wèn zhī yuē: \"Ruò suǒ shì yú rén zhě, jiāng yǐ shí biān dòu, fèng jì sì, gōng bīn kè hū? Jiāng xuàn wài yǐ huò yú gǔ yě? Shén yǐ zāi, wéi qī yě!\" Mài zhě xiào yuē: \"Wú yè shì yǒu nián yǐ, wú lài shì yǐ shí wú qū. Wú shòu zhī, rén qǔ zhī, wèi cháng yǒu yán, ér dú bù zú zǐ suǒ hū? Shì zhī wéi qī zhě bù guǎ yǐ, ér dú wǒ yě hū? Wú zǐ wèi zhī sī yě. Jīn fū pèi hǔ fú, zuò gāo bǐ zhě, guāng guāng hū gān chéng zhī jù yě, guǒ néng shòu Sūn, Wú zhī lüè yé? É dà guān, tuō cháng shēn zhě, áng áng hū miào táng zhī qì yě, guǒ néng jiàn Yī, Gāo zhī yè yé? Dào qǐ ér bù zhī yù, mín kùn ér bù zhī jiù, lì jiān ér bù zhī jìn, fǎ dù ér bù zhī lǐ, zuò mí lǐn sù ér bù zhī chǐ. Guān qí zuò gāo táng, qí dà mǎ, zuì chún lǐ ér yù féi xiān zhě, shú bù wēi wēi hū kě wèi, hè hè hū kě xiàng yě? Yòu hé wǎng ér bù jīn yù qí wài, bài xù qí zhōng yě zāi? Jīn zǐ shì zhī bù chá, ér yǐ chá wú gān!\" Yǔ mò mò wú yǐ yīng. Tuì ér sī qí yán, lèi Dōngfāng Shēng huá jī zhī liú. Qǐ qí fèn shì jí xié zhě yé? Ér tuō yú gān yǐ fěng yé?","content_han_viet":"Hàng hữu mại quả giả, thiện tàng cam, thiệp hàn thử bất hội, xuất chi diệp nhiên, ngọc chất nhi kim sắc. Trí vu thị, giả thập bội, nhân tranh dục chi. Dư mậu đắc kỳ nhất, phẫu chi, như hữu yên phác khẩu tị, thị kỳ trung, tắc can nhược bại nhứ. Dư quái nhi vấn chi viết: “Nhược sở thị vu nhân giả, tương dĩ thực biên đậu, phụng tế tự, cung tân khách hồ? Tương huyễn ngoại dĩ hoặc ngu cổ dã? Thậm hĩ tai, vi khi dã!” Mại giả tiếu viết: “Ngô nghiệp thị hữu niên hĩ, ngô lại thị dĩ thực ngô khu. Ngô thụ chi, nhân thủ chi, vị thường hữu ngôn, nhi độc bất túc tử sở hồ? Thế chi vi khi giả bất quả hĩ, nhi độc ngã dã hồ? Ngô tử vị chi tư dã. Kim phu bội hổ phù, tọa cao tỉ giả, quang quang hồ can thành chi cụ dã, quả năng thụ Tôn, Ngô chi lược da? Nga đại quan, thác trường thân giả, ngang ngang hồ miếu đường chi khí dã, quả năng kiến Y, Cao chi nghiệp da? Đạo khởi nhi bất tri ngự, dân khốn nhi bất tri cứu, lại gian nhi bất tri cấm, pháp độ nhi bất tri lý, tọa mi lẫm túc nhi bất tri sỉ. Quan kỳ tọa cao đường, kỵ đại mã, túy thuần lễ nhi ứ phì tiên giả, thục bất nguy nguy hồ khả úy, hách hách hồ khả tượng dã? Hựu hà vãng nhi bất kim ngọc kỳ ngoại, bại nhứ kỳ trung dã tai? Kim tử thị chi bất sát, nhi dĩ sát ngô cam!” Dư mặc mặc vô dĩ ứng. Thoái nhi tư kỳ ngôn, loại Đông Phương Sinh hoạt kê chi lưu. Khởi kỳ phẫn thế tật tà giả da? Nhi thác vu cam dĩ phúng da?","content_vi":"Ở Hàng Châu có người bán các thứ quả, khéo để dành cam, lâu mà không úng, vỏ vẫn đỏ hồng, trông đẹp như vàng, như ngọc, đem ra chợ bán giá đắt, mà người ta tranh nhau mua. Ta cũng mua một quả. Đem về, bóc ra, hơi xông lên mũi, múi xác như bông nát. Ta liền đem ra chợ hỏi người bán cam:\n\nAnh bán cam cho người ta để làm của cúng lễ, đãi tân khách hay là chỉ làm cho choáng bề ngoài để đánh lừa người ta? Tệ thật! Anh giả dối lắm!\n\nNgười bán cam cười nói:\n\nTôi làm nghề này đã lâu năm để kiếm tiền nuôi thân. Tôi bán, người ta mua, chẳng ai nói gì, chỉ có ông là kêu ca. Thiên hạ giả dối nhiều, chẳng phải gì một mình tôi? Ông thật không chịu nghĩ đến nơi.. Này thử xem, người đeo hổ phù, ngồi da hổ, hùng dũng trông ra dáng quan võ lắm kỳ thực không biết có giỏi được như Tôn Tẫn, Ngô Khởi hay không? Người đội mũ cao, đóng đai dải, đường hoàng trông ra dáng quan văn lắm, kỳ thực không biết có giỏi như Y Doãn, Cao Dao không? Giặc nổi không biết dẹp, dân khổ không biết cứu, quan lại tham nhũng không biết trừng trị, pháp độ hỏng nát không biết sửa đổi, ngồi không ăn lương, không biết xấu hổ. Thế mà lúc ngồi công đường, đi xe ngựa, uống rượu ngon, ăn của quy, oai vệ, hách dịch vô cung!..\n\nĐó bề ngoài chẳng như vàng, như ngọc, mà bên trong chẳng như bông nát là gì? Ông không chịu xét những hạng người ấy mà đi xét quả cam của tôi!\n\nTa nghe nói thế, nín lặng, không trả lời được ra làm sao. Ta nghĩ người ấy ghét kẻ gian tà, giận phường thế tục mới thác ra chuyện bán cam để dạy người đời chăng?\n\nLưu Cơ","loi_ban_vi":": Người bán cam đây chẳng qua chính là tác giả. Mà cốt ý của tác giả là muốn lấy quả cam đẹp vỏ, thối ruột mà bóc cả cái hách dịch oai vệ bề ngoài của những bậc quan lớn một đời suy đốn, để phơi bày cái thực tình bất tài, bất tri, bất dũng ở bên trong. Nói rộng ra, bài này có ý dạy ta không nên tin bề ngoài, cũng như những bài ngụ ngôn nói: cái thùng không, bông lúa lép hay những câu ca dao:\n\nTrông em, anh ngỡ sao mai, biết rằng trong có như ngoài hay không.\n\nNhác trông ngỡ tượng tô vàng, nhìn ra mời biết chẫu chàng ngày mưa Thật là có ý vị.","giai_nghia":["Hàng Châu: tên một phủ tức tỉnh lỵ Chiết Giang bây giờ","Tôn Tẩn, Ngô Khải: hai người làm tướng võ giỏi thời Chiến quốc Y Doãn tướng giỏi đời vua Thang nhà Thương Cao Dao tướng giỏi thời vua Nghiêu vua Thuấn","虎符 (hổ phù): Military tally in the shape of a tiger, used in ancient China to mobilize troops, symbolizing military authority.","皋比 (cao tỉ): A tiger-skin rug, often used as a seat for a military commander or a lecturer, symbolizing martial command.","孙吴 (Tôn Ngô): Refers to Sun Tzu (孙武) and Wu Qi (吴起), famous ancient Chinese military strategists.","伊皋 (Y Cao): Refers to Yi Yin (伊尹), a famous prime minister of the Shang Dynasty, and Gao Yao (皋陶), a virtuous minister of the legendary Emperor Shun, symbolizing exemplary civil officials.","东方生 (Đông Phương Sinh): Refers to Dongfang Shuo (東方朔), a famous courtier and wit of the Han Dynasty known for his satirical and humorous admonitions.","败絮 (bại nhứ): Rotten cotton wadding, a metaphor for something that is worthless or corrupt inside."],"tags":["Ngụ ngôn","Châm biếm","Xã hội","Lưu Cơ","Minh triều"]},{"id":98,"title_vi":"VỢ CHỒNG NGƯỜI NƯỚC TỀ","title_zh_simp":"齐人有一妻一妾","title_zh_trad":"齊人有一妻一妾","title_pinyin":"Qí rén yǒu yī qī yī qiè","title_han_viet":"TỀ NHÂN HỮU NHẤT THÊ NHẤT THIẾP","title_en":"The Man of Qi with a Wife and a Concubine","source_book":"《孟子·离娄下》","source_author":"Mạnh Tử (孟子)","source_period":"Chiến Quốc (战国)","content_zh_simp":"齐人有一妻一妾而处室者，其良人出，则必餍酒肉而后反。其妻问所与饮食者，则尽富贵也。其妻告其妾曰：“良人出，则必餍酒肉而后反；问其与饮食者，尽富贵也，而未尝有显者来，吾将瞷良人之所之也。”蚤起，施从良人之所之，遍国中无与立谈者。卒之东郭墦间，之祭者，乞其余；不足，又顾而之他——此其为餍足之道也。其妻归，告其妾，曰：“良人者，所仰望而终身也，今若此。”与其妾讪其良人，而相泣于中庭，而良人未之知也，施施从外来，骄其妻妾。由君子观之，则人之所以求富贵利达者，其妻妾不羞也，而不相泣者，几希矣。","content_zh_trad":"齊人有一妻一妾而處室者，其良人出，則必饜酒肉而後反。其妻問所與飲食者，則盡富貴也。其妻告其妾曰：“良人出，則必饜酒肉而後反；問其與飲食者，盡富貴也，而未嘗有顯者來，吾將瞷良人之所之也。”蚤起，施從良人之所之，遍國中無與立談者。卒之東郭墦間，之祭者，乞其餘；不足，又顧而之他——此其為饜足之道也。其妻歸，告其妾，曰：“良人者，所仰望而終身也，今若此。”與其妾訕其良人，而相泣於中庭，而良人未之知也，施施從外來，驕其妻妾。由君子觀之，則人之所以求富貴利達者，其妻妾不羞也，而不相泣者，幾希矣。","content_pinyin":"Qí rén yǒu yī qī yī qiè ér chù shì zhě, qí liáng rén chū, zé bì yàn jiǔ ròu ér hòu fǎn. Qí qī wèn suǒ yǔ yǐn shí zhě, zé jǐn fù guì yě. Qí qī gào qí qiè yuē: \"Liáng rén chū, zé bì yàn jiǔ ròu ér hòu fǎn; wèn qí yǔ yǐn shí zhě, jǐn fù guì yě, ér wèi cháng yǒu xiǎn zhě lái, wú jiāng jiàn liáng rén zhī suǒ zhī yě.\" Zǎo qǐ, yì cóng liáng rén zhī suǒ zhī, biàn guó zhōng wú yǔ lì tán zhě. Zú zhī dōng guō fán jiān, zhī jì zhě, qǐ qí yú; bù zú, yòu gù ér zhī tā——cǐ qí wéi yàn zú zhī dào yě. Qí qī guī, gào qí qiè, yuē: \"Liáng rén zhě, suǒ yǎng wàng ér zhōng shēn yě, jīn ruò cǐ.\" Yǔ qí qiè shàn qí liáng rén, ér xiāng qì yú zhōng tíng, ér liáng rén wèi zhī zhī yě, shī shī cóng wài lái, jiāo qí qī qiè. Yóu jūn zǐ guān zhī, zé rén zhī suǒ yǐ qiú fù guì lì dá zhě, qí qī qiè bù xiū yě, ér bù xiāng qì zhě, jǐ xī yǐ.","content_han_viet":"Tề nhân hữu nhất thê nhất thiếp nhi xử thất giả, kỳ lương nhân xuất, tắc tất yếm tửu nhục nhi hậu phản. Kỳ thê vấn sở dữ ẩm thực giả, tắc tận phú quý dã. Kỳ thê cáo kỳ thiếp viết: “Lương nhân xuất, tắc tất yếm tửu nhục nhi hậu phản; vấn kỳ dữ ẩm thực giả, tận phú quý dã, nhi vị thường hữu hiển giả lai, ngô tương gián lương nhân chi sở chi dã.” Tảo khởi, thí tòng lương nhân chi sở chi, biến quốc trung vô dữ lập đàm giả. Tốt chi Đông Quách phàn gian, chi tế giả, khất kỳ dư; bất túc, hựu cố nhi chi tha——thử kỳ vi yếm túc chi đạo dã. Kỳ thê quy, cáo kỳ thiếp, viết: “Lương nhân giả, sở ngưỡng vọng nhi chung thân dã, kim nhược thử.” Dữ kỳ thiếp san kỳ lương nhân, nhi tương khấp vu trung đình, nhi lương nhân vị chi tri dã, thi thi tòng ngoại lai, kiêu kỳ thê thiếp. Do quân tử quan chi, tắc nhân chi sở dĩ cầu phú quý lợi đạt giả, kỳ thê thiếp bất tu dã, nhi bất tương khấp giả, cơ hi hĩ.","content_vi":"Người nước Tề có hai vợ, vợ cả và vợ lẽ. Ngày ngày, chồng cứ sáng ra đi, tối đến mới về, mà hôm nào về cũng no say phè phỡn. Hai vợ thường hỏi:\n\n“Đi ăn với ai mà đi luôn thế?”\n\nAnh ta nói: “Ta đi ăn với toàn những bậc giàu có, sang trọng cả”.\n\nMột hôm, vợ cả bảo vợ bé: “Chồng ta chơi bời toàn những bậc giàu sang , mà sao không thấy một người nào giàu sang đến chơi nhà nhỉ? Ta thử dò xem chồng ta đi những đâu và chơi với những ai”.\n\nHôm sau, vợ cả dậy sớm, lẻn đi theo chồng. Đi cùng làng này, xóm khác, chẳng thấy một người nào dừng lại nói chuyện với chồng mình cả. Khi đi đến phía đông ngoại thành, thấy có đám cất mả, người ta đang tế lễ, ăn uống, đã thấy chồng lật đật lại đấy, xin những cơm thừa canh cặn, ăn lấy ăn để. Ăn xong, lại ngong ngóng đi chỗ khác.\n\nBấy giờ chị ta mỡi rõ cái cách chồng ngày ngày ăn uống no say là thế, tủi thẹn vô cùng, ngậm ngùi trở về; kể chuyện cho vợ bé nghe, rồi than rằng:\n\n“Chồng là người trông cậy suốt đời, ai ngờ chị em ta lại gặp phải một người chồng đê mạt quá đến như thế!”. Nói đoạn, hai người ngồi trông nhau giữa sân sụt sùi khóc. Ngay lúc đấy anh chồng ngất ngưởng ở đâu về, vẫn ra bộ làm kiêu với hai vợ như những hôm trước.\n\nÔi! Đem con mắt tinh đời mà coi, thì ngày nay những kẻ cầu công danh phú quí hồ dễ không mấy kẻ mà ở nhà vợ cả vợ lẽ không thẹn không tủi, không ngấm ngầm khóc với nhau như hai vợ người nước Tề này!","loi_ban_vi":"Lấy đức, lấy tài, lấy học thức đường đường chính chính mà được công danh phú quí thì còn gì bằng. Nhưng nịnh nọt, luồn cúi, làm những việc đê hạ, mất cả phẩm giá con người, để chen chúc vào đám công danh để cầu lấy chút phú quí, thì tưởng không còn gì đáng khinh hơn nữa! Thế mà đến lúc được công danh phú quí, lại còn vác mặt làm cao, ra dáng hách dịch, thiên hạ người ta biết ta, thì còn ai cho vào đâu nữa! Tưởng rằng khuất một người để đẻ muôn nghìn người, nhưng người ta có e lệ bề ngoài, trong bụng người ta cũng không sao trọng được. Thầy Mạnh Tử đặt ra câu chuyện người nước Tề này thật là phơi bày được cái xấu xa của những kẻ quen thói cầu công danh phú quí “hôn dạ khất ai, kiêu nhân bạch nhật” (đêm khuya van lạy, ban ngày vênh váo khinh người) vào những thời buổi mạc tục vậy.","giai_nghia":["Mạnh Tử: tên là Kha, lúc nhỏ được mẹ hiền dạy bảo, lúc lớn theo học thầy Tử Tư, lúc học hành, đi du lịch các nước Chư hầu. Về sau biết đạo thông hành, cùng làm sách với học trò là Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương. Đời sau nhặt những câu Mạnh Tử đối đáp với học trò và vua các nước Chư hầu làm quyển Mạnh Tử, bảy thiên.","良人 (lương nhân): An ancient term for 'husband'.","墦间 (phàn gian): The area between graves in a cemetery, referring to the burial grounds outside the city wall.","施施 (thi thi): A description of a swaggering, self-satisfied walk.","餍足 (yếm túc): To be fully satisfied, especially with food and drink.","瞷 (gián): To spy on, to watch secretly.","讪 (san): To mock, to revile, to slander."],"tags":["Ngụ ngôn","Đạo đức","Xã hội","Mạnh Tử","Chiến Quốc"]},{"id":99,"title_vi":"ĐẦY THÌ ĐỔ","title_zh_simp":"满则覆","title_zh_trad":"滿則覆","title_pinyin":"Mǎn zé fù","title_han_viet":"MÃN TẮC PHÚC","title_en":"When Full, It Topples","source_book":"《荀子·宥坐》","source_author":"Tuân Tử (荀子)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"孔子观于鲁桓公之庙，有欹器焉。孔子问于守庙者曰：“此为何器？”守庙者曰：“此盖为宥坐之器。”孔子曰：“吾闻宥坐之器者，虚则欹，中则正，满则覆。”顾谓弟子曰：“注水焉。”弟子挹水而注之。中而正，满而覆，虚而欹。孔子喟然而叹曰：“吁！恶有满而不覆者哉！”子路曰：“敢问持满有道乎？”孔子曰：“聪明圣知，守之以愚；功被天下，守之以让；勇力抚世，守之以怯；富有四海，守之以谦。此所谓挹而损之之道也。”","content_zh_trad":"孔子觀於魯桓公之廟，有欹器焉。孔子問於守廟者曰：“此為何器？”守廟者曰：“此蓋為宥坐之器。”孔子曰：“吾聞宥坐之器者，虛則欹，中則正，滿則覆。”顧謂弟子曰：“注水焉。”弟子挹水而注之。中而正，滿而覆，虛而欹。孔子喟然而嘆曰：“籲！惡有滿而不覆者哉！”子路曰：“敢問持滿有道乎？”孔子曰：“聰明聖知，守之以愚；功被天下，守之以讓；勇力撫世，守之以怯；富有四海，守之以謙。此所謂挹而損之之道也。”","content_pinyin":"Kǒngzǐ guān yú Lǔ Huán Gōng zhī miào, yǒu qī qì yān. Kǒngzǐ wèn yú shǒu miào zhě yuē: “Cǐ wèi hé qì?” Shǒu miào zhě yuē: “Cǐ gài wèi yòu zuò zhī qì.” Kǒngzǐ yuē: “Wú wén yòu zuò zhī qì zhě, xū zé qī, zhōng zé zhèng, mǎn zé fù.” Gù wèi dìzǐ yuē: “Zhù shuǐ yān.” Dìzǐ yì shuǐ ér zhù zhī. Zhōng ér zhèng, mǎn ér fù, xū ér qī. Kǒngzǐ kuì rán ér tàn yuē: “Yù! Wū yǒu mǎn ér bù fù zhě zāi!” Zǐlù yuē: “Gǎn wèn chí mǎn yǒu dào hū?” Kǒngzǐ yuē: “Cōngmíng shèng zhì, shǒu zhī yǐ yú; gōng bèi tiānxià, shǒu zhī yǐ ràng; yǒnglì fǔ shì, shǒu zhī yǐ qiè; fù yǒu sìhǎi, shǒu zhī yǐ qiān. Cǐ suǒwèi yì ér sǔn zhī dào yě.”","content_han_viet":"Khổng Tử quan vu Lỗ Hoàn Công chi miếu, hữu khi khí yên. Khổng Tử vấn vu thủ miếu giả viết: “Thử vị hà khí?” Thủ miếu giả viết: “Thử cái vị hữu tọa chi khí.” Khổng Tử viết: “Ngô văn hữu tọa chi khí giả, hư tắc nghiêng, trung tắc chính, mãn tắc phúc.” Cố vị đệ tử viết: “Chú thủy yên.” Đệ tử ấp thủy nhi chú chi. Trung nhi chính, mãn nhi phúc, hư nhi nghiêng. Khổng Tử quội nhiên nhi thán viết: “Du! Ố hữu mãn nhi bất phúc giả tai!” Tử Lộ viết: “Cảm vấn trì mãn hữu đạo hồ?” Khổng Tử viết: “Thông minh thánh trí, thủ chi dĩ ngu; công bị thiên hạ, thủ chi dĩ nhượng; dũng lực phủ thế, thủ chi dĩ khiếp; phú hữu tứ hải, thủ chi dĩ khiêm. Thử sở vị ấp nhi tổn chi đạo dã.”","content_vi":"Đức Khổng Tử vào xem miếu Hoàn Công nước Lỗ, có một cái lọ dựng nghiêng. Ngài hỏi người coi miếu. Người này nói rằng:\n\n“Đó là một vật quí của nhà vua thường để bên chỗ ngồi chơi để làm gương.”\n\nĐức Khổng Tử nói: “Ta nghe nói nhà vua có vật quí để làm gương, vật đó bỏ không thì đứng nghiêng, đổ nước vừa vặn thì đứng ngay, mà đầy quá thì lại đổ, có lẽ vật này chăng.”\n\nNgài bèn sai học trò đổ nước vào. Quả nhiên nước đổ vừa thì lọ đứng ngay; nước đổ đầy thì lọ đổ; bỏ không thì lọ lại đứng nghiêng. Ngài chép miệng than rằng: Hỡi ôi! Ở đời chẳng có cái gì đầy mà không đổ!\n\nThầy Tăng Tử nói: Dám hỏi có cách gì giữ cho đầy mà không đổ không?\n\nNgài nói: Thông minh thánh trí nên giữ bằng cách ngu độn, công lao to lớn thiên hạ nên giữ bằng cách khiêm cung; sức khỏe hơn đời nên giữ bằng tính nhút nhát; giàu có bốn bể nên giữ bằng thói nhún nhường. Đó là cách đổ bớt đi để giữ cho khỏi quá đầy mà đổ.","loi_ban_vi":"Mặt trời đứng bóng rồi xế, mặt trăng tròn rồi lại khuyết; nhân sự cũng vậy, thăng rồi trầm, thịnh rồi suy, đó là luật tự nhiên khó mà tránh khỏi. Tuy vậy cứ theo lời dạy của Khổng Tử đây thì cũng có cách giữ được lâu dài mà không suy đổ. Cách ấy là “Hữu nhược vô, thực nhược hư” nghĩa là có mà như không, đầy đặc mà như trống rỗng.","giai_nghia":["欹器 (khi khí): Một loại đồ vật thời xưa, thường đặt bên phải chỗ ngồi của vua chúa để tự răn mình. Khi trống thì nghiêng, đổ nước vừa phải thì đứng thẳng, đổ đầy thì lật đổ.","宥坐 (hữu tọa): Ngồi bên cạnh, ý nói đặt bên cạnh chỗ ngồi để thường xuyên nhìn thấy mà cảnh giác.","挹而损之 (ấp nhi tổn chi): Múc bớt đi và làm giảm bớt đi, ý nói tự hạ mình, khiêm nhường để giữ sự bền vững."],"tags":["Triết lý nhân sinh","Khổng Tử","Khiêm nhường","Tuân Tử"]},{"id":100,"title_vi":"ÔNG LÃO BÁN DẦU","title_zh_simp":"卖油翁","title_zh_trad":"賣油翁","title_pinyin":"Mài yóu wēng","title_han_viet":"MẠI DU ÔNG","title_en":"The Old Oil Seller","source_book":"《欧阳文忠公文集·归田录》","source_author":"Âu Dương Tu (欧阳修)","source_period":"Bắc Tống","content_zh_simp":"陈康肃公尧咨善射，当世无双，公亦以此自矜。尝射于家圃，有卖油翁释担而立，睨之久而不去。见其发矢十中八九，但微颔之。康肃问曰：“汝亦知射乎？吾射不亦精乎？”翁曰：“无他，但手熟尔。”康肃忿然曰：“尔安敢轻吾射！”翁曰：“以我酌油知之。”乃取一葫芦置于地，以钱覆其口，徐以杓酌油沥之，自钱孔入，而钱不湿。因曰：“我亦无他，惟手熟尔。”康肃笑而遣之。","content_zh_trad":"陳康肅公堯咨善射，當世無雙，公亦以此自矜。嘗射於家圃，有賣油翁釋擔而立，睨之久而不去。見其發矢十中八九，但微頷之。康肅問曰：“汝亦知射乎？吾射不亦精乎？”翁曰：“無他，但手熟爾。”康肅忿然曰：“爾安敢輕吾射！”翁曰：“以我酌油知之。”乃取一葫蘆置於地，以錢覆其口，徐以杓酌油瀝之，自錢孔入，而錢不濕。因曰：“我亦無他，惟手熟爾。”康肅笑而遣之。","content_pinyin":"Chén Kāngsù gōng Yáozī shàn shè, dāngshì wúshuāng, gōng yì yǐ cǐ zìjīn. Cháng shè yú jiā pǔ, yǒu mài yóu wēng shì dān ér lì, nì zhī jiǔ ér bù qù. Jiàn qí fā shǐ shí zhōng bājiǔ, dàn wēi hàn zhī. Kāngsù wèn yuē: “Rǔ yì zhī shè hū? Wú shè bù yì jīng hū?” Wēng yuē: “Wú tā, dàn shǒu shú ěr.” Kāngsù fèn rán yuē: “Ěr ān gǎn qīng wú shè!” Wēng yuē: “Yǐ wǒ zhuó yóu zhī zhī.” Nǎi qǔ yī húlu zhì yú dì, yǐ qián fù qí kǒu, xú yǐ sháo zhuó yóu lì zhī, zì qián kǒng rù, ér qián bù shī. Yīn yuē: “Wǒ yì wú tā, wéi shǒu shú ěr.” Kāngsù xiào ér qiǎn zhī.","content_han_viet":"Trần Khang Túc công Nghiêu Tư thiện xạ, đương thế vô song, công diệc dĩ thử tự căng. Thường xạ vu gia phố, hữu mại du ông thích đam nhi lập, nghệ chi cửu nhi bất khứ. Kiến kỳ phát thỉ thập trúng bát cửu, đãn vi hạm chi. Khang Túc vấn viết: “Nhữ diệc tri xạ hồ? Ngô xạ bất diệc tinh hồ?” Ông viết: “Vô tha, đãn thủ thục nhĩ.” Khang Túc phẫn nhiên viết: “Nhĩ an cảm khinh ngô xạ!” Ông viết: “Dĩ ngã chước du tri chi.” Nãi thủ nhất hồ lô trí vu địa, dĩ tiền phúc kỳ khẩu, từ dĩ chước chước du lịch chi, tự tiền khổng nhập, nhi tiền bất thấp. Nhân viết: “Ngã diệc vô tha, duy thủ thục nhĩ.” Khang Túc tiếu nhi khiển chi.","content_vi":"Ông Trần Nghiêu Tư làm quan đời nhà Tống, bắn cung giỏi có tiếng ở đời bấy giờ không ai bằng. Ông cũng lấy thế là kiêu căng.\n\nÔng thường bắn trong vườn nhà. Một hôm có ông lão bán dầu đi qua, đặt gánh xuống, ngấp nghé xem mãi. Ông lão thấy ông Nghiêu Tư bắn mười phát trúng được tám chín thì hơi gật gù mỉm cười. Nghiêu Tư gọi vào hỏi:\n\n“Nhà ngươi cũng biết bắn à? Ta bắn chưa được giỏi hay sao?”\n\nÔng lão nói: Chẳng phải giỏi gì cả. Chẳng qua là quen tay thôi.\n\nNghiên Tư giận lắm, bảo: À nhà ngươi giám khinh ta bắn không giỏi à?\n\nÔng lão nói: Cứ xem tôi rót dầu thì đủ biết.\n\nNói đoạn bèn lấy một cái bầu đặt xuống đất, để đồng tiền lên miệng, lấy cái môi từ từ rót dầu qua lỗ đồng tiền, mà không dây một tí dầu nào ra đồng tiền cả.\n\nRồi nói: Tôi cũng chẳng phải giỏi gì, chỉ quen tay mà thôi.\n\nNghiêu Tư cười chịu là phải.","loi_ban_vi":"Thiên hạ vạn sự, kỳ lý nhất dã. Xạ sự tinh chuẩn, chước du bất thấp, đều do luyện tập mà thành, chẳng có huyền bí nào khác. Người tài giỏi chớ nên kiêu căng, mà kẻ tầm thường cũng đừng tự ti, chỉ cần chuyên tâm nhất trí, luyện tập lâu ngày, ắt sẽ đạt tới cảnh giới tinh xảo. Học vấn, đạo đức cũng như vậy, không gì ngoài sự chuyên cần mà thôi.","giai_nghia":["Trần Triệu Tư: người đời nhà Tống, làm quan Tiết độ sứ là người có chí khí, viết tốt và bắn giỏi.","自矜 (tự căng): Tự khoe khoang, tự cho mình là giỏi.","睨之 (nghệ chi): Liếc nhìn, nhìn với ánh mắt coi thường hoặc không tập trung.","但手熟尔 (đãn thủ thục nhĩ): Chỉ là tay quen mà thôi. Câu này là câu kết luận quan trọng nhất của truyện, nêu bật triết lý về sự rèn luyện."],"tags":["Ngụ ngôn","Rèn luyện","Khiêm tốn","Âu Dương Tu"]},{"id":101,"title_vi":"GẶP QUỈ","title_zh_simp":"见鬼","title_zh_trad":"見鬼","title_pinyin":"Jiàn Guǐ","title_han_viet":"KIẾN QUỶ","title_en":"Encountering a Ghost","source_book":"《庄子·达生》","source_author":"庄周","source_period":"战国时期","content_zh_simp":"桓公田于泽，管仲御，见鬼焉。公抚管仲之手曰：“仲父何见？”对曰：“臣无所见。”公反，诶诒为病，数日不出。齐士有皇子告敖者曰：“公则自伤，鬼安能伤公！夫忿滀之气，散而不反，则为不足；上而不下，则使人善怒；下而不上，则使人善忘；不上不下，中身当心，则为病。”桓公曰：“然则有鬼乎？”曰：“有。沈有履，灶有髻。户内之烦壤，雷霆处之；东北方之下者，倍阿鲑蠪跃之；西北方之下者，则泆阳处之。水有罔象，丘有峷，山有夔，野有彷徨，泽有委蛇。”公曰：“请问，委蛇之状何如？”皇子曰：“委蛇，其大如毂，其长如辕，紫衣而朱冠。其为物也，恶闻雷车之声，则捧其首而立。见之者殆乎霸。”桓公辴然而笑曰：“此寡人之所见者也。”于是正衣冠与之坐，不终日而不知病之去也。","content_zh_trad":"桓公田於澤，管仲御，見鬼焉。公撫管仲之手曰：“仲父何見？”對曰：“臣無所見。”公反，誒詒為病，數日不出。齊士有皇子告敖者曰：“公則自傷，鬼安能傷公！夫忿滀之氣，散而不反，則為不足；上而不下，則使人善怒；下而不上，則使人善忘；不上不下，中身當心，則為病。”桓公曰：“然則有鬼乎？”曰：“有。沈有履，灶有髻。戶內之煩壤，雷霆處之；東北方之下者，倍阿鮭蠪躍之；西北方之下者，則泆陽處之。水有罔象，丘有峷，山有夔，野有彷徨，澤有委蛇。”公曰：“請問，委蛇之狀何如？”皇子曰：“委蛇，其大如轂，其長如轅，紫衣而朱冠。其為物也，惡聞雷車之聲，則捧其首而立。見之者殆乎霸。”桓公辴然而笑曰：“此寡人之所見者也。”於是正衣冠與之坐，不終日而不知病之去也。","content_pinyin":"Huán Gōng tián yú zé, Guǎn Zhòng yù, jiàn guǐ yān. Gōng fǔ Guǎn Zhòng zhī shǒu yuē: “Zhòngfù hé jiàn?” Duì yuē: “Chén wú suǒ jiàn.” Gōng fǎn, xī yí wéi bìng, shù rì bù chū. Qí shì yǒu Huángzǐ Gào'ào zhě yuē: “Gōng zé zì shāng, guǐ ān néng shāng gōng! Fū fèn chù zhī qì, sàn ér bù fǎn, zé wéi bùzú; shàng ér bù xià, zé shǐ rén shàn nù; xià ér bù shàng, zé shǐ rén shàn wàng; bù shàng bù xià, zhōng shēn dāng xīn, zé wéi bìng.” Huán Gōng yuē: “Ránzé yǒu guǐ hū?” Yuē: “Yǒu. Shěn yǒu lǚ, zào yǒu jì. Hù nèi zhī fán rǎng, léitíng chù zhī; dōngběi fāng zhī xià zhě, bèi ā guī lóng yuè zhī; xīběi fāng zhī xià zhě, zé yì yáng chù zhī. Shuǐ yǒu wǎngxiàng, qiū yǒu shēng, shān yǒu kuí, yě yǒu páng huáng, zé yǒu wēiyí.” Gōng yuē: “Qǐng wèn, wēiyí zhī zhuàng hé rú?” Huángzǐ yuē: “Wēiyí, qí dà rú gǔ, qí cháng rú yuán, zǐ yī ér zhū guān. Qí wéi wù yě, wù wén léi chē zhī shēng, zé pěng qí shǒu ér lì. Jiàn zhī zhě dài hū bà.” Huán Gōng zhěn rán ér xiào yuē: “Cǐ guǎrén zhī suǒ jiàn zhě yě.” Yúshì zhèng yīguān yǔ zhī zuò, bù zhōng rì ér bùzhī bìng zhī qù yě.","content_han_viet":"Hoàn Công điền vu trạch, Quản Trọng ngự, kiến quỷ yên. Công phủ Quản Trọng chi thủ viết: “Trọng phụ hà kiến?” Đối viết: “Thần vô sở kiến.” Công phản, hý di vi bệnh, sổ nhật bất xuất. Tề sĩ hữu Hoàng Tử Cáo Ngao giả viết: “Công tắc tự thương, quỷ an năng thương công! Phu phẫn súc chi khí, tán nhi bất phản, tắc vi bất túc; thượng nhi bất hạ, tắc sử nhân thiện nộ; hạ nhi bất thượng, tắc sử nhân thiện vong; bất thượng bất hạ, trung thân đương tâm, tắc vi bệnh.” Hoàn Công viết: “Nhiên tắc hữu quỷ hồ?” Viết: “Hữu. Thẩm hữu lý, táo hữu kế. Hộ nội chi phiền nhưỡng, lôi đình xử chi; đông bắc phương chi hạ giả, bội a quy lung dược chi; tây bắc phương chi hạ giả, tắc dật dương xử chi. Thủy hữu võng tượng, khâu hữu sanh, sơn hữu quỳ, dã hữu bàng hoàng, trạch hữu uy di.” Công viết: “Thỉnh vấn, uy di chi trạng hà như?” Hoàng Tử viết: “Uy di, kỳ đại như cốc, kỳ trường như viên, tử y nhi chu quan. Kỳ vi vật dã, ố văn lôi xa chi thanh, tắc bổng kỳ thủ nhi lập. Kiến chi giả đãi hồ bá.” Hoàn Công truy nhiên nhi tiếu viết: “Thử quả nhân chi sở kiến giả dã.” Vu thị chính y quan dữ chi tọa, bất chung nhật nhi bất tri bệnh chi khứ dã.","content_vi":"Hoàn Công nước Tề đi săn ngoài đầm có Quản Trọng theo hầu. Hoàn Công trông thấy quỉ, nắm tay Quản Trọng hỏi rằng:\n\n- Trọng phụ có thấy gì không?\n\nQuản Trọng thưa: Thần không thấy gì cả.\n\nHoàn Công về nghe trong người khó chịu, như là mất vía, rồi sinh ốm, mấy hôm không ra chầu.\n\nCó người học trò tên Cáo Ngao vào ra mắt nói rằng:\n\n- Nhà vua đau, là tự mình làm ra cả, chớ ma quỉ nào làm được! Phàm chưng khí tán mà không thu lại được, thì tinh thần suy yếu; cái khí ấy bốc lên trên không xuống được, thì làm cho người ta hay giận dữ, cái khí ấy tụ ở dưới không vận lên được thì làm cho người ta hay mê lú, chóng quên, cái khí ấy không lên không xuống, kết ở giữa bụng, thì sinh ra hoảng hốt.\n\nHoàn Công hỏi: Thế nhưng có quỷ thực không?\n\nCáo Ngao thưa: Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá, núi có Sơn Thần, bể có Long Vương, đầm có thứ quỷ gọi là Uy Di.\n\nHoàn Công hỏi hình dạng Uy Di thế nào?\n\nCáo Ngao thưa: Quỷ Uy Di to như cái cối xe, dài như cái càng xe, mặc áo tía, đội mũ đỏ, tính hay sợ tiếng sấm, tiếng xe, hễ nghe thấy thì đứng sững, hai tay ôm lấy đầu. Ai trông thấy, thì…rồi làm nên đến nghiệp Bá.\n\nHoàn Công vẫn có chí muốn làm Bá, nghe nói hớn hở cười rằng: “Ấy ta trông thấy cũng như thế đấy”.\n\nNói đoạn, sửa mũ, mặc áo, ngồi dậy chưa hết một ngày, bệnh đã khỏi tự bao giờ không biết.","loi_ban_vi":"Hoàn Công thấy quỷ, sinh lo ngờ mà sinh bệnh, sau có người nói thấy quỉ mà làm được nghiệp bá thì khỏi bệnh ngay. Thế mới biết có quỷ hay không có quỷ, quỷ hại mình hay lợi cho mình cũng là tự tâm mình tưởng tượng ra cả, rồi yên trí như thế mà thôi. “Đau là tại mình chớ quỷ nào làm” Câu Cáo Ngao nói thật là xác lý, Cáo Ngao lại khéo biết trước, lấy lẽ thuốc thang làm như ông lang rõ bệnh của người ốm, khiến người ốm để tai nghe, sau lấy chuyện vu vơ đâu đâu mà xử được chuyện mơ hoảng khiến người mới phá được cái lòng lo ngờ mà hóa nên vui vẻ. Tiếc thay đời bây giờ người mê như Hoàn Công thật lắm, mà người biết giải mê được như Cáo Ngao lại không được mấy người.","giai_nghia":["Hoàn Công: vua nước Tề, đứng đầu Ngũ Bá thời Xuân Thu","Quản Trọng: xem chuyện 44","Trọng phụ: trọng tôn Quản Trọng; phụ: cha, gọi như thế có ý tôn Quản Trọng như cha","Hoàn Công: Tức Tề Hoàn Công (齊桓公), vua nước Tề, một trong Ngũ Bá thời Xuân Thu.","Quản Trọng: (管仲) Tên là Di Ngô (夷吾), danh tướng và chính trị gia nổi tiếng, người giúp Tề Hoàn Công trở thành bá chủ.","Trọng phụ: (仲父) Cách gọi tôn kính của Tề Hoàn Công dành cho Quản Trọng, nghĩa là 'cha thứ hai'.","Uy Di: (委蛇) Tên một loại quỷ trong truyền thuyết sống ở đầm lầy.","Bá: (霸) Chỉ vị thế bá chủ, người đứng đầu chư hầu."],"tags":["Tề Hoàn Công","Quản Trọng","Trang Tử","Tâm lý","Bệnh tật"]},{"id":102,"title_vi":"MUA NGHĨA","title_zh_simp":"市义","title_zh_trad":"市義","title_pinyin":"Shì Yì","title_han_viet":"THỊ NGHĨA","title_en":"Buying Righteousness","source_book":"《战国策·齐策四》","source_author":"刘向","source_period":"西汉","content_zh_simp":"后孟尝君出记，问门下诸客：“谁习计会，能为文收责于薛者乎？”冯谖署曰：“能。”孟尝君怪之，曰：“此谁也？”左右曰：“乃歌夫长铗归来者也。”孟尝君笑曰：“客果有能也，吾负之，未尝见也。”请而见之，谢曰：“文倦于事，愦于忧，而性懦愚，沉于国家之事，开罪于先生。先生不羞，乃有意欲为收责于薛乎？”冯谖曰：“愿之。”于是约车治装，载券契而行，辞曰：“责毕收，以何市而反？”孟尝君曰：“视吾家所寡有者。”驱而之薛，使吏召诸民当偿者，悉来合券。券遍合，起，矫命以责赐诸民，因烧其券，民称万岁。长驱到齐，晨而求见。孟尝君怪其疾也，衣冠而见之，曰：“责毕收乎？来何疾也！”曰：“收毕矣。”“以何市而反？”冯谖曰：“君云‘视吾家所寡有者’。臣窃计，君宫中积珍宝，狗马实外厩，美人充下陈。君家所寡有者，以义耳！窃以为君市义。”孟尝君曰：“市义奈何？”曰：“今君有区区之薛，不拊爱子其民，因而贾利之。臣窃矫君命，以责赐诸民，因烧其券，民称万岁。乃臣所以为君市义也。”孟尝君不说，曰：“诺，先生休矣！”后期年，齐王谓孟尝君曰：“寡人不敢以先王之臣为臣。”孟尝君就国于薛，未至百里，民扶老携幼，迎君道中。孟尝君顾谓冯谖：“先生所为文市义者，乃今日见之。”","content_zh_trad":"後孟嘗君出記，問門下諸客：“誰習計會，能為文收責於薛者乎？”馮諼署曰：“能。”孟嘗君怪之，曰：“此誰也？”左右曰：“乃歌夫長鋏歸來者也。”孟嘗君笑曰：“客果有能也，吾負之，未嘗見也。”請而見之，謝曰：“文倦於事，憒於憂，而性懦愚，沉於國家之事，開罪於先生。先生不羞，乃有意欲為收責於薛乎？”馮諼曰：“願之。”於是約車治裝，載券契而行，辭曰：“責畢收，以何市而反？”孟嘗君曰：“視吾家所寡有者。”驅而之薛，使吏召諸民當償者，悉來合券。券遍合，起，矯命以責賜諸民，因燒其券，民稱萬歲。長驅到齊，晨而求見。孟嘗君怪其疾也，衣冠而見之，曰：“責畢收乎？來何疾也！”曰：“收畢矣。”“以何市而反？”馮諼曰：“君雲‘視吾家所寡有者’。臣竊計，君宮中積珍寶，狗馬實外廄，美人充下陳。君家所寡有者，以義耳！竊以為君市義。”孟嘗君曰：“市義奈何？”曰：“今君有區區之薛，不拊愛子其民，因而賈利之。臣竊矯君命，以責賜諸民，因燒其券，民稱萬歲。乃臣所以為君市義也。”孟嘗君不說，曰：“諾，先生休矣！”後期年，齊王謂孟嘗君曰：“寡人不敢以先王之臣為臣。”孟嘗君就國於薛，未至百里，民扶老攜幼，迎君道中。孟嘗君顧謂馮諼：“先生所為文市義者，乃今日見之。”","content_pinyin":"Hòu Mèngchángjūn chū jì, wèn ménxià zhū kè: \"Shuí xí kuàikuài, néng wéi Wén shōu zhài yú Xuē zhě hū?\" Féng Xuān shǔ yuē: \"Néng.\" Mèngchángjūn guài zhī, yuē: \"Cǐ shuí yě?\" Zuǒyòu yuē: \"Nǎi gē fū cháng jiá guīlái zhě yě.\" Mèngchángjūn xiào yuē: \"Kè guǒ yǒu néng yě, wú fù zhī, wèicháng jiàn yě.\" Qǐng ér jiàn zhī, xiè yuē: \"Wén juàn yú shì, kuì yú yōu, ér xìng nuò yú, chén yú guójiā zhī shì, kāi zuì yú xiānshēng. Xiānshēng bù xiū, nǎi yǒuyì yù wèi shōu zhài yú Xuē hū?\" Féng Xuān yuē: \"Yuàn zhī.\" Yúshì yuē chē zhì zhuāng, zài quàn qì ér xíng, cí yuē: \"Zhài bì shōu, yǐ hé shì ér fǎn?\" Mèngchángjūn yuē: \"Shì wú jiā suǒ guǎ yǒu zhě.\" Qū ér zhī Xuē, shǐ lì zhào zhū mín dāng cháng zhě, xī lái hé quàn. Quàn biàn hé, qǐ, jiǎo mìng yǐ zhài cì zhū mín, yīn shāo qí quàn, mín chēng wànsuì. Cháng qū dào Qí, chén ér qiú jiàn. Mèngchángjūn guài qí jí yě, yīguān ér jiàn zhī, yuē: \"Zhài bì shōu hū? Lái hé jí yě!\" Yuē: \"Shōu bì yǐ.\" \"Yǐ hé shì ér fǎn?\" Féng Xuān yuē: \"Jūn yún 'shì wú jiā suǒ guǎ yǒu zhě'. Chén qiè jì, jūn gōngzhōng jī zhēnbǎo, gǒu mǎ shí wài jiù, měirén chōng xià chén. Jūn jiā suǒ guǎ yǒu zhě, yǐ yì ěr! Qiè yǐwéi jūn shì yì.\" Mèngchángjūn yuē: \"Shì yì nàihé?\" Yuē: \"Jīn jūn yǒu qūqū zhī Xuē, bù fǔ ài zǐ qí mín, yīn ér gǔ lì zhī. Chén qiè jiǎo jūn mìng, yǐ zhài cì zhū mín, yīn shāo qí quàn, mín chēng wànsuì. Nǎi chén suǒyǐ wèi jūn shì yì yě.\" Mèngchángjūn bù yuè, yuē: \"Nuò, xiānshēng xiū yǐ!\" Hòu jī nián, Qí wáng wèi Mèngchángjūn yuē: \"Guǎrén bùgǎn yǐ xiān wáng zhī chén wèi chén.\" Mèngchángjūn jiù guó yú Xuē, wèi zhì bǎi lǐ, mín fú lǎo xié yòu, yíng jūn dào zhōng. Mèngchángjūn gù wèi Féng Xuān: \"Xiānshēng suǒ wéi Wén shì yì zhě, nǎi jīnrì jiàn zhī.\"","content_han_viet":"Hậu Mạnh Thường Quân xuất ký, vấn môn hạ chư khách: “Thùy tập kế hội, năng vi Văn thu trách vu Tiết giả hồ?” Phùng Huyên thự viết: “Năng.” Mạnh Thường Quân quái chi, viết: “Thử thùy dã?” Tả hữu viết: “Nãi ca phu trường kiếp quy lai giả dã.” Mạnh Thường Quân tiếu viết: “Khách quả hữu năng dã, ngô phụ chi, vị thường kiến dã.” Thỉnh nhi kiến chi, tạ viết: “Văn quyện vu sự, khôi vu ưu, nhi tính nọa ngu, trầm vu quốc gia chi sự, khai tội vu tiên sinh. Tiên sinh bất tu, nãi hữu ý dục vi thu trách vu Tiết hồ?” Phùng Huyên viết: “Nguyện chi.” Vu thị ước xa trị trang, tái khoán khế nhi hành, từ viết: “Trách tất thu, dĩ hà thị nhi phản?” Mạnh Thường Quân viết: “Thị ngô gia sở quả hữu giả.” Khu nhi chi Tiết, sử lại triệu chư dân đương thường giả, tất lai hợp khoán. Khoán biến hợp, khởi, kiểu mệnh dĩ trách tứ chư dân, nhân thiêu kỳ khoán, dân xưng vạn tuế. Trường khu đáo Tề, thần nhi cầu kiến. Mạnh Thường Quân quái kỳ tật dã, y quan nhi kiến chi, viết: “Trách tất thu hồ? Lai hà tật dã!” Viết: “Thu tất hĩ.” “Dĩ hà thị nhi phản?” Phùng Huyên viết: “Quân vân ‘thị ngô gia sở quả hữu giả’. Thần thiết kế, quân cung trung tích trân bảo, cẩu mã thực ngoại cứu, mỹ nhân sung hạ trần. Quân gia sở quả hữu giả, dĩ nghĩa nhĩ! Thiết dĩ vi quân thị nghĩa.” Mạnh Thường Quân viết: “Thị nghĩa nại hà?” Viết: “Kim quân hữu khu khu chi Tiết, bất phủ ái tử kỳ dân, nhân nhi cổ lợi chi. Thần thiết kiểu quân mệnh, dĩ trách tứ chư dân, nhân thiêu kỳ khoán, dân xưng vạn tuế. Nãi thần sở dĩ vi quân thị nghĩa dã.” Mạnh Thường Quân bất duyệt, viết: “Nặc, tiên sinh hưu hĩ!” Hậu kỳ niên, Tề Vương vị Mạnh Thường Quân viết: “Quả nhân bất cảm dĩ tiên vương chi thần vi thần.” Mạnh Thường Quân tựu quốc vu Tiết, vị chí bách lý, dân phù lão huề ấu, nghênh quân đạo trung. Mạnh Thường Quân cố vị Phùng Huyên: “Tiên sinh sở vi Văn thị nghĩa giả, nãi kim nhật kiến chi.”","content_vi":"Mạnh Thường Quân nhà giàu cho vay mượn nhiều. Một hôm sai Phùng Huyên sang đất Tiết đòi nợ. Lúc sắp đi Phùng Huyên hỏi: “Tiền thu được có định mua gì về không? - Mạnh Thường Quân nói: Ngươi xem trong nhà ta còn thiếu thứ gì thì mua”.\n\nKhi đến đất Tiết, Phùng Huyên cho gọi dân lại bảo rằng: “Các ngươi công nợ bao nhiêu Thường Quân đều cho cả”. Nói rồi đem văn tự ra đốt sạch.\n\nLúc về Phùng Huyên thưa với Mạnh Thường Quân rằng: Nhà Tướng Công châu báu đầy kho, chó ngựa đầy chuồng, người đẹp đầy nhà, không còn thiếu gì nữa. Chỉ có thiếu một cái “nghĩa” tôi trộm phép vì tướng công đã mua về.\n\nMạnh Thường Quân nghe thấy nói thế, cũng không hỏi gì đến tiền nữa.\n\nSau Mạnh Thường Quân phải bãi quan về ở đất Tiết, dân đất Tiết nhớ đến ơn xưa, ra đón rước đầy đường, Mạnh Thường Quân bấy giờ mới ngoảnh lại bảo Phùng Huyên rằng: “Trước tiên sinh vì tôi mua “nghĩa”, nghĩa ấy ngày nay tôi mới trông thấy”.","loi_ban_vi":"Thế gian thường tranh mua châu báu, địa vị, mà không biết rằng cái quý giá nhất lại là nghĩa khí. Mua nghĩa tức là gieo trồng ân đức, khi hoạn nạn ắt được đền đáp; còn mua lợi trước mắt, khi nguy biến chỉ thêm tổn hại. Xem chuyện Phùng Huyên vì Mạnh Thường Quân mà đốt khoán, mua nghĩa, đủ biết người trí sâu xa hơn người thường vậy.","giai_nghia":["Mạnh Thường Quân: xem chuyện số 52","Phùng Huyên: người khách ở nhà Mạnh Thường Quân, muốn gì được nấy nên giúp Mạnh Thường Quân được nhiều việc, khi Thường Quân bị bãi về, cũng nhờ có Phùng Huyên mà được phục chức","Tiết: tên một nước nhỏ thời Chiến Quốc, sau bị nước Hồ lấy mất, nay là huyện Đằng, tỉnh Sơn Đông","Mạnh Thường Quân: (孟嘗君) Tên là Điền Văn (田文), quý tộc nước Tề, nổi tiếng nuôi nhiều môn khách.","Phùng Huyên: (馮諼/馮驩) Một môn khách của Mạnh Thường Quân, nổi tiếng với mưu kế 'mua nghĩa'.","Đất Tiết: (薛) Nơi phong ấp của Mạnh Thường Quân.","Quốc Sách: (戰國策) Sách ghi chép về các mưu lược và ngoại giao thời Chiến Quốc.","Thị nghĩa: (市義) Mua lấy nghĩa khí, tức là dùng hành động để có được lòng người."],"tags":["Mạnh Thường Quân","Phùng Huyên","Chiến Quốc Sách","Nhân nghĩa","Mưu lược"]},{"id":103,"title_vi":"ỨNG ĐỐI GIỎI","title_zh_simp":"晏子使楚","title_zh_trad":"晏子使楚","title_pinyin":"Yànzǐ shǐ Chǔ","title_han_viet":"ÁN TỬ SỨ SỞ","title_en":"Yanzi's Mission to Chu","source_book":"《晏子春秋》","source_author":"晏婴","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"晏子将使楚。楚王闻之，谓左右曰：“晏婴，齐之习辞者也。今方来，吾欲辱之，何以也？”左右对曰：“为其来也，臣请缚一人，过王而行。王曰：‘何为者也？’对曰：‘齐人也。’王曰：‘何坐？’曰：‘坐盗。’”晏子至，楚王赐晏子酒。酒酣，吏二缚一人诣王。王曰：“缚者曷为者也？”对曰：“齐人也，坐盗。”王视晏子曰：“齐人固善盗乎？”晏子避席对曰：“婴闻之，橘生淮南则为橘，生于淮北则为枳，叶徒相似，其实味不同。所以然者何？水土异也。今民生长于齐不盗，入楚则盗，得无楚之水土使民善盗耶？”王笑曰：“圣人非所与熙也，寡人反取病焉。”","content_zh_trad":"晏子將使楚。楚王聞之，謂左右曰：“晏嬰，齊之習辭者也。今方來，吾欲辱之，何以也？”左右對曰：“為其來也，臣請縛一人，過王而行。王曰：‘何為者也？’對曰：‘齊人也。’王曰：‘何坐？’曰：‘坐盜。’”晏子至，楚王賜晏子酒。酒酣，吏二縛一人詣王。王曰：“縛者曷為者也？”對曰：“齊人也，坐盜。”王視晏子曰：“齊人固善盜乎？”晏子避席對曰：“嬰聞之，橘生淮南則為橘，生於淮北則為枳，葉徒相似，其實味不同。所以然者何？水土異也。今民生長於齊不盜，入楚則盜，得無楚之水土使民善盜耶？”王笑曰：“聖人非所與熙也，寡人反取病焉。”","content_pinyin":"Yànzǐ jiāng shǐ Chǔ. Chǔ wáng wén zhī, wèi zuǒyòu yuē: “Yàn Yīng, Qí zhī xí cí zhě yě. Jīn fāng lái, wú yù rǔ zhī, hé yǐ yě?” Zuǒyòu duì yuē: “Wéi qí lái yě, chén qǐng fù yī rén, guò wáng ér xíng. Wáng yuē: ‘Hé wéi zhě yě?’ Duì yuē: ‘Qí rén yě.’ Wáng yuē: ‘Hé zuò?’ Yuē: ‘Zuò dào.’” Yànzǐ zhì, Chǔ wáng cì Yànzǐ jiǔ. Jiǔ hān, lì èr fù yī rén yì wáng. Wáng yuē: “Fù zhě hé wéi zhě yě?” Duì yuē: “Qí rén yě, zuò dào.” Wáng shì Yànzǐ yuē: “Qí rén gù shàn dào hū?” Yànzǐ bì xí duì yuē: “Yīng wén zhī, jú shēng huáinán zé wéi jú, shēng yú huáiběi zé wéi zhǐ, yè tú xiāngsì, qí shí wèi bùtóng. Suǒyǐ rán zhě hé? Shuǐtǔ yì yě. Jīn mín shēngzhǎng yú Qí bù dào, rù Chǔ zé dào, dé wú Chǔ zhī shuǐtǔ shǐ mín shàn dào yé?” Wáng xiào yuē: “Shèngrén fēi suǒ yǔ xī yě, guǎrén fǎn qǔ bìng yān.”","content_han_viet":"Án Tử tương sứ Sở. Sở Vương văn chi, vị tả hữu viết: “Án Anh, Tề chi tập từ giả dã. Kim phương lai, ngô dục nhục chi, hà dĩ dã?” Tả hữu đối viết: “Vị kỳ lai dã, thần thỉnh phược nhất nhân, quá Vương nhi hành. Vương viết: ‘Hà vi giả dã?’ Đối viết: ‘Tề nhân dã.’ Vương viết: ‘Hà tọa?’ Viết: ‘Tọa đạo.’” Án Tử chí, Sở Vương tứ Án Tử tửu. Tửu hàm, lại nhị phược nhất nhân nghệ Vương. Vương viết: “Phược giả hạt vi giả dã?” Đối viết: “Tề nhân dã, tọa đạo.” Vương thị Án Tử viết: “Tề nhân cố thiện đạo hồ?” Án Tử tịch tịch đối viết: “Anh văn chi, quất sinh Hoài Nam tắc vi quất, sinh vu Hoài Bắc tắc vi chỉ, diệp đồ tương tự, kỳ thực vị bất đồng. Sở dĩ nhiên giả hà? Thủy thổ dị dã. Kim dân sinh trưởng vu Tề bất đạo, nhập Sở tắc đạo, đắc vô Sở chi thủy thổ sử dân thiện đạo da?” Vương tiếu viết: “Thánh nhân phi sở dữ hi dã, quả nhân phản thủ bệnh yên.”","content_vi":"Án Tử sắp sang nước Sở, vua Sở nghe thấy bảo cận thần rằng:\n\n- Án Tử là một tay ăn nói giỏi nước Tề, nay sắp sang đây, ta muốn làm nhục, có cách gì không?\n\nCận thần thưa: Đợi bao giờ Án Tử sang, chúng tôi xin trói một người , dẫn đến trước mặt nhà vua.\n\n- Để làm gì?\n\n- Để giả làm người nước Tề.\n\n- Cho là phạm tội gì?\n\n- Tội ăn trộm Lúc Án Tử đến nơi, vua Sở làm tiệc thiết đãi tử tế. Rượu uống ngà ngà, bỗng thấy hai tên lính điệu một người bị trói vào.\n\nVua hỏi: Tên kia tội gì mà phải trói thế?\n\nLính thưa: Tên ấy là người nước Tề phải tội ăn trộm.\n\nVua đưa mắt nhìn Án Tử hỏi rằng:\n\n- Người nước Tề hay trộm cắp lắm nhỉ?\n\nÁn Tử đứng dậy thưa rằng: Chúng tôi trộm nghe cây quất mọc ở đất Hoài Nam, thì là quất ngọt, đem sang trồng ở đất Hoài Bắc, thì hóa quất chua.\n\nCành lá giống nhau mà quả chua, quả ngọt khác nhau là tại làm sao? Tại thủy thổ khác nhau vậy. Nay dân sinh trưởng ở nước Tề thì không ăn trộm, sang ở nước Sở thì sinh trộm cắp. Có lẽ cũng tại vì cái thủy thổ khác nhau nó khiến ra như thế chăng!\n\nVua Sở cười nói: Ta muốn nói đùa thành phải chịu nhục. Thế mới hay kẻ cả không nên nói đùa bao giờ.","loi_ban_vi":"Câu chuyện cho thấy tài ứng đối lanh lẹ, khôn khéo của Án Tử. Người trí giả không chỉ bảo vệ được danh dự của mình mà còn giữ được thể diện cho cả quốc gia. Kẻ có quyền thế mà đem lời nói ra để khinh nhờn người khác, rốt cuộc chỉ tự chuốc lấy nhục vào thân mà thôi.","giai_nghia":["Hoài Nam, Hoài Bắc: hai đất ở về phía Nam, phía Bắc sông Hoài ở vùng Giang Tô, An Huy bây giờ.","Án Tử (晏子): Tên thật là Án Anh (晏婴), danh tướng quốc nước Tề thời Xuân Thu, nổi tiếng về tài ngoại giao và đức độ.","Sở Vương (楚王): Vua nước Sở thời Xuân Thu, đối thủ của nước Tề.","Hoài Nam, Hoài Bắc (淮南、淮北): Vùng đất phía nam và phía bắc sông Hoài, dùng để ví sự khác biệt về môi trường, thổ nhưỡng.","Chỉ (枳): Một loại cây cùng họ với quất nhưng quả chua, dùng để ví sự thay đổi do môi trường khác nhau."],"tags":["Ngoại giao","Ứng đối","Trí tuệ","Xuân Thu"]},{"id":104,"title_vi":"HÀ CHÍNH MÃNH Ư HỔ","title_zh_simp":"苛政猛于虎","title_zh_trad":"苛政猛於虎","title_pinyin":"Kē zhèng měng yú hǔ","title_han_viet":"HÀ CHÍNH MÃNH Ư HỔ","title_en":"Oppressive Government Is Fiercer Than a Tiger","source_book":"《礼记·檀弓下》","source_author":"Khổng Tử (được ghi chép bởi môn sinh)","source_period":"Tiên Tần (thời Xuân Thu)","content_zh_simp":"孔子过泰山侧，有妇人哭于墓者而哀。夫子式而听之，使子路问之，曰：“子之哭也，壹似重有忧者。”而曰：“然。昔者吾舅死于虎，吾夫又死焉，今吾子又死焉。”夫子曰：“何为不去也？”曰：“无苛政。”夫子曰：“小子识之，苛政猛于虎也。”","content_zh_trad":"孔子過泰山側，有婦人哭於墓者而哀。夫子式而聽之，使子路問之，曰：“子之哭也，壹似重有憂者。”而曰：“然。昔者吾舅死於虎，吾夫又死焉，今吾子又死焉。”夫子曰：“何為不去也？”曰：“無苛政。”夫子曰：“小子識之，苛政猛於虎也。”","content_pinyin":"Kǒngzǐ guò Tàishān cè, yǒu fùrén kū yú mù zhě ér āi. Fūzǐ shì ér tīng zhī, shǐ Zǐlù wèn zhī, yuē: “Zǐ zhī kū yě, yī sì zhòng yǒu yōu zhě.” Ér yuē: “Rán. Xī zhě wú jiù sǐ yú hǔ, wú fū yòu sǐ yān, jīn wú zǐ yòu sǐ yān.” Fūzǐ yuē: “Hé wéi bù qù yě?” Yuē: “Wú kē zhèng.” Fūzǐ yuē: “Xiǎozǐ zhì zhī, kē zhèng měng yú hǔ yě.”","content_han_viet":"Khổng Tử quá Thái Sơn trắc, hữu phụ nhân khốc vu mộ giả nhi ai. Phu Tử thức nhi thính chi, sử Tử Lộ vấn chi, viết: “Tử chi khốc dã, nhất tự trọng hữu ưu giả.” Nhi viết: “Nhiên. Tích giả ngô cữu tử vu hổ, ngô phu hựu tử yên, kim ngô tử hựu tử yên.” Phu Tử viết: “Hà vi bất khứ dã?” Viết: “Vô hà chính.” Phu Tử viết: “Tiểu tử chí chi, hà chính mãnh vu hổ dã.”","content_vi":"Đức Khổng Tử khi sang nước Tề, đi qua núi Thái Sơn thấy một ngưới đàn bà khóc ở ngoài đồng, nghe thê thảm lắm. Ngài nói rằng:\n\nNgười đàn bà này xem như trong nhà có trùng tang.\n\nRồi sai thầy Tử Cống đến hỏi. Người đàn bà thưa rằng:\n\nỞ đây lắm hổ, bố chồng tôi đã chết vì hổ, chồng tôi đã chết vì hổ, bây giờ con tôi lại chết vì hổ nữa. Thảm lắm ông ạ!\n\nThầy Tử Cống bảo:\n\nThế sao không bỏ chỗ này đi ở chỗ khác?\n\nNgười đàn bà nói:\n\nTuy vậy nhưng ở đây chính sách quan trên không đến nỗi hà khắc tàn bạo như các nơi khác.\n\nThầy Tử Cống đem câu chuyện thưa lại với Đức Khổng Tử Đức Khổng Tử nói:\n\nCác ngươi nhớ đấy: Chính sách hà khắc khốc hại hơn là hổ.\n\nLễ ký","loi_ban_vi":": Người đàn bà ở một nơi lắm hổ, hổ ăn thịt mất bố chồng, mất chồng lại mất con, đáng lẽ phải bỏ nơi ấy mà đi nơi khác. Nhưng không là tại làm sao? Tại người đàn bà cho chính sách các nơi khác là hà khắc hơn dữ hơn là hổ. Ôi! Hổ có hại chị một số ít người, chớ hà chính hại cả muôn dân, hổ có hại chỉ hại một phương, chớ hà chính hại cả toàn quốc. Hổ hại còn có cạm bẫy, cạm trừ bỏ được, chớ hà chính hại, trừ bỏ rất khó lòng. Thật vậy, kẻ dùng hà chính hại dân đã dữ quá hổ, lại còn bao nhiêu thần tử bè cánh, phần làm cho hổ thêm cánh, phần mượn oai hổ đi ăn thịt người. Hà chính một khi trừ bỏ được thì dân cũng đã điêu tàn và nước cũng đã bao kiệt. Vậy ai là người có chút quyền chính trong tay mà chẳng nên lấy câu “Hà chính mãnh ư hổ” để làm câu cảnh giới thống thiết cho dân được nhờ ư.","giai_nghia":["Thái Sơn (泰山): Ngọn núi linh thiêng nhất trong Ngũ Nhạc, nằm ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.","Tử Lộ (子路): Một trong những đệ tử nổi tiếng nhất của Khổng Tử, tính tình cương trực, dũng cảm.","Cữu (舅): Trong văn ngôn cổ, từ này có nghĩa là cha chồng (bố chồng).","Hà chính (苛政): Chính sách hà khắc, tàn bạo, vô đạo của kẻ cầm quyền."],"tags":["Chính trị","Khổng Tử","Ẩn dụ","Lễ ký"]},{"id":105,"title_vi":"HANG NGU CÔNG","title_zh_simp":"愚公谷","title_zh_trad":"愚公谷","title_pinyin":"Yú Gōng Gǔ","title_han_viet":"NGU CÔNG CỐC","title_en":"The Valley of the Foolish Old Man","source_book":"《說苑·政理》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"齐桓公出猎，逐鹿而走，入山谷之中，见一老公，问曰：“是为何谷？”对曰：“为愚公之谷。”桓公曰：“何故？”对曰：“以臣名之。”桓公曰：“今视公之仪状，非愚人也，何为以公名之？”对曰：“臣请陈之：臣故畜牸牛，生子而大，卖之而买驹。少年曰：‘牛不能生马。’遂持驹去。傍邻闻之，以臣为愚，故名此谷为愚公之谷。”桓公曰：“公诚愚矣！夫何为而与之？”桓公遂归。明日朝，以告管仲。管仲正衿再拜曰：“此夷吾之愚也。使尧在上，咎繇为理，安有取人之驹者乎？若有见暴如是叟者，又必不与也。公知狱讼之不正，故与之耳。请退而修政。”孔子曰：“弟子记之，桓公霸君也，管仲贤佐也，犹有以智为愚者也，况不及桓公、管仲者也！”","content_zh_trad":"齊桓公出獵，逐鹿而走，入山谷之中，見一老公，問曰：“是何為谷？”對曰：“為愚公之谷。”桓公曰：“何故？”對曰：“以臣名之。”桓公曰：“今視公之儀狀，非愚人也，何為以公名之？”對曰：“臣請陳之：臣故畜牸牛，生子而大，賣之而買駒。少年曰：‘牛不能生馬。’遂持駒去。傍鄰聞之，以臣為愚，故名此谷為愚公之谷。”桓公曰：“公誠愚矣！夫何為而與之？”桓公遂歸。明日朝，以告管仲。管仲正衿再拜曰：“此夷吾之愚也。使堯在上，咎繇為理，安有取人之駒者乎？若有見暴如是叟者，又必不與也。公知獄訟之不正，故與之耳。請退而修政。”孔子曰：“弟子記之，桓公霸君也，管仲賢佐也，猶有以智為愚者也，況不及桓公、管仲者也！”","content_pinyin":"Qí Huán Gōng chū liè, zhú lù ér zǒu, rù shāngǔ zhī zhōng, jiàn yī lǎogōng, wèn yuē: “Shì hé wèi gǔ?” Duì yuē: “Wèi Yú Gōng zhī gǔ.” Huán Gōng yuē: “Hé gù?” Duì yuē: “Yǐ chén míng zhī.” Huán Gōng yuē: “Jīn shì gōng zhī yízhuàng, fēi yúrén yě, hé wéi yǐ gōng míng zhī?” Duì yuē: “Chén qǐng chén zhī: chén gù chù zì niú, shēng zǐ ér dà, mài zhī ér mǎi jū. Shàonián yuē: ‘Niú bùnéng shēng mǎ.’ Suì chí jū qù. Bàng lín wén zhī, yǐ chén wéi yú, gù míng cǐ gǔ wèi Yú Gōng zhī gǔ.” Huán Gōng yuē: “Gōng chéng yú yǐ! Fū hé wéi ér yǔ zhī?” Huán Gōng suì guī. Míngrì cháo, yǐ gào Guǎn Zhòng. Guǎn Zhòng zhèng jīn zài bài yuē: “Cǐ Yíwú zhī yú yě. Shǐ Yáo zài shàng, Gāo Yáo wèi lǐ, ān yǒu qǔ rén zhī jū zhě hū? Ruò yǒu jiàn bào rú shì sǒu zhě, yòu bì bù yǔ yě. Gōng zhī yùsòng zhī bù zhèng, gù yǔ zhī ěr. Qǐng tuì ér xiū zhèng.” Kǒngzǐ yuē: “Dìzǐ jì zhī, Huán Gōng bà jūn yě, Guǎn Zhòng xián zuǒ yě, yóu yǒu yǐ zhì wèi yú zhě yě, kuàng bùjí Huán Gōng, Guǎn Zhòng zhě yě!”","content_han_viet":"Tề Hoàn Công xuất liệp, trục lộc nhi tẩu, nhập sơn cốc chi trung, kiến nhất lão công, vấn viết: “Thị hà vị cốc?” Đối viết: “Vi Ngu Công chi cốc.” Hoàn Công viết: “Hà cố?” Đối viết: “Dĩ thần danh chi.” Hoàn Công viết: “Kim thị công chi nghi trạng, phi ngu nhân dã, hà vi dĩ công danh chi?” Đối viết: “Thần thỉnh trần chi: thần cố súc tự ngưu, sinh tử nhi đại, mại chi nhi mãi câu. Thiếu niên viết: ‘Ngưu bất năng sinh mã.’ Toại trì câu khứ. Bàng lân văn chi, dĩ thần vi ngu, cố danh thử cốc vi Ngu Công chi cốc.” Hoàn Công viết: “Công thành ngu hĩ! Phù hà vi nhi dữ chi?” Hoàn Công toại quy. Minh nhật triều, dĩ cáo Quản Trọng. Quản Trọng chính khâm tái bái viết: “Thử Di Ngô chi ngu dã. Sử Nghiêu tại thượng, Cao Dao vi lý, an hữu thủ nhân chi câu giả hồ? Nhược hữu kiến bạo như thị tẩu giả, hựu tất bất dữ dã. Công tri ngục tụng chi bất chính, cố dữ chi nhĩ. Thỉnh thoái nhi tu chính.” Khổng Tử viết: “Đệ tử ký chi, Hoàn Công bá quân dã, Quản Trọng hiền tá dã, do hữu dĩ trí vi ngu giả dã, huống bất cập Hoàn Công, Quản Trọng giả dã!”","content_vi":"Vua Hoàn Công nước Tề đi săn, đuổi con hươu chạy vào trong một cái hang, thấy có một ông lão, bèn hỏi rằng:\n\n- Hang này tên gọi là hang gì?\n\nÔng lão thưa:\n\n- Tên là hang Ngu Công\n\n- Tại làm sao mà đặt tên như thế?\n\n- Tại kẻ hạ thần đây mới thành có tên ấy.\n\n- Coi hình dáng lão không phải người ngu cớ gì lại đặt cái tên như thế?\n\nĐể hạ thần xin nói:\n\n- Nguyên hạ thần có con bò cái đẻ được một con. Khi bò con đã lớn, Hạ thần đem đi bán, rồi lấy tiền mua một con ngựa con đem về cùng nuôi với bò cái. Một hôm, có một chàng thiếu niên đến lấy lý “bò không đẻ được ra ngựa” bèn bắt con ngựa con đem đi. Tôi chịu mất, không cãi được. Vì thế xa gần đâu cũng cho tôi là ngu, mới gọi hang tôi ở đây là hang Ngu Công.\n\nHoàn Công nói:\n\n- Lão thế thì ngu thật!\n\nBuổi chiều hôm sau, Hoàn Công đem câu chuyện kể lại cho Quản Trọng nghe.\n\nQuản Trọng nói:\n\n- Đó chính là cái ngu của Di Ngô này. Nếu được vua giỏi như vua Nghiêu, bầy tôi minh như Cao Dao, thì khi nào lại có kẻ dám ngỗ ngược, lấy không ngựa của người ta như vậy. Ngu Công mà đành để mất ngựa, chắc biết rõ hình pháp ngày nay không ra gì. Xin nhà vua kíp chỉnh đốn các chính sự lại.\n\nĐức Khổng Tử nghe thấy nói:\n\n- Đệ tử đâu, ghi lấy việc ấy! Hoàn Công là ba quân, Quản Trọng là hiền thần. Tuy đã vào bậc khôn ngoan, mà còn tự cho là ngu dại.","loi_ban_vi":": Ông lão cam tâm mất ngựa lại chịu cả tiếng “ngu” là ý lão nghĩ gặp phải thời buổi người trên tham nhũng, kẻ dưới hung nghịch, đành chịu để êm chuyện đi, còn hơn dở khôn đi kiện, chẳng những mất ngựa, mà có khi lại mất cả bò và bao tiền của, thời giờ vào đấy nữa. Hoàn Công thấy chuyện mà lưu tâm đến, thế là ông vua có bụng với dân. Quản Trọng nghe chuyện mà biết nhận ngay cái lỗi ấy tại mính, thế là cũng là hai bậc minh quân, lương tướng hiểu rõ cái trách nhiệm chăm dân của mình, nên Đức Khổng Tử có lời khen thực là đáng lắm. Vì rằng giữ vận mệnh một dân tộc mà không hiểu thấy ẩn tình của dân, thì tuy có lòng thương dân, dân vẫn khổ và nước vẫn không yên được.","giai_nghia":[":","Ngu Công: Ông ngu dại.","Di Ngô: tên của Quản Trọng.","Hoàn Công: Tề Hoàn Công, vua nước Tề thời Xuân Thu, một trong Ngũ Bá.","Quản Trọng: Danh tướng, chính trị gia nổi tiếng của nước Tề, người giúp Tề Hoàn Công trở thành bá chủ.","Di Ngô: Tên tự của Quản Trọng.","Nghiêu: Vua Nghiêu, một trong Ngũ Đế, biểu tượng của minh quân.","Cao Dao: Bầy tôi nổi tiếng của vua Nghiêu, phụ trách pháp luật, biểu tượng của bầy tôi giỏi."],"tags":["Ngụ ngôn","Triết lý chính trị","Khổng Tử","Quản Trọng","Tu thân"]},{"id":106,"title_vi":"TRUNG HIẾU LƯỠNG TOÀN","title_zh_simp":"石渚尽忠","title_zh_trad":"石渚盡忠","title_pinyin":"Shí Zhǔ Jìn Zhōng","title_han_viet":"THẠCH CHỦ TẬN TRUNG","title_en":"Shi Zhu's Perfect Loyalty and Filial Piety","source_book":"《呂氏春秋·離俗覽·高義》","source_author":"Lã Bất Vi","source_period":"Tần Triều","content_zh_simp":"荆昭王之时，有士焉曰石渚。其为人也，公直无私。王使为政。道有杀人者，石渚追之，则其父也。还车而返，立于廷曰：“杀人者，仆之父也。以父行法，不忍；阿有罪，废国法，不可。失法伏罪，人臣之义也。”于是乎伏斧锧，请死于王。王曰：“追而不及，岂必伏罪哉？子复事矣。”石渚辞曰：“不私其亲，不可谓孝子；事君枉法，不可谓忠臣。君令赦之，上之惠也；不敢废法，臣之行也。”不去斧锧，殁头于王廷。正法枉必死，父犯法而不忍，王赦之而不肯，石渚之为人臣也，可谓忠且孝矣。","content_zh_trad":"荊昭王之時，有士焉曰石渚。其為人也，公直無私。王使為政。道有殺人者，石渚追之，則其父也。還車而返，立於廷曰：“殺人者，僕之父也。以父行法，不忍；阿有罪，廢國法，不可。失法伏罪，人臣之義也。”於是乎伏斧鑕，請死於王。王曰：“追而不及，豈必伏罪哉？子復事矣。”石渚辭曰：“不私其親，不可謂孝子；事君枉法，不可謂忠臣。君令赦之，上之惠也；不敢廢法，臣之行也。”不去斧鑕，歿頭於王廷。正法枉必死，父犯法而不忍，王赦之而不肯，石渚之為人臣也，可謂忠且孝矣。","content_pinyin":"Jīng Zhāo Wáng zhī shí, yǒu shì yān yuē Shí Zhǔ. Qí wéi rén yě, gōng zhí wúsī. Wáng shǐ wéi zhèng. Dào yǒu shārén zhě, Shí Zhǔ zhuī zhī, zé qí fù yě. Huán chē ér fǎn, lì yú tíng yuē: “Shārén zhě, pú zhī fù yě. Yǐ fù xíngfǎ, bù rěn; ē yǒu zuì, fèi guófǎ, bùkě. Shī fǎ fú zuì, rén chén zhī yì yě.” Yúshì hū fú fǔ zhì, qǐng sǐ yú wáng. Wáng yuē: “Zhuī ér bù jí, qǐ bì fú zuì zāi? Zǐ fù shì yǐ.” Shí Zhǔ cí yuē: “Bù sī qí qīn, bùkě wèi xiào zǐ; shì jūn wǎngfǎ, bùkě wèi zhōngchén. Jūn lìng shè zhī, shàng zhī huì yě; bù gǎn fèi fǎ, chén zhī xíng yě.” Bù qù fǔ zhì, mò tóu yú wáng tíng. Zhèng fǎ wǎng bì sǐ, fù fànfǎ ér bù rěn, wáng shè zhī ér bù kěn, Shí Zhǔ zhī wéi rén chén yě, kěwèi zhōng qiě xiào yǐ.","content_han_viet":"Kinh Chiêu Vương chi thời, hữu sĩ yên viết Thạch Chử. Kỳ vi nhân dã, công trực vô tư. Vương sử vi chính. Đạo hữu sát nhân giả, Thạch Chử truy chi, tắc kỳ phụ dã. Hoàn xa nhi phản, lập vu đình viết: “Sát nhân giả, bộc chi phụ dã. Dĩ phụ hành pháp, bất nhẫn; a hữu tội, phế quốc pháp, bất khả. Thất pháp phục tội, nhân thần chi nghĩa dã.” Vu thị hồ phục phủ chất, thỉnh tử vu vương. Vương viết: “Truy nhi bất cập, khởi tất phục tội tai? Tử phục sự hĩ.” Thạch Chử từ viết: “Bất tư kỳ thân, bất khả vị hiếu tử; sự quân uổng pháp, bất khả vị trung thần. Quân lệnh xá chi, thượng chi huệ dã; bất cảm phế pháp, thần chi hạnh dã.” Bất khứ phủ chất, một đầu vu vương đình. Chính pháp uổng tất tử, phụ phạm pháp nhi bất nhẫn, vương xá chi nhi bất khẳng, Thạch Chử chi vi nhân thần dã, khả vị trung thả hiếu hĩ.","content_vi":"Đời vua Chiêu Vương nước Kinh, có người Thạch Chử làm quan rất công bình chính trực.\n\nMột hôm, đang đi tuần trong hạt thấy ở ngoài đường có kẻ giết người.\n\nThạch Chử đuổi bắt, thì ra chính cha mình, bèn quay xe trở lại rồi chạy đến trước sân rồng nói rằng:\n\nKẻ giết người là cha tôi. Bắt cha mà làm tội thì tình không nỡ, vì cha mà bỏ phép nước thì lý không xuôi. Làm quan đã không giữ phép thì phải chịu tội.\n\nVừa nói vừa kề gươm vào cổ, xin vua cho hành hình.\n\nVua nói:\n\nNhà ngươi đuổi mà không bắt được đã là biết giữ phép còn có tội gì. Cứ yên tâm làm chức vụ.\n\nThạch Chử thưa:\n\nLàm con không ủy khúc thờ cha, không gọi là người con có hiếu, làm tôi không công bằng giữ phép nước không gọi là bấy tôi trung. Bao dung mà xá tội là ơn của quân thượng, trái phép mà chịu tội là phận của tôi con.\n\nNói đoạn cầm gươm tự sát.\n\nKhông giữ phép nước thì chết, cha phạm tội không nỡ bắt, vua tha tội không chịu nhận. Người Thạch Chử làm quan như thế, thật là người trung hiếu lưỡng toàn.","loi_ban_vi":": Đồng thời bấy giờ có kẻ, vì thù cha mà quật mả vua lên mà đánh vào xác thật là người có hiếu nhưng không có trung. Lại có kẻ, vì phép nước mà làm chứng nói thẳng cha ăn trộm dê thật là người có trung nhưng không có hiếu. Sao bằng Thạch Chử đây, giết cha không nỡ, dối vua không đành, cam chịu trái phép để cứu cha, thì thân để giữ phép. Thực mới là trọn được cả đôi niềm trung hiếu vậy. Ta cũng nên biết khổ tâm của Thạch Chử có khi là: được vua tha cho mà cứ cẩu thả sống, sống chỉ càng làm to cái hung ác của cha, giết người không tội vạ, kết cục liệu cha có thoát án tử hình không.\n\nSống chỉ tăng cái tư tình của vua để cho vua khinh nhờn phép nước, biết đâu sau này không gây ra cuộc rối loạn trị an, thì thà một chết còn hơn đối với gia đình đủ làm cho cha hối hận mà tuyệt được mầm ác, đối với tổ quốc đủ làm cho vua tỉnh ngộ mà tự mình giữ phép để trọng tính mệnh dân. Thạch Chử không nhưng trung hiếu mà còn là nhân nữa.","giai_nghia":[":","Thạch Chử: tức Thạch Xa, tướng giỏi của vua Chiêu Vương, người thanh liêm chính trực.","Kinh Chiêu Vương: Tức Sở Chiêu Vương, vua nước Sở thời Xuân Thu.","Thạch Chử: Một viên quan nổi tiếng về sự công bằng, chính trực trong lịch sử.","Phủ chất: Cái búa và cái đe (khối kê dưới để chặt đầu), dụng cụ hành hình thời xưa.","Lưỡng toàn: Trọn vẹn cả hai bên, ở đây là trọn vẹn cả chữ 'trung' và chữ 'hiếu'."],"tags":["Trung hiếu","Đạo làm tôi","Đạo làm con","Lã Thị Xuân Thu","Tấm gương đạo đức"]},{"id":107,"title_vi":"MONG LÀM ĐIỀU PHẢI","title_zh_simp":"求为仁义","title_zh_trad":"求為仁義","title_pinyin":"Qiú wéi rényì","title_han_viet":"CẦU VI NHÂN NGHĨA","title_en":"Seeking to Do What Is Right","source_book":"《呂氏春秋》","source_author":"Lã Bất Vi","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"鲁有独处室者，邻之嫠妇亦独处一室。夜暴风雨至，嫠妇室坏，趋而托焉。鲁人闭户而不纳。嫠妇自牖与之言曰：“子何不仁而不纳我乎？”鲁人曰：“吾闻男女不六十不同居。今子幼，吾亦幼，是以不敢纳子也。”嫠妇曰：“子何不学柳下惠然？妪不逮门之女，国人不称其乱。”鲁人曰：“柳下惠则可，吾固不可。吾将以吾之不可，学柳下惠之可。”孔子闻之曰：“善哉！欲学柳下惠者，未有似于此者。期于至善，而不袭其为，可谓智乎！”","content_zh_trad":"魯有獨處室者，鄰之嫠婦亦獨處一室。夜暴風雨至，嫠婦室壞，趨而託焉。魯人閉戶而不納。嫠婦自牖與之言曰：“子何不仁而不納我乎？”魯人曰：“吾聞男女不六十不同居。今子幼，吾亦幼，是以不敢納子也。”嫠婦曰：“子何不學柳下惠然？嫗不逮門之女，國人不稱其亂。”魯人曰：“柳下惠則可，吾固不可。吾將以吾之不可，學柳下惠之可。”孔子聞之曰：“善哉！欲學柳下惠者，未有似於此者。期於至善，而不襲其為，可謂智乎！”","content_pinyin":"Lǔ yǒu dú chǔ shì zhě, lín zhī lí fù yì dú chǔ yī shì. Yè bào fēngyǔ zhì, lí fù shì huài, qū ér tuō yān. Lǔ rén bì hù ér bù nà. Lí fù zì yǒu yǔ zhī yán yuē: \"Zǐ hé bù rén ér bù nà wǒ hū?\" Lǔ rén yuē: \"Wú wén nánnǚ bù liùshí bù tóngjū. Jīn zǐ yòu, wú yì yòu, shìyǐ bù gǎn nà zǐ yě.\" Lí fù yuē: \"Zǐ hé bù xué Liǔxià Huì rán? Yù bù dǎi mén zhī nǚ, guórén bù chēng qí luàn.\" Lǔ rén yuē: \"Liǔxià Huì zé kě, wú gù bù kě. Wú jiāng yǐ wú zhī bù kě, xué Liǔxià Huì zhī kě.\" Kǒngzǐ wén zhī yuē: \"Shàn zāi! Yù xué Liǔxià Huì zhě, wèi yǒu sì yú cǐ zhě. Qī yú zhìshàn, ér bù xí qí wéi, kě wèi zhì hū!\"","content_han_viet":"Lỗ hữu độc xử thất giả, lân chi ly phụ diệc độc xử nhất thất. Dạ bạo phong vũ chí, ly phụ thất hoại, xu nhi thác yên. Lỗ nhân bế hộ nhi bất nạp. Ly phụ tự dũ dữ chi ngôn viết: “Tử hà bất nhân nhi bất nạp ngã hồ?” Lỗ nhân viết: “Ngô văn nam nữ bất lục thập bất đồng cư. Kim tử ấu, ngô diệc ấu, thị dĩ bất cảm nạp tử dã.” Ly phụ viết: “Tử hà bất học Liễu Hạ Huệ nhiên? Uất bất đãi môn chi nữ, quốc nhân bất xưng kỳ loạn.” Lỗ nhân viết: “Liễu Hạ Huệ tắc khả, ngô cố bất khả. Ngô tương dĩ ngô chi bất khả, học Liễu Hạ Huệ chi khả.” Khổng Tử văn chi viết: “Thiện tai! Dục học Liễu Hạ Huệ giả, vị hữu tự ư thử giả. Kỳ ư chí thiện, nhi bất tập kỳ vi, khả vị trí hồ!”","content_vi":"Nước Lỗ có người ở một mình một nhà. Bên láng giềng có người đàn bà góa cũng một mình một nhà.\n\nMột đêm, mưa to, gió lớn, nhà người đàn bà đổ, người đàn bà sang xin ngủ nhờ nhà người láng giềng. Người láng giềng đóng cửa không cho vào. Người đàn bà đứng trước cửa sổ nói rằng:\n\nNgươi sao bất nhân thế! Không cho ta vào ư?\n\nNgười láng giềng đáp:\n\nTa nghe đàn ông, đàn bà sáu mươi tuổi trở lên, mới ở chung được, nay người còn trẻ mà ta cũng còn trẻ cho nên ta không cho người vào ngủ nhờ được.\n\nNgười đàn bà nói:\n\nNgươi sao không làm như ông Liễu Hạ Huệ ủ người con gái ngồi vào lòng mà không tai tiếng gì?\n\nÔng Liễu Hạ Huệ thì thế được, ta đây thật chưa thể được. Ví ta cho ngươi vào mà không được như ông Liễu Hạ Huệ, thì thà rằng, ta không cho ngươi vào mà ta cũng giữ không tai tiếng gì được như ông Liễu Hạ Huệ. Thế chẳng là ta không làm theo như Liễu Hạ Huệ mà cũng được như Liễu Hạ Huệ ư?\n\nĐức Khổng Tử nghe chuyện nói:\n\nPhải lắm! Kẻ muốn học ông Liễu Hạ Huệ, chưa ai giống được như người nước Lỗ này, mong làm điều rất phải, không bắt chước cách làm, rồi mà làm được, thế mới thật khôn.","loi_ban_vi":"Học đạo thánh hiền, cốt tại học cái tâm chứ không phải học cái dấu vết bên ngoài. Người nước Lỗ biết rõ tài đức mình chưa bằng Liễu Hạ Huệ, nên không dám bắt chước cách làm của người xưa, mà chỉ giữ vẹn điều phải trong lòng. Đó chính là chỗ khôn ngoan sáng suốt, đáng làm gương cho kẻ học đạo vậy.","giai_nghia":["嫠婦 (ly phụ): người đàn bà góa chồng.","柳下惠 (Liễu Hạ Huệ): tên tự của Triển Cầm (展禽), một hiền nhân nước Lỗ thời Xuân Thu, nổi tiếng về đức hạnh, không bị cám dỗ bởi sắc đẹp.","不逮門之女 (bất đãi môn chi nữ): người con gái không kịp vào nhà, ý chỉ người con gái gặp nạn không nơi nương tựa.","期於至善 (kỳ ư chí thiện): mong muốn đạt đến điều thiện tuyệt đối, tốt đẹp nhất."],"tags":["Đạo đức","Khổng Tử","Lã Thị Xuân Thu","Tiết hạnh","Trí tuệ"]},{"id":108,"title_vi":"KẺ BẤT CHÍNH","title_zh_simp":"不贞之人","title_zh_trad":"不貞之人","title_pinyin":"Bù zhēn zhī rén","title_han_viet":"BẤT TRINH CHI NHÂN","title_en":"The Unfaithful Person","source_book":"《戰國策》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"楚有主仆二人，其主有二妻，一妻一妾，皆美。邻人挑其妻，其妻怒而詈之。邻人又挑其妾，妾欣然从之。居无何，主死。邻人欲娶其妻。或问之曰：“昔者妻詈子，妾与子善，今子何不娶妾而娶妻乎？”对曰：“彼其为人妇也，欲人之挑己也；今其为吾妇也，则欲人之不挑己也。向之挑己者，乃其所以为吾妇也。吾是以不取也。”故曰：不贞之人，为人臣仆，虽能取悦于主，主终贱之。","content_zh_trad":"楚有主僕二人，其主有二妻，一妻一妾，皆美。鄰人挑其妻，其妻怒而詈之。鄰人又挑其妾，妾欣然從之。居無何，主死。鄰人欲娶其妻。或問之曰：“昔者妻詈子，妾與子善，今子何不娶妾而娶妻乎？”對曰：“彼其為人婦也，欲人之挑己也；今其為吾婦也，則欲人之不挑己也。向之挑己者，乃其所以為吾婦也。吾是以不取也。”故曰：不貞之人，為人臣僕，雖能取悅於主，主終賤之。","content_pinyin":"Chǔ yǒu zhǔ pú èr rén, qí zhǔ yǒu èr qī, yī qī yī qiè, jiē měi. Lín rén tiǎo qí qī, qí qī nù ér lì zhī. Lín rén yòu tiǎo qí qiè, qiè xīnrán cóng zhī. Jū wúhé, zhǔ sǐ. Lín rén yù qǔ qí qī. Huò wèn zhī yuē: \"Xī zhě qī lì zǐ, qiè yǔ zǐ shàn, jīn zǐ hé bù qǔ qiè ér qǔ qī hū?\" Duì yuē: \"Bǐ qí wéi rén fù yě, yù rén zhī tiǎo jǐ yě; jīn qí wéi wú fù yě, zé yù rén zhī bù tiǎo jǐ yě. Xiàng zhī tiǎo jǐ zhě, nǎi qí suǒyǐ wéi wú fù yě. Wú shìyǐ bù qǔ yě.\" Gù yuē: Bù zhēn zhī rén, wéi rén chén pú, suī néng qǔyuè yú zhǔ, zhǔ zhōng jiàn zhī.","content_han_viet":"Sở hữu chủ nô nhị nhân, kỳ chủ hữu nhị thê, nhất thê nhất thiếp, giai mỹ. Lân nhân khiêu kỳ thê, kỳ thê nộ nhi lệ chi. Lân nhân hựu khiêu kỳ thiếp, thiếp hân nhiên tòng chi. Cư vô hà, chủ tử. Lân nhân dục thú kỳ thê. Hoặc vấn chi viết: “Tích giả thê lệ tử, thiếp dữ tử thiện, kim tử hà bất thú thiếp nhi thú thê hồ?” Đối viết: “Bỉ kỳ vi nhân phụ dã, dục nhân chi khiêu kỷ dã; kim kỳ vi ngô phụ dã, tắc dục nhân chi bất khiêu kỷ dã. Hướng chi khiêu kỷ giả, nãi kỳ sở dĩ vi ngô phụ dã. Ngô thị dĩ bất thủ dã.” Cố viết: Bất trinh chi nhân, vi nhân thần nô, tuy năng thủ duyệt ư chủ, chủ chung tiện chi.","content_vi":"Nước Sở có người có hai vợ. Vợ cả và vợ lẽ cùng đẹp, cùng xinh.\n\nAnh láng giềng ghẹo người vợ cả. Người vợ cả giận và mắng thậm tệ. Anh láng giềng lại ghẹo vợ lẽ, người vợ lẽ bằng lòng đi lại.\n\nKhông bao lâu, người hai vợ ấy chết. Anh láng giềng muốn tính cuộc vuông tròn lại dạm hỏi người vợ cả.\n\nCó kẻ hỏi rằng:\n\nNgười vợ cả trước đã mắng anh người vợ lẽ vẫn có tình với anh, sao bây giờ anh lại định lấy người vợ cả.\n\nAnh ta đáp:\n\nLúc người ta còn là vợ người, thì thích kẻ tư tình với mình, lúc người ta đã là vợ mình thì thích kẻ không tư tính với ai. Kẻ trước đã tư tình với tôi, thì rồi ai nó cũng tư tình được, thiên hạ ai cũng là chồng nó được. Cho nên bây giờ tôi không lấy nó.\n\nThế mới hay con người bất chính đi làm tôi tớ người ta dù làm cho người ta bằng lòng đến đâu, người ta vẫn rẻ rúm khinh bỉ.","loi_ban_vi":": Ở đời những kẻ dễ đổi lòng như người vợ lẽ nói trong chuyện này là những kẻ bất chính. Đã bất chính thường hay phản trắc, rất nên khinh bỉ. Còn những kẻ chính trực như người vợ cả nói trong chuyện này, thì lúc nào cũng thuần thục thẳng băng dù chẳng may gặp sự khó khăn, thiên hạ như có phần không ưa, mà thực bụng vẫn kính phục vô cùng. Ta có hiểu rõ cái tâm lý ấy như người lấy vợ đây thì mới gần được người quân tử mà xa được kẻ tiểu nhân.","giai_nghia":["妻 (thê): vợ cả, người vợ chính thức.","妾 (thiếp): vợ lẽ, người vợ thứ.","挑 (khiêu): trêu ghẹo, quyến rũ.","詈 (lệ): mắng, chửi rủa.","不貞 (bất trinh): không tiết hạnh, không chung thủy, không chính trực."],"tags":["Đạo đức","Chiến Quốc Sách","Lòng người","Tiểu nhân","Quân tử"]},{"id":109,"title_vi":"NHÂN TRUNG DÀI THÌ SỐNG LÂU","title_zh_simp":"人中长则寿长","title_zh_trad":"人中長則壽長","title_pinyin":"Rén zhōng cháng zé shòu cháng","title_han_viet":"NHÂN TRUNG TRƯỜNG TẮC THỌ TRƯỜNG","title_en":"A Long Philtrum Means a Long Life","source_book":"《史记·滑稽列传》","source_author":"Tư Mã Thiên","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"汉武帝尝问东方朔曰：“朕观相书，言人中长一寸，寿百岁。”朔仰面笑曰：“臣不敢笑陛下，乃笑彭祖耳。”帝问其故。朔曰：“彭祖寿八百岁，若如相书所言，则彭祖人中长八寸，面长一丈矣。”帝大笑，赦之。","content_zh_trad":"漢武帝嘗問東方朔曰：「朕觀相書，言人中長一寸，壽百歲。」朔仰面笑曰：「臣不敢笑陛下，乃笑彭祖耳。」帝問其故。朔曰：「彭祖壽八百歲，若如相書所言，則彭祖人中長八寸，面長一丈矣。」帝大笑，赦之。","content_pinyin":"Hàn Wǔdì cháng wèn Dōngfāng Shuò yuē: “Zhèn guān xiàngshū, yán rénzhōng cháng yī cùn, shòu bǎi suì.” Shuò yǎng miàn xiào yuē: “Chén bù gǎn xiào bìxià, nǎi xiào Péngzǔ ěr.” Dì wèn qí gù. Shuò yuē: “Péngzǔ shòu bā bǎi suì, ruò rú xiàngshū suǒ yán, zé Péngzǔ rénzhōng cháng bā cùn, miàn cháng yī zhàng yǐ.” Dì dà xiào, shè zhī.","content_han_viet":"Hán Vũ Đế thường vấn Đông Phương Sóc viết: “Trẫm quan tướng thư, ngôn nhân trung trường nhất thốn, thọ bách tuế.” Sóc ngưỡng diện tiếu viết: “Thần bất cảm tiếu Bệ hạ, nãi tiếu Bành Tổ nhĩ.” Đế vấn kỳ cố. Sóc viết: “Bành Tổ thọ bát bách tuế, nhược như tướng thư sở ngôn, tắc Bành Tổ nhân trung trường bát thốn, diện trường nhất trượng hĩ.” Đế đại tiếu, xá chi.","content_vi":"Một hôm vua Vũ Đế nhà Hán nói với các quan rằng:\n\nTa xem trong sách tướng có nói: người ta nhân trung dài một tấc thì sống lâu đến một trăm tuổi.\n\nĐông Phương Sóc đứng bên, phì cười. Các quan bặc là vô phép.\n\nĐông Phương Sóc cất mũ, tạ rằng:\n\nMuôn tâu Bệ hạ, kẻ hạ thần không dám cười bệ hạ, chỉ cười ông Bành Tổ mặt dài thôi Vua hỏi:\n\nSao lại cười ông Bành Tổ?\n\nĐông Phương Sóc nói:\n\nTục truyền ông Bành Tổ sống tám trăm tuổi, nếu quả thực như câu trong sách tướng Bệ hạ vừa nói, thì nhân trung ông dài tám tấc, mà nhân trung ông dài tám tấc thì dễ mặt ông dài đến một trượng.\n\nVua Vũ Đế nghe nói, bật cười, tha tội cho.","loi_ban_vi":": Vua Vũ Đế nhắc câu trong sách tướng là có lòng mê tín tướng thuật. Đông Phương Sóc cười, rồi nói như thế, tuy là khôi hài, nhưng thực ý làm cho phá được sự quá tin của vua. Nhân trung có phải là thước đo sự thọ, yểu của người ta, người ta trước hết phải ăn ở cho nhân từ, làm việc cho chăm chỉ, ăn uống cho điều độ và biết quả dục, thì mới có sống lâu được.","giai_nghia":["Vũ Đế: vua nhà Hán trị vì bên Tàu (140 TCN - 88 TCN)","Đông Phương Sóc: Bầy tôi vua Vũ Đế nhà Hán là người ăn nói giỏi, tính hay khôi hài.","Bành tổ: Tên ông lão đới cổ cho là sống lâu lắm.","Nhân trung: vùng rãnh giữa mũi và môi trên.","Bành Tổ: nhân vật huyền thoại sống lâu, tương truyền sống hơn 800 tuổi.","Tướng thư: sách xem tướng mạo, một hình thức mê tín cổ đại.","Đông Phương Sóc: danh sĩ nổi tiếng dí dỏm, tài trí dưới thời Hán Vũ Đế."],"tags":["Sử Ký","Khôi hài","Châm biếm","Mê tín","Đông Phương Sóc"]},{"id":110,"title_vi":"THUỐC BẤT TỬ","title_zh_simp":"不死之药","title_zh_trad":"不死之藥","title_pinyin":"Bù sǐ zhī yào","title_han_viet":"BẤT TỬ CHI DƯỢC","title_en":"The Elixir of Immortality","source_book":"《战国策·楚策四》","source_author":"Lưu Hướng (biên soạn)","source_period":"Tây Hán (biên soạn), ghi chép sự kiện thời Chiến Quốc","content_zh_simp":"有献不死之药于荆王者，谒者操以入。中射之士问曰：“可食乎？”曰：“可。”因夺而食之。王怒，使人杀中射之士。中射之士使人说王曰：“臣问谒者，谒者曰可食，臣故食之。是臣无罪，而罪在谒者也。且客献不死之药，臣食之而王杀臣，是死药也。王杀无罪之臣，而明人之欺王。”王乃不杀。","content_zh_trad":"有獻不死之藥於荊王者，謁者操以入。中射之士問曰：「可食乎？」曰：「可。」因奪而食之。王怒，使人殺中射之士。中射之士使人說王曰：「臣問謁者，謁者曰可食，臣故食之。是臣無罪，而罪在謁者也。且客獻不死之藥，臣食之而王殺臣，是死藥也。王殺無罪之臣，而明人之欺王。」王乃不殺。","content_pinyin":"Yǒu xiàn bù sǐ zhī yào yú Jīng wáng zhě, yè zhě cāo yǐ rù. Zhōng shè zhī shì wèn yuē: “Kě shí hū?” Yuē: “Kě.” Yīn duó ér shí zhī. Wáng nù, shǐ rén shā zhōng shè zhī shì. Zhōng shè zhī shì shǐ rén shuì wáng yuē: “Chén wèn yè zhě, yè zhě yuē kě shí, chén gù shí zhī. Shì chén wú zuì, ér zuì zài yè zhě yě. Qiě kè xiàn bù sǐ zhī yào, chén shí zhī ér wáng shā chén, shì sǐ yào yě. Wáng shā wú zuì zhī chén, ér míng rén zhī qī wáng.” Wáng nǎi bù shā.","content_han_viet":"Hữu hiến bất tử chi dược vu Kinh vương giả, yết giả thao dĩ nhập. Trúng xạ chi sĩ vấn viết: “Khả thực hồ?” Viết: “Khả.” Nhân đoạt nhi thực chi. Vương nộ, sử nhân sát trúng xạ chi sĩ. Trúng xạ chi sĩ sử nhân thuyết vương viết: “Thần vấn yết giả, yết giả viết khả thực, thần cố thực chi. Thị thần vô tội, nhi tội tại yết giả dã. Thả khách hiến bất tử chi dược, thần thực chi nhi vương sát thần, thị tử dược dã. Vương sát vô tội chi thần, nhi minh nhân chi khi vương.” Vương nãi bất sát.","content_vi":"Thời Chiến quốc, có người đem dâng vua nước Sở một vị thuốc bất tử.\n\nNgười ấy bưng vị thuốc vào, có viên quan canh cửa hỏi rằng:\n\n“Vị thuốc này có ăn được không?”\n\nNgười đáp” “Ăn được”.\n\nTức thì, viên quan giật lấy vị thuốc mà ăn.\n\nChuyện nói đến tai vua. Vua phán bắt viên quan đem giết.\n\nViên quan kêu rằng:\n\n“Thần đã hỏi người đem dâng thuốc. Người ấy nói rằng: “Ăn được”, nên thần mới dám ăn. Thế là thần vô tội mà lỗi ở người dâng thuốc. Vả chăng người đem dâng nói là “bất tử” , nghĩa là ăn vào thì không chết nữa. Thế mà thần mới ăn, đã sắp chết, vậy là thuốc tử chứ sao gọi là bất tử được? Nhà vua giết thần, thực là bắt tội một người vô tội mà tỏ rằng thiên hạ dối được nhà vua mà nhà vua vẫn tin.”\n\nVua nghe nói có lý, bèn tha cho viên quan ấy không giết nữa.","loi_ban_vi":"Có sinh thì phải có tử. Không vật nào có sinh mà lại ra ngoài vòng tử. Kẻ dâng thuốc bất tử, vua Sở có lòng mê tín, không hiểu thấu cái lẽ đó. Viên quan canh cửa làm ra thế, là có ý lấp cái lối lừa đảo của kẻ nịnh, phá cái bụng mê hoặc của vua, khiến cho vua phải tỉnh ngộ. Lời nói tựa giọng khôi hài, nhưng thật là có lý thú.","giai_nghia":["Chiến quốc: xem bài số 69","Kinh vương: tức Sở vương, nước Sở thời Chiến Quốc.","Yết giả: quan giữ cửa, người dẫn kiến.","Trúng xạ chi sĩ: quan võ bảo vệ trong cung.","Bất tử chi dược: thuốc trường sinh bất tử, một khái niệm phổ biến trong tư tưởng thần tiên thời cổ."],"tags":["Chiến Quốc Sách","Ngụ ngôn","Trí tuệ","Châm biếm","Thuốc trường sinh"]},{"id":111,"title_vi":"CÁI LẼ SỐNG CHẾT","title_zh_simp":"论生死","title_zh_trad":"論生死","title_pinyin":"Lùn shēngsǐ","title_han_viet":"LUẬN SINH TỬ","title_en":"On Life and Death","source_book":"《说符》","source_author":"Dương Tử (Yang Zhu)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"孟孙阳问杨子：“有人爱生，贵身，以求不死，可乎？”杨子曰：“理无不死。以久生为可乎？”曰：“理无久生。生非贵之所能存，身非爱之所能厚。且久生奚为？五情好恶，古犹今也；四体安危，古犹今也；世事苦乐，古犹今也；变易治乱，古犹今也。既闻之矣，既见之矣，既更之矣，百年犹厌其多，况久生之苦也乎？”孟孙阳曰：“若然，则速亡愈于久生；则践锋刃，入汤火，得遂志而死，不亦可乎？”杨子曰：“不然。既生，则废而任之，究其所欲，以俟于死。将死，则废而任之，究其所之，以放于尽。无不废，无不任，何遽迟速于其间乎？”","content_zh_trad":"孟孫陽問楊子：“有人愛生，貴身，以求不死，可乎？”楊子曰：“理無不死。以久生為可乎？”曰：“理無久生。生非貴之所能存，身非愛之所能厚。且久生奚為？五情好惡，古猶今也；四體安危，古猶今也；世事苦樂，古猶今也；變易治亂，古猶今也。既聞之矣，既見之矣，既更之矣，百年猶厭其多，況久生之苦也乎？”孟孫陽曰：“若然，則速亡愈於久生；則踐鋒刃，入湯火，得遂志而死，不亦可乎？”楊子曰：“不然。既生，則廢而任之，究其所欲，以俟於死。將死，則廢而任之，究其所之，以放於盡。無不廢，無不任，何遽遲速於其間乎？”","content_pinyin":"Mèng Sūn Yáng wèn Yángzǐ: “Yǒu rén ài shēng, guì shēn, yǐ qiú bùsǐ, kě hū?” Yángzǐ yuē: “Lǐ wú bùsǐ. Yǐ jiǔ shēng wéi kě hū?” Yuē: “Lǐ wú jiǔ shēng. Shēng fēi guì zhī suǒ néng cún, shēn fēi ài zhī suǒ néng hòu. Qiě jiǔ shēng xī wéi? Wǔ qíng hào wù, gǔ yóu jīn yě; sì tǐ ānwēi, gǔ yóu jīn yě; shì shì kǔ lè, gǔ yóu jīn yě; biànyì zhì luàn, gǔ yóu jīn yě. Jì wén zhī yǐ, jì jiàn zhī yǐ, jì gèng zhī yǐ, bǎi nián yóu yàn qí duō, kuàng jiǔ shēng zhī kǔ yě hū?” Mèng Sūn Yáng yuē: “Ruò rán, zé sù wáng yù yú jiǔ shēng; zé jiàn fēng rèn, rù tāng huǒ, dé suì zhì ér sǐ, bù yì kě hū?” Yángzǐ yuē: “Bù rán. Jì shēng, zé fèi ér rèn zhī, jiū qí suǒ yù, yǐ sì yú sǐ. Jiāng sǐ, zé fèi ér rèn zhī, jiū qí suǒ zhī, yǐ fàng yú jìn. Wú bù fèi, wú bù rèn, hé jù chí sù yú qí jiān hū?”","content_han_viet":"Mạnh Tôn Dương vấn Dương Tử: “Hữu nhân ái sinh, quý thân, dĩ cầu bất tử, khả hồ?” Dương Tử viết: “Lý vô bất tử. Dĩ cửu sinh vi khả hồ?” Viết: “Lý vô cửu sinh. Sinh phi quý chi sở năng tồn, thân phi ái chi sở năng hậu. Thả cửu sinh hề vi? Ngũ tình hiếu ố, cổ do kim dã; tứ thể an nguy, cổ do kim dã; thế sự khổ lạc, cổ do kim dã; biến dịch trị loạn, cổ do kim dã. Ký văn chi hĩ, ký kiến chi hĩ, ký cánh chi hĩ, bách niên do yếm kỳ đa, huống cửu sinh chi khổ dã hồ?” Mạnh Tôn Dương viết: “Nhược nhiên, tắc tốc vong dũ vu cửu sinh; tắc tiễn phong nhận, nhập thang hỏa, đắc toại chí nhi tử, bất diệc khả hồ?” Dương Tử viết: “Bất nhiên. Ký sinh, tắc phế nhi nhiệm chi, cứu kỳ sở dục, dĩ sĩ vu tử. Tương tử, tắc phế nhi nhiệm chi, cứu kỳ sở chi, dĩ phóng vu tận. Vô bất phế, vô bất nhiệm, hà cự trì tốc vu kỳ gian hồ?”","content_vi":"Mạnh Tôn Dương hỏi Dương Tử: Có kẻ mến đời, yêu thân, cầu cho không chết có nên không?\n\nDương Tử nói: Có sống thì phải có chết, lẽ nào mà không chết được?\n\n- Thế cầu sống lâu có nên không?\n\n- Lẽ nào sống lâu được? Người ta không phải thích sống mà sống mãi được, yêu thân mà thân còn mãi được. Vả chăng sống lâu để làm gì? Thế tình hay dở xưa cũng như nay; thân thể an nguy xưa cũng như nay; việc đời vua khổ xưa cũng như nay; biến đổi trị loạn xưa cũng như nay; cái gì cũng đã nghe thấy, đã trông thấy, đã từng trải cả rồi, thì sống trong khoảng trăm năm cũng đủ lấy làm chán, huống còn cầu lấy sống lâu để cho khổ làm gì?\n\nMạnh Tôn Dương nói: Nếu như thế thì chóng chết còn hơn là sống lâu. Ta nên xông vào gươm giáo, nhẩy vào nước lửa để chết ngay đi có thỏa không?\n\nDương Tử nói: Không phải thế. Đã sinh ra đời thì lúc sống cứ tự nhiên mặc, muốn làm gì thì làm, cho đến lúc chết. Lúc sắp chết, cũng tự nhiên mặc, muốn hóa ra gì thì hóa cho đến lúc cùng. Lúc sống, lúc chêt, lúc nào cũng tự nhiên như không, hà tất phải quan tâm sống lâu hay chóng chết làm gì?","loi_ban_vi":"Người ta ở đời, kẻ thì mến đời không muốn chết, hoặc lại có kẻ chán đời không muốn sống. Như thế đều lầm cả. Sự sống chết không phải tự mình có chủ quyền được, thì mình đem tâm lo nghĩ, cầu khẩn về việc sống chết mà có ích gì! Thà rằng: tự lúc sống đến lúc chết, việc mình mình làm, ngoại giả phó mặc ở sự tự nhiên cho gọi là Số, là Mệnh, là Tạo hóa cũng không cần. Thói đời thường tình vẫn tham sống, sợ chết. Nhưng chết, vị tất đã là khổ hẳn. Mà sống, cũng không ai bảo là toàn sướng được! Như xưa có kẻ sống hơn trăm tuổi, ai chẳng cho sống lâu là quí, thế mà người ấy vẫn thường ca thán rằng:\n\n“Sống làm chi cho nhục!”. Sống lâu vô ích cho đời mà chỉ trông nhiều cảnh tang thương thì có hay gì.","giai_nghia":["Dương Tử: người thời Chiến quốc, tên tự là Tử Cư, tôn chỉ học thuyết là: “Mất một cái lông mà lợi thiên hạ cũng không cho, được cả thiên hạ phụng sự một mình cũng không làm, người nào cũng không chịu thiệt, người nào cũng không ham lợi thì thiên hạ tự nhiên thái bình”. Học thuyết ấy rất thịnh hành thời Chiến quốc và người đời bây giờ cho là học thuyết “Vị ngã”.","Mạnh Tôn Dương: Nhân vật trong sách Liệt Tử, học trò của Dương Tử.","Dương Tử: Tức Dương Chu, triết gia thời Chiến Quốc, chủ trương 'vị ngã' (vì mình), trọng sinh quý kỷ.","Ngũ tình: Năm loại tình cảm của con người (thường là hỉ, nộ, ai, lạc, ố).","Phế nhi nhiệm chi: Bỏ mặc, thuận theo tự nhiên, không cưỡng cầu."],"tags":["Đạo Gia","Dương Tử","Sinh Tử","Thuận Tự Nhiên","Triết Lý Sống"]},{"id":112,"title_vi":"NÓI VỀ SỐNG CHẾT","title_zh_simp":"论生死","title_zh_trad":"論生死","title_pinyin":"Lùn shēngsǐ","title_han_viet":"LUẬN SINH TỬ","title_en":"Discourse on Life and Death","source_book":"《论生死》","source_author":"Khuyết Danh (Anonymous)","source_period":"Không rõ (Unknown)","content_zh_simp":"或谓生为乐，死为苦，是乐生者也。或谓死为乐，生为苦，是恶生者也。以吾观之，有人焉，形骸虽存，志气已衰，则生犹死也；有人焉，形骸虽朽，精神犹在人心目间，则死犹生也。故君子之于生死，不系乎形骸之有无，而系乎精神之存亡。小人则不然，方其生也，昏昏于利欲，役役于奔走，及其为人所唾骂，则曰：“既生为人，不能遗芳百世，亦当遗臭万年。”呜呼！若是者，岂足以语生死之故哉！","content_zh_trad":"或謂生為樂，死為苦，是樂生者也。或謂死為樂，生為苦，是惡生者也。以吾觀之，有人焉，形骸雖存，志氣已衰，則生猶死也；有人焉，形骸雖朽，精神猶在人心目間，則死猶生也。故君子之於生死，不係乎形骸之有無，而係乎精神之存亡。小人則不然，方其生也，昏昏於利欲，役役於奔走，及其為人所唾罵，則曰：“既生為人，不能遺芳百世，亦當遺臭萬年。”嗚呼！若是者，豈足以語生死之故哉！","content_pinyin":"Huò wèi shēng wéi lè, sǐ wéi kǔ, shì lè shēng zhě yě. Huò wèi sǐ wéi lè, shēng wéi kǔ, shì wù shēng zhě yě. Yǐ wú guān zhī, yǒu rén yān, xínghái suī cún, zhìqì yǐ shuāi, zé shēng yóu sǐ yě; yǒu rén yān, xínghái suī xiǔ, jīngshén yóu zài rén xīnmù jiān, zé sǐ yóu shēng yě. Gù jūnzǐ zhī yú shēngsǐ, bù xì hū xínghái zhī yǒuwú, ér xì hū jīngshén zhī cúnwáng. Xiǎorén zé bù rán, fāng qí shēng yě, hūnhūn yú lì yù, yìyì yú bēnzǒu, jí qí wéi rén suǒ tuòmà, zé yuē: “Jì shēng wéi rén, bùnéng yí fāng bǎi shì, yì dāng yíchòu wànnián.” Wūhū! Ruò shì zhě, qǐ zúyǐ yǔ shēngsǐ zhī gù zāi!","content_han_viet":"Hoặc vị sinh vi lạc, tử vi khổ, thị lạc sinh giả dã. Hoặc vị tử vi lạc, sinh vi khổ, thị ố sinh giả dã. Dĩ ngô quan chi, hữu nhân yên, hình hài tuy tồn, chí khí dĩ suy, tắc sinh do tử dã; hữu nhân yên, hình hài tuy hủ, tinh thần do tại nhân tâm mục gian, tắc tử do sinh dã. Cố quân tử chi vu sinh tử, bất hệ hồ hình hài chi hữu vô, nhi hệ hồ tinh thần chi tồn vong. Tiểu nhân tắc bất nhiên, phương kỳ sinh dã, hôn hôn vu lợi dục, dịch dịch vu bôn tẩu, cập kỳ vi nhân sở thóa mạ, tắc viết: “Ký sinh vi nhân, bất năng di phương bách thế, diệc đương di xú vạn niên.” Ô hô! Nhược thị giả, khởi túc dĩ ngữ sinh tử chi cố tai!","content_vi":"Người thì cho sống là sướng, chết là khổ, như thế là phái mến đời. Người lại cho rằng chết là sướng, sống là khổ, như thế là phái chán đời.\n\nCứ theo ý ta, thì ta tưởng ai tuy còn sống, thân thể khỏe mạnh mà ý chí suy đồi thì sống cũng như chết; ai thân thể tuy chết mà chí khí vẫn còn ở tâm não tai mắt người ta thì chết cũng như sống. Cho nên bậc quân tử đối với sự sống chết, không bằng ở phần xác có hay không, bằng ở phần hồn còn hay mất. Kẻ tiểu nhân thì không thể: đương lúc còn sống mê muội về tài lợi, nhọc nhằn về bôn tẩu, đến lúc người ta thóa mạ thì lại nói rằng:\n\n“Đã sinh ra làm người, chẳng để được tiếng hay trăm đời, thì cũng để lại tiếng dở muôn năm”. Than ôi! Kẻ nói như thế thì biết làm sao được cái lẽ sống chết!\n\nKhuyết Danh","loi_ban_vi":"Người ta tuy chia hai phần: xác thịt và linh hồn, nhưng hai phần thật có liên lạc với nhau là một, xác có khỏe hồn mới còn; hồn còn mạnh xác mới có giá. Vậy ta không bảo khinh hẳn một bên nào mà chỉ trọng một bên nào được. Nhưng bài này không chủ ý nói về tâm lý hay vệ sinh. Bài này chỉ cốt nói rõ thế nào là sống, thế nào là chết mà thôi. Những kẻ sống không ai biết, chết chẳng ai hay thì tuy sống cũng là vô ích. Còn những bậc ích Quốc lợi Dân thì dẫu chết đi nữa nhưng thiên hạ vẫn còn nhớ đến, vẫn còn sùng bái thì cũng kể như là còn sống. Ngoài ra còn hạng người đê mạt đi xú thì nói mà làm chi! Nếu ở đởi chẳng để tiếng hay lại được, thà không để tiếng gì nữa còn hơn là để tiếng xấu, chỉ làm cái bia cho thế gian chê cười mà thôi.","giai_nghia":["Khuyết Danh: Tác giả không rõ tên.","Di phương bách thế: Để lại tiếng thơm cho trăm đời.","Di xú vạn niên: Để lại tiếng xấu muôn năm.","Quân tử / Tiểu nhân: Người quân tử (đức hạnh) / Kẻ tiểu nhân (tầm thường, đê tiện)."],"tags":["Nhân Sinh Quan","Sinh Tử","Tinh Thần","Danh Dự","Triết Lý Sống"]},{"id":113,"title_vi":"BIẾT DỞ SỬA NGAY","title_zh_simp":"知非速改","title_zh_trad":"知非速改","title_pinyin":"Zhī fēi sù gǎi","title_han_viet":"TRI PHI TỐC CẢI","title_en":"Knowing What Is Wrong, Amend Quickly","source_book":"《孟子·滕文公下》","source_author":"Mạnh Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"戴盈之曰：“什一，去关市之征，今兹未能。请轻之，以待来年，然后已，何如？”孟子曰：“今有人日攘其邻之鸡者。或告之曰：‘是非君子之道。’曰：‘请损之，月攘一鸡，以待来年，然后已。’如知其非义，斯速已矣，何待来年？”","content_zh_trad":"戴盈之曰：「什一，去關市之徵，今茲未能。請輕之，以待來年，然後已，何如？」孟子曰：「今有人日攘其鄰之雞者。或告之曰：『是非君子之道。』曰：『請損之，月攘一雞，以待來年，然後已。』如知其非義，斯速已矣，何待來年？」","content_pinyin":"Dài Yíngzhī yuē: “Shí yī, qù guān shì zhī zhēng, jīn zī wèi néng. Qǐng qīng zhī, yǐ dài láinián, ránhòu yǐ, hérú?” Mèngzǐ yuē: “Jīn yǒu rén rì rǎng qí lín zhī jī zhě. Huò gào zhī yuē: ‘Shì fēi jūnzǐ zhī dào.’ Yuē: ‘Qǐng sǔn zhī, yuè rǎng yī jī, yǐ dài láinián, ránhòu yǐ.’ Rú zhī qí fēi yì, sī sù yǐ yǐ, hé dài láinián?”","content_han_viet":"Đái Doanh Chi viết: “Thập nhất, khứ quan thị chi chinh, kim tư vị năng. Thỉnh khinh chi, dĩ đãi lai niên, nhiên hậu dĩ, hà như?” Mạnh Tử viết: “Kim hữu nhân nhật nhương kỳ lân chi kê giả. Hoặc cáo chi viết: ‘Thị phi quân tử chi đạo.’ Viết: ‘Thỉnh tổn chi, nguyệt nhương nhất kê, dĩ đãi lai niên, nhiên hậu dĩ.’ Như tri kỳ phi nghĩa, tư tốc dĩ hĩ, hà đãi lai niên?”","content_vi":"Đái Doanh Chi làm quan đại phu nước Tống, nói chuyện với thầy Mạnh Tử rằng:\n\n“Cứ như cổ chế thì ruộng đánh thuế theo phép tỉnh điền, chợ và cửa ải chỉ xét hỏi không mà thôi. Như thế thực là hay nhưng ta chưa làm ngay được.\n\nBây giờ ta hãy đánh nhẹ bớt thuế đi, đợi đến sang năm mới bãi hẳn thì nhà thầy nghĩ thế nào?”\n\nThầy Mạnh Tử nói: Nay có người mỗi ngày ăn trộm một con gà của hàng xóm. Có kẻ bảo anh ta:\n\n“Làm thế không phải là cách của con người lương thiện. - Anh ta đáp: Ông nói phải lắm, nhưng tôi chưa thể chừa ngay được. Xin để chừa dần, từ nay mỗi tháng tôi ăn trộm một con thôi, đợi đến sang năm tôi sẽ chừa hẳn”.\n\nPhỏng nói như thế thì có nghe được không?\n\nPhàm làm việc gì cũng vậy, chưa biết là phi nghĩa thì thôi, chớ đã biết là phi nghĩa thì phải bỏ cho mau cho chóng, sao lại còn đợi đến sang năm?","loi_ban_vi":"Phàm nghĩa với lợi không cùng đi được với nhau. Nếu làm nghĩa mà còn tính lợi, cứ tìm cách trì hoãn mãi lại thì biết đến bao giờ mới nên? Cho nên việc đã trót làm biết là dở chẳng những không sửa được, lại còn e mỗi ngày một to thêm mãi ra, nhỏ thì hại việc tu thân, tề gia, lớn thì hại đến việc trị quốc, bình thiên hạ. Câu nói: “Cái gì làm được hôm nay chớ để đến ngày mai”, ta nên ghi nhớ lấy.","giai_nghia":["戴盈之 (Đái Doanh Chi): Đại phu nước Tống, cùng thời với Mạnh Tử.","什一 (thập nhất): Thuế một phần mười, tức thuế theo phép tỉnh điền thời cổ.","攘 (nhương): Trộm cắp, lấy của người khác làm của mình.","关市之征 (quan thị chi chinh): Thuế đánh vào cửa ải và chợ búa.","来年 (lai niên): Năm sau, sang năm."],"tags":["Mạnh Tử","Sửa sai","Đạo đức","Hành động"]},{"id":114,"title_vi":"TÀI BẤT TÀI","title_zh_simp":"材与不材","title_zh_trad":"材與不材","title_pinyin":"Cái yǔ bù cái","title_han_viet":"TÀI DỮ BẤT TÀI","title_en":"Useful and Useless","source_book":"《庄子·山木》","source_author":"Trang Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"庄子行于山中，见大木，枝叶盛茂，伐木者止其旁而不取也。问其故，曰：“无所可用。”庄子曰：“此木以不材得终其天年。”夫子出于山，舍于故人之家。故人喜，命竖子杀雁而烹之。竖子请曰：“其一能鸣，其一不能鸣，请奚杀？”主人曰：“杀不能鸣者。”明日，弟子问于庄子曰：“昨日山中之木，以不材得终其天年；今主人之雁，以不材死。先生将何处？”庄子笑曰：“周将处夫材与不材之间。材与不材之间，似之而非也，故未免乎累。若夫乘道德而浮游则不然，无誉无訾，一龙一蛇，与时俱化，而无肯专为；一上一下，以和为量，浮游乎万物之祖，物物而不物于物，则胡可得而累邪！此神农黄帝之法则也。若夫万物之情，人伦之传，则不然。合则离，成则毁，廉则挫，尊则议，有为则亏，贤则谋，不肖则欺，胡可得而必乎哉！悲夫，弟子志之，其唯道德之乡乎！”","content_zh_trad":"莊子行於山中，見大木，枝葉盛茂，伐木者止其旁而不取也。問其故，曰：「無所可用。」莊子曰：「此木以不材得終其天年。」夫子出於山，舍於故人之家。故人喜，命豎子殺雁而烹之。豎子請曰：「其一能鳴，其一不能鳴，請奚殺？」主人曰：「殺不能鳴者。」明日，弟子問於莊子曰：「昨日山中之木，以不材得終其天年；今主人之雁，以不材死。先生將何處？」莊子笑曰：「周將處夫材與不材之間。材與不材之間，似之而非也，故未免乎累。若夫乘道德而浮游則不然，無譽無訾，一龍一蛇，與時俱化，而無肯專為；一上一下，以和為量，浮游乎萬物之祖，物物而不物於物，則胡可得而累邪！此神農黃帝之法則也。若夫萬物之情，人倫之傳，則不然。合則離，成則毀，廉則挫，尊則議，有為則虧，賢則謀，不肖則欺，胡可得而必乎哉！悲夫，弟子志之，其唯道德之鄉乎！」","content_pinyin":"Zhuāngzǐ xíng yú shān zhōng, jiàn dà mù, zhīyè shèngmào, fámù zhě zhǐ qí páng ér bù qǔ yě. Wèn qí gù, yuē: “Wú suǒ kě yòng.” Zhuāngzǐ yuē: “Cǐ mù yǐ bù cái dé zhōng qí tiānnián.” Fūzǐ chū yú shān, shè yú gùrén zhī jiā. Gùrén xǐ, mìng shùzǐ shā yàn ér pēng zhī. Shùzǐ qǐng yuē: “Qí yī néng míng, qí yī bù néng míng, qǐng xī shā?” Zhǔrén yuē: “Shā bù néng míng zhě.” Míngrì, dìzǐ wèn yú Zhuāngzǐ yuē: “Zuórì shān zhōng zhī mù, yǐ bù cái dé zhōng qí tiānnián; jīn zhǔrén zhī yàn, yǐ bù cái sǐ. Xiānshēng jiāng héchù?” Zhuāngzǐ xiào yuē: “Zhōu jiāng chù fú cái yǔ bù cái zhī jiān. Cái yǔ bù cái zhī jiān, sì zhī ér fēi yě, gù wèimiǎn hū lèi. Ruò fú chéng dàodé ér fúyóu zé bù rán, wú yù wú zǐ, yī lóng yī shé, yǔ shí jù huà, ér wú kěn zhuān wèi; yī shàng yī xià, yǐ hé wéi liàng, fúyóu hū wànwù zhī zǔ, wù wù ér bù wù yú wù, zé hú kě dé ér lèi xié! Cǐ Shénnóng Huángdì zhī fǎzé yě. Ruò fú wànwù zhī qíng, rénlún zhī chuán, zé bù rán. Hé zé lí, chéng zé huǐ, lián zé cuò, zūn zé yì, yǒuwéi zé kuī, xián zé móu, bùxiào zé qī, hú kě dé ér bì hū zāi! Bēi fū, dìzǐ zhì zhī, qí wéi dàodé zhī xiāng hū!”","content_han_viet":"Trang Tử hành vu sơn trung, kiến đại mộc, chi diệp thịnh mậu, phạt mộc giả chỉ kỳ bàng nhi bất thủ dã. Vấn kỳ cố, viết: “Vô sở khả dụng.” Trang Tử viết: “Thử mộc dĩ bất tài đắc chung kỳ thiên niên.” Phu tử xuất vu sơn, xá vu cố nhân chi gia. Cố nhân hỉ, mệnh thụ tử sát nhạn nhi phanh chi. Thụ tử thỉnh viết: “Kỳ nhất năng minh, kỳ nhất bất năng minh, thỉnh hy sát?” Chủ nhân viết: “Sát bất năng minh giả.” Minh nhật, đệ tử vấn vu Trang Tử viết: “Tạc nhật sơn trung chi mộc, dĩ bất tài đắc chung kỳ thiên niên; kim chủ nhân chi nhạn, dĩ bất tài tử. Tiên sinh tương hà xứ?” Trang Tử tiếu viết: “Chu tương xử phù tài dữ bất tài chi gian. Tài dữ bất tài chi gian, tự chi nhi phi dã, cố vị miễn hồ lụy. Nhược phù thừa đạo đức nhi phù du tắc bất nhiên, vô dự vô tỷ, nhất long nhất xà, dữ thời câu hóa, nhi vô khẳng chuyên vi; nhất thượng nhất hạ, dĩ hòa vi lượng, phù du hồ vạn vật chi tổ, vật vật nhi bất vật vu vật, tắc hồ khả đắc nhi lụy tà! Thử Thần Nông Hoàng Đế chi pháp tắc dã. Nhược phù vạn vật chi tình, nhân luân chi truyền, tắc bất nhiên. Hợp tắc ly, thành tắc hủy, liêm tắc tỏa, tôn tắc nghị, hữu vi tắc khuy, hiền tắc mưu, bất tiếu tắc khi, hồ khả đắc nhi tất hồ tai! Bi phu, đệ tử chí chi, kỳ duy đạo đức chi hương hồ!”","content_vi":"Một hôm Trang Tử cùng với học trò đi chơi ở trong núi. Thấy một cây to, cành lá rườm rà, có người đốn gỗ chống búa đứng bên mà không chặt.\n\nTrang Tử hỏi: “Sao không chặt cây này thế?”\n\nNgười đốn gỗ đáp: “Cây này tuy thế mà gỗ xấu không dùng được việc”.\n\nTrang Tử nói: “Cây này chỉ vì không ra gì mà sống lâu được mãi”.\n\nRa khỏi núi, Trang Tử vào chơi nhà một người quen. Chủ nhà vui mừng, bảo người nhà đem chim nhạn làm thịt.\n\nNgười nhà hỏi: “Một con gáy được, một con không gáy được thì làm thịt con nào?”\n\nChủ bảo: “Làm con không gáy”.\n\nHôm sau, học trò hỏi Trang Tử rằng:\n\n“Cái cây ở núi vì bất tài mà được sống lâu, con nhạn ở nhà chủ vì bất tài mà phải giết chết. Giá như tiên sinh thì xử vào địa vị tài hay bất tài?”\n\nTrang Tử cười rồi nói: “Ta xử vào trong cái khoảng giữa tài và bất tài. Như vậy thì tránh khỏi được tai nạn song chưa phải là kế vẹn toàn. Chỉ những bậc đạo đức cao siêu, không quản khen chê, lúc như rồng lúc như rắn, không hẳn rõ ra tài hay bất tài, lúc lên lúc xuống chỉ lấy đức hòa làm mực. siêu việt cả muôn vật, tuy là người ma lại khác người… Những bậc như thế thì còn gì lụy đến thân được! Còn thói đời thường tình nào có thế? Hợp với người thì có lúc lìa tan, làm nên việc thì có người nghị luận; ngay thẳng thì bị đè nén; tôn trọng thì bị chê bai; làm thì có kẻ phá; giỏi thì có người ghen; không ra gì thì thiên hạ lại khinh bỉ… Nhân tình như thế thì làm thế nào được? Thương ôi!\n\nCác người nên ghi lấy, chỉ có đạo đức mới khỏi lụy mà thôi.","loi_ban_vi":"Tài cũng khổ: quân tử đa nạn, tài liền với tai. Bất tài cũng khổ: khôn sống dại mái, dại để người ăn. Vậy con người ta phải làm thế nào cho ở vào khoảng giữa tài và bất tài thì mới gọi là khôn khéo nghĩa là thông minh thánh trí mà như ngu thì mới sinh tồn được. Tuy vậy vẫn chưa bằng người có đạo đức, nghĩa là người chỉ lấy một cái bụng ăn ở theo thiên lương mà ra ngoài vòng được cái tài, bao bọc được hết cả thiên hạ mà không gì lụy đến thân.\n\nThế mới hay: chữ “tâm” kia mới thực là thu liễm được cái tài mà bổ cứu được cái bất tài vậy.","giai_nghia":["材 (tài): Tài năng, hữu dụng. 不材 (bất tài): Vô dụng, không ra gì.","雁 (nhạn): Con chim nhạn, ở đây có thể chỉ loài ngỗng trời.","竖子 (thụ tử): Người hầu, đứa ở trong nhà.","乘道德而浮游 (thừa đạo đức nhi phù du): Thuận theo đạo đức mà phiêu du, sống hòa hợp với tự nhiên.","物物而不物于物 (vật vật nhi bất vật vu vật): Sai khiến sự vật mà không bị sự vật sai khiến."],"tags":["Trang Tử","Triết lý sống","Tài năng","Đạo giáo"]},{"id":115,"title_vi":"QUÊN CẢ CÁI THÂN","title_zh_simp":"忘身","title_zh_trad":"忘身","title_pinyin":"Wàng shēn","title_han_viet":"QUÊN THÂN","title_en":"Forgetting Oneself","source_book":"《孔子家語》","source_author":"Khổng Tử (Confucius)","source_period":"Tiên Tần / Tây Hán (biên soạn)","content_zh_simp":"鲁哀公问于孔子曰：“吾闻有忘其妻者，有诸？”孔子对曰：“有之。此非忘之大者也。有大忘者，忘其身。”哀公曰：“何谓忘其身？”孔子对曰：“昔者夏桀，贵为天子，富有四海，然而不修先王之业，毁先王之典，信谗佞，黜忠良，般乐怠敖，流连荒亡，日以酒色田猎为务，不恤国事，遂至身死国亡，为天下笑。此非忘其身者乎？”","content_zh_trad":"魯哀公問於孔子曰：“吾聞有忘其妻者，有諸？”孔子對曰：“有之。此非忘之大者也。有大忘者，忘其身。”哀公曰：“何謂忘其身？”孔子對曰：“昔者夏桀，貴為天子，富有四海，然而不修先王之業，毀先王之典，信讒佞，黜忠良，般樂怠敖，流連荒亡，日以酒色田獵為務，不恤國事，遂至身死國亡，為天下笑。此非忘其身者乎？”","content_pinyin":"Lǔ Āi gōng wèn yú Kǒngzǐ yuē: “Wú wén yǒu wàng qí qī zhě, yǒu zhū?” Kǒngzǐ duì yuē: “Yǒu zhī. Cǐ fēi wàng zhī dà zhě yě. Yǒu dà wàng zhě, wàng qí shēn.” Āi gōng yuē: “Hé wèi wàng qí shēn?” Kǒngzǐ duì yuē: “Xī zhě Xià Jié, guì wéi tiānzǐ, fù yǒu sìhǎi, rán'ér bù xiū xiān wáng zhī yè, huǐ xiān wáng zhī diǎn, xìn chán nìng, chù zhōng liáng, pán lè dài áo, liúlián huāng wáng, rì yǐ jiǔ sè tiánliè wéi wù, bù xù guó shì, suì zhì shēn sǐ guó wáng, wèi tiānxià xiào. Cǐ fēi wàng qí shēn zhě hū?”","content_han_viet":"Lỗ Ai Công vấn vu Khổng Tử viết: “Ngô văn hữu vong kỳ thê giả, hữu chư?” Khổng Tử đối viết: “Hữu chi. Thử phi vong chi đại giả dã. Hữu đại vong giả, vong kỳ thân.” Ai Công viết: “Hà vị vong kỳ thân?” Khổng Tử đối viết: “Tích giả Hạ Kiệt, quý vi thiên tử, phú hữu tứ hải, nhiên nhi bất tu tiên vương chi nghiệp, hủy tiên vương chi điển, tín sàm nịnh, truất trung lương, bàn lạc đãi ngao, lưu liên hoang vong, nhật dĩ tửu sắc điền liệp vi vụ, bất tuất quốc sự, toại chí thân tử quốc vong, vi thiên hạ tiếu. Thử phi vong kỳ thân giả hồ?”","content_vi":"Vua Ai Công hỏi Đức Khổng Tử:\n\n- Quả nhân nghe nói có người tính hay quên, lúc dọn nhà, quên mất vợ có thật không?\n\nĐức Khổng Tử thưa rằng:\n\n- Có người quên như thế cũng chưa lấy gì làm tệ. Có người còn tệ hơn nữa, quên cả đến cái thân của mình.\n\nVua Ai Công hỏi:\n\n- Thế nào mà lại đến quên cả cái thân của mình nữa?\n\nĐức Khổng Tử nói:\n\n- Ngày xưa vua Kiệt nhà Hạ giàu có cả bốn bể, song làm đến thiên tử chỉ vì sao nhãng cơ đồ của tổ tiên, hủy điểm phát của nước nhà, tin dùng kẻ xiểm nịnh, ghét bỏ kẻ trung lương, ngày ngày say đắm sắc dục, săn bắn rượu chè, hoang du vô độ, sau đến nỗi bị ông Thang giết chết mà mất… Thế chẳng phải là thân mà quên cả thân là gì?","loi_ban_vi":"Dọn nhà không ai dọn vợ. Nhưng thí dụ có kẻ dọn nhà hoặc quên mất vợ thì thiên hạ tất lấy làm lạ lùng và buồn cười lắm. Thế mà những kẻ quên thân rất nhiều và đáng sỉ tiếu, thì lại không mấy người nghĩ đến. Phàm chưng ai đã có một sự ham mê gì, rượu chè, thuốc phiện, trai gái, cờ bạc đến quên cả tính mạng, cửa nhà, xã hội đều là quên thân rất đáng tiếc. Nhất là những bậc thông minh tài trí có quyền thế trong tay, mà quên thân thì lại đáng tiếc hơn nữa. Nên Đức Khổng Tử kể chuyện vua Kiệt mà có ý cảm hóa Ai Công vậy.","giai_nghia":["Ai Công: Vua nước Lỗ","Kiệt: Vua cuối đời nhà Hạ, tàn dân, bại vật đến nỗi mất nước","Hạ: một nhà làm vua bên Tàu đến hơn bốn trăm năm (2205- 1818)","Thang: vua đầu nhà Thương giết vua Kiệt nhà Hạ","Chú thích 1: Ai Công (魯哀公): Vua nước Lỗ thời Xuân Thu, trị vì 494-468 TCN.","Chú thích 2: Kiệt (桀): Vị vua cuối cùng của nhà Hạ, nổi tiếng là bạo chúa, bị Thành Thang (商湯) đánh bại.","Chú thích 3: Cơ đồ (基圖): Sự nghiệp, cơ nghiệp do tổ tiên để lại.","Chú thích 4: Hủy điểm (毀點): Hủy hoại, làm hư hỏng."],"tags":["Khổng Tử","Khuyên răn","Đạo trị nước","Cảnh tỉnh"]},{"id":116,"title_vi":"ĐẠI ĐỒNG","title_zh_simp":"大同","title_zh_trad":"大同","title_pinyin":"Dàtóng","title_han_viet":"ĐẠI ĐỒNG","title_en":"The Great Unity (Datong)","source_book":"《禮記·禮運》","source_author":"Khổng Tử (Confucius) - được ghi chép bởi học trò","source_period":"Tây Hán (biên soạn), ghi lại lời dạy thời Xuân Thu","content_zh_simp":"大道之行也，天下为公。选贤与能，讲信修睦，故人不独亲其亲，不独子其子，使老有所终，壮有所用，幼有所长，矜、寡、孤、独、废疾者皆有所养，男有分，女有归。货恶其弃于地也，不必藏于己；力恶其不出于身也，不必为己。是故谋闭而不兴，盗窃乱贼而不作，故外户而不闭，是谓大同。","content_zh_trad":"大道之行也，天下為公。選賢與能，講信修睦，故人不獨親其親，不獨子其子，使老有所終，壯有所用，幼有所長，矜、寡、孤、獨、廢疾者皆有所養，男有分，女有歸。貨惡其棄於地也，不必藏於己；力惡其不出於身也，不必為己。是故謀閉而不興，盜竊亂賊而不作，故外戶而不閉，是謂大同。","content_pinyin":"Dà dào zhī xíng yě, tiānxià wèi gōng. Xuǎn xián yǔ néng, jiǎng xìn xiū mù, gù rén bù dú qīn qí qīn, bù dú zǐ qí zǐ, shǐ lǎo yǒu suǒ zhōng, zhuàng yǒu suǒ yòng, yòu yǒu suǒ zhǎng, guān, guǎ, gū, dú, fèi jí zhě jiē yǒu suǒ yǎng, nán yǒu fèn, nǚ yǒu guī. Huò wù qí qì yú dì yě, bùbì cáng yú jǐ; lì wù qí bù chū yú shēn yě, bùbì wèi jǐ. Shì gù móu bì ér bù xīng, dàoqiè luànzéi ér bù zuò, gù wài hù ér bù bì, shì wèi dàtóng.","content_han_viet":"Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công. Tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục, cố nhân bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử, sử lão hữu sở chung, tráng hữu sở dụng, ấu hữu sở trưởng, quan, quả, cô, độc, phế tật giả giai hữu sở dưỡng, nam hữu phân, nữ hữu quy. Hóa ố kỳ khí vu địa dã, bất tất tàng vu kỷ; lực ố kỳ bất xuất vu thân dã, bất tất vi kỷ. Thị cố mưu bế nhi bất hưng, đạo thiết loạn tặc nhi bất tác, cố ngoại hộ nhi bất bế, thị vị đại đồng.","content_vi":"Đường lối chính trị rất cao cả mà thực hình thì thiên hạ phải là của chung của cả thiên hạ, không một người nào hay một nước nào được nhận thiên hạ làm của riêng mình. Kén chọn người có đức vọng để làm lãnh đạo, tuyển củ người có tài năng để ra gánh vác. Giao thiệp đi lại với nhau cho có chữ “tín” lỡ có hiểu lầm nhau phải phân trần ngay... Ăn ở đối đãi với nhau cần phải “hòa” lỡ có chênh lệch phải sửa đổi ngay. Có thể, tự khắc ai ai cũng đều tôn quý cha mẹ người như cha mẹ mình, ai ai cũng thân yêu con cái người như con cái mình...\n\nCủa ở trên mặt đất hay ở dưới đất, đáng ghét nhất là ngu dại bỏ phí bỏ hoài, không biết tăng gia, không biết khai thác, không biết lợi dụng. Có biết mà làm được, cần phải cùng hưởng, cùng dùng, chớ có vơ cả làm của riêng.\n\nĐã là người thời chẳng nhiều thì ít, ai cũng có sức lực và năng lực, đáng ghét nhất là lười biếng, chỉ thích ỷ lại hay thích đài đệ, không chịu dùng sức mình để cung cấp, không chịu đem năng lực để đảm nhiệm công việc chung.\n\nNhư việc dùng sức lực năng lực, cần phải cống hiến cho quần chúng, chớ có làm hay riêng cho bản thân là cá nhân...\n\nCó thế thới cơ mưu gian trá mới không nẩy ra và trộm cướp tự nhiên tiêu diệt Đại khái như thế mới gọi là “ đại đồng”.\n\nLễ ký","loi_ban_vi":": Thuyết đại đồng nêu ra tự đời Xuân Thu mấy nghìn năm về trước nghe cũng đã lấy làm vui sướng, huống chi đến đời chúng ta ngày nay, cái đời tranh sống chết kịch liệt, ta được nghe thì lấy làm vui sướng và ao ước biết chừng nào! Lý tưởng đại đồng sống chung với nhau đấy tín nghĩa thân ái, người với ta như một, sung sướng hưởng chung, chỉ những hòa thuận và hòa bình bồng lai và nát bàn thật. Lý tưởng quý báu cao cả ấy có thực hiện được không? Ai ai cũng có chân tâm mà làm thực sự, sao lại không thực hiện được.\n\nKhốn nỗi, người sẵn chân tâm mà làm thực sự, có nhưng rất hiếm; kẻ giả danh giả nhân nghĩa, khéo lợi dụng thì lại quá nhiều. Vả lại, nhân loại truy nguyên ra thì trong đầu óc vẫn rớt lại những thú tính, thâm dâm hung tàn. Đa số chỉ có nghĩ lành, nói lành, ước ao lành, cầu người lành bắt, người làm lành, mà chính thân thì ác. Thậm chí người ta phải nói: “Người là giống rất tàn ác hơn cả các loài mãnh thú”. Người lúc nào cũng làm khổ người thì đại đồng bao giờ mới thực hiện được.","giai_nghia":["Chú thích 1: Đại Đồng (大同): Khái niệm về một xã hội lý tưởng, công bằng, nơi mọi người sống hòa thuận và chia sẻ.","Chú thích 2: Lễ Ký (禮記): Một trong Ngũ Kinh của Nho giáo, ghi chép các nghi lễ và quy tắc ứng xử thời cổ đại.","Chú thích 3: Lễ Vận (禮運): Một thiên trong Kinh Lễ, nói về sự vận hành của lễ nghĩa trong xã hội.","Chú thích 4: Khổng Tử (孔子): Nhà tư tưởng, triết gia vĩ đại người Trung Quốc (551-479 TCN), người sáng lập Nho giáo."],"tags":["Nho giáo","Xã hội lý tưởng","Lễ Ký","Khổng Tử"]},{"id":117,"title_vi":"CẦU Ở MÌNH HƠN CẦU Ở NGƯỜI","title_zh_simp":"求己胜求人","title_zh_trad":"求己勝求人","title_pinyin":"Qiú jǐ shèng qiú rén","title_han_viet":"CẦU KỶ THẮNG CẦU NHÂN","title_en":"Seeking Within Oneself Over Seeking Others","source_book":"《韓詩外傳》","source_author":"Hàn Anh (Han Ying)","source_period":"Tây Hán (Western Han Dynasty)","content_zh_simp":"魏文侯问狐卷子曰：“父贤足恃乎？”对曰：“不足。”“子贤足恃乎？”对曰：“不足。”“兄贤足恃乎？”对曰：“不足。”“弟贤足恃乎？”对曰：“不足。”“臣贤足恃乎？”对曰：“不足。”文侯勃然作色而怒曰：“寡人问此五者于子，一一皆以为不足者，何也？”狐卷子曰：“父贤不过尧，而丹朱放；子贤不过舜，而瞽瞍顽；兄贤不过舜，而象傲；弟贤不过周公，而管叔诛；臣贤不过汤、武，而桀、纣伐。望人者不至，恃人者不久。君欲治，从身始，人何可恃乎？”","content_zh_trad":"魏文侯問狐卷子曰：“父賢足恃乎？”對曰：“不足。”“子賢足恃乎？”對曰：“不足。”“兄賢足恃乎？”對曰：“不足。”“弟賢足恃乎？”對曰：“不足。”“臣賢足恃乎？”對曰：“不足。”文侯勃然作色而怒曰：“寡人問此五者於子，一一皆以為不足者，何也？”狐卷子曰：“父賢不過堯，而丹朱放；子賢不過舜，而瞽瞍頑；兄賢不過舜，而象傲；弟賢不過周公，而管叔誅；臣賢不過湯、武，而桀、紂伐。望人者不至，恃人者不久。君欲治，從身始，人何可恃乎？”","content_pinyin":"Wèi Wénhóu wèn Hú Juǎnzǐ yuē: “Fù xián zú shì hū?” Duì yuē: “Bùzú.” “Zǐ xián zú shì hū?” Duì yuē: “Bùzú.” “Xiōng xián zú shì hū?” Duì yuē: “Bùzú.” “Dì xián zú shì hū?” Duì yuē: “Bùzú.” “Chén xián zú shì hū?” Duì yuē: “Bùzú.” Wénhóu bórán zuòsè ér nù yuē: “Guǎrén wèn cǐ wǔ zhě yú zǐ, yīyī jiē yǐwéi bùzú zhě, hé yě?” Hú Juǎnzǐ yuē: “Fù xián bùguò Yáo, ér Dānzhū fàng; zǐ xián bùguò Shùn, ér Gǔsǒu wán; xiōng xián bùguò Shùn, ér Xiàng ào; dì xián bùguò Zhōugōng, ér Guǎnshū zhū; chén xián bùguò Tāng, Wǔ, ér Jié, Zhòu fá. Wàng rén zhě bù zhì, shì rén zhě bùjiǔ. Jūn yù zhì, cóng shēn shǐ, rén hé kě shì hū?”","content_han_viet":"Ngụy Văn Hầu vấn Hồ Quyển Tử viết: “Phụ hiền túc thị hồ?” Đối viết: “Bất túc.” “Tử hiền túc thị hồ?” Đối viết: “Bất túc.” “Huynh hiền túc thị hồ?” Đối viết: “Bất túc.” “Đệ hiền túc thị hồ?” Đối viết: “Bất túc.” “Thần hiền túc thị hồ?” Đối viết: “Bất túc.” Văn Hầu bột nhiên tác sắc nhi nộ viết: “Quả nhân vấn thử ngũ giả ư tử, nhất nhất giai dĩ vi bất túc giả, hà dã?” Hồ Quyển Tử viết: “Phụ hiền bất quá Nghiêu, nhi Đan Chu phóng; tử hiền bất quá Thuấn, nhi Cổ Tẩu ngoan; huynh hiền bất quá Thuấn, nhi Tượng ngạo; đệ hiền bất quá Chu Công, nhi Quản Thúc tru; thần hiền bất quá Thang, Vũ, nhi Kiệt, Trụ phạt. Vọng nhân giả bất chí, thị nhân giả bất cửu. Quân dục trị, tòng thân thủy, nhân hà khả thị hồ?”","content_vi":"Ngụy Văn Hầu hỏi Hồ Quyển Tử:\n\n- Cha hiền có đủ nhờ cậy không?\n\nHồ Quyển Tử thưa:\n\n- Không đủ\n\n- Con hiền có đủ nhờ cậy không?\n\n- Không đủ\n\n- Anh hiền có đủ nhờ cậy không?\n\n- Không đủ\n\n- Bầy tôi hiền có đủ nhờ cậy không?\n\n- Không đủ Văn Hầu đổi sắc mặt, gắt rằng:\n\n- Quả nhân hỏi nhà ngươi năm điều mà điều nào ngươi cũng cho là không đủ tại cớ làm sao?\n\nHồ Quyển Tử nói:\n\n- Cha hiền không ai hơn vua Nghiêu mà con là Đan Chu phải bị đuổi. Con hiền không ai hơn vua Thuấn mà cha là Cổ Tẩu thực ngang ngạnh. Anh hiền không ai hơn vua Thuấn mà em là Tượng rất ngạo mạn. Em hiền không ai hơn là ông Chu Công mà Quản Thúc bị giết. Bầy tôi hiền không ai hơn ông Thang, ông Vũ mà vua Kiệt, vua Trụ mất nước... Mong người không được như ý, cậy người không được bền lâu. Nhà vua muốn cho nước được bình trị, thì phải cậy ở mình trước, hơn là mong nhờ người.\n\nHàn thi ngoại truyện Giải nghĩa:\n\n- Ngụy Văn Hầu: vua nước Ngụy.\n\n- Hồ Quyển Tử: người nước Ngụy.\n\n- Hiền: người có phẩm hạnh có học thức tài năng.\n\n- Đan Chu: con vua Nghiêu tên là Chu phong cho ở đất Đan nên gọi là Đan Chu. Vua Nghiêu phải phóng( bỏ) Đan Chu vì Đan Chu là đứa con bất hiếu.\n\n- Thuấn: tên Đào họ Diệu, nối vua Nghiêu mà trị thiên hạ (nhà Ngu).\n\n- Cổ Tẩu: cha vua Thuấn.\n\n- Tượng: em vua Thuấn nhưng khác *** là người ngạo mạn vô lễ.\n\n- Chu Công: tên Đán em của Vũ Vương, phong ở nước Lỗ lúc vua Vũ Vương mất, vua Thành Vương còn bé lên ngôi giúp việc nên thiên hạ đại trị.\n\n- Quản Thúc: tên là Tiên anh Chu Công được phong ở đất Quản, về bè dư đảng nhà Ân, phản nhà Chu nên bị Chu Công giết.\n\n- Thang: họ Tự tên Lý, trước là chư hầu vua Kiệt nhà Hạ, nhưng vì vua Kiệt vô đạo nên mới nổi dậy đánh lấy nước mà lập ra nhà Thương\n\n- Vũ: tên là Phát con vua Văn Vương bầy tôi vua Trụ nhà Thương, nhưng vì vua Trụ bạo ngược, Vũ Vương đánh lấy nước lên ngôi Thiên tử đặt ra nhà Chu.","loi_ban_vi":": Cốt ý Văn Hầu nước Ngụy là chỉ muốn hỏi có thể nhờ cậy được bấy tôi không, nhưng lúc đầu có mượn mấy câu hỏi đến cha con, anh em rồi mới dẫn đến vua tôi. Hồ Quyển Tử đáp như thế là rất phải. Cha tuy từ với con, con tuy hiếu với cha, anh tuy yêu em, em tuy kính anh, bấy tôi tuy trung với vua, nhưng mỗi người vị tất đã là hay được đủ mọi vẻ. Nếu mình không cần chịu ở mình, chỉ biết cầu những bậc ấy để đến nỗi thất đức, thì chẳng những không lợi gì mà còn hại đến thân mình nữa. Ta mong người, nhưng người ai cũng có thân, không ai bỏ cái thân mình để giúp cho ta, ta cậy người, nhưng người cũng có lúc cùng, không thể suốt đời mà đỡ đần ta được. Vậy ta ở đời, chẳng nên chỉ biết mong cậy vào người. Ta phải biết tự chủ tự lập, chớ có bỏ mình mà cầu người. Câu “Quân tử cầu chư kỷ” trong Luận ngữ và câu “ Aide toi, le Ciet t’aidera” của Âu học, thực đáng làm phương châm cho cách lập chí ở đời này.","giai_nghia":["Ngụy Văn Hầu (魏文侯): Vua nước Ngụy thời Chiến Quốc, tên là Tư (斯), trị vì từ năm 445 TCN đến năm 396 TCN.","Hồ Quyển Tử (狐卷子): Người nước Ngụy, một hiền sĩ thời Chiến Quốc.","Đan Chu (丹朱): Con trai vua Nghiêu, bất tài vô đức nên Nghiêu không truyền ngôi mà truyền cho Thuấn.","Cổ Tẩu (瞽瞍): Cha của vua Thuấn, là người ngu muội, không phân biệt phải trái.","Tượng (象): Em trai khác mẹ của vua Thuấn, nhiều lần mưu hại Thuấn.","Chu Công (周公): Tên là Đán (旦), em trai của Vũ Vương nhà Chu, một vị thánh nhân trị vì giúp Thành Vương.","Quản Thúc (管叔): Tên là Tiên (鮮), anh trai của Chu Công, cùng với Sái Thúc, Hoắc Thúc làm loạn, bị Chu Công dẹp và giết.","Thang (湯): Tức Thành Thang, vua sáng lập nhà Thương, đánh bại vua Kiệt nhà Hạ.","Vũ (武): Tức Vũ Vương, vua sáng lập nhà Chu, đánh bại vua Trụ nhà Thương."],"tags":["Tự lập","Đạo trị quốc","Khuyên răn","Cổ Học Tinh Hoa"]},{"id":118,"title_vi":"HÒA THUẬN VỚI MỌI NGƯỜI","title_zh_simp":"和顺待人","title_zh_trad":"和順待人","title_pinyin":"Hé shùn dài rén","title_han_viet":"HÒA THUẬN ĐÃI NHÂN","title_en":"Harmony and Gentleness in Dealing with Others","source_book":"《東坡志林》","source_author":"Tô Thức (Su Shi)","source_period":"Bắc Tống (Northern Song Dynasty)","content_zh_simp":"刘凝之尝为认履，即与之。后其人得履，送还，凝之不肯复取。沈麟士亦为认履，笑曰：“是卿履耶？”即与之。后邻人得履，送还，麟士曰：“非卿履耶？”笑而受之。此虽小事，然处世当如麟士，不当如凝之也。","content_zh_trad":"劉凝之嘗為認履，即與之。後其人得履，送還，凝之不肯復取。沈麟士亦為認履，笑曰：“是卿履耶？”即與之。後鄰人得履，送還，麟士曰：“非卿履耶？”笑而受之。此雖小事，然處世當如麟士，不當如凝之也。","content_pinyin":"Liú Níngzhī cháng wéi rèn lǚ, jí yǔ zhī. Hòu qí rén dé lǚ, sòng huán, Níngzhī bù kěn fù qǔ. Shěn Línshì yì wéi rèn lǚ, xiào yuē: “Shì qīng lǚ yé?” Jí yǔ zhī. Hòu lín rén dé lǚ, sòng huán, Línshì yuē: “Fēi qīng lǚ yé?” Xiào ér shòu zhī. Cǐ suī xiǎo shì, rán chǔshì dāng rú Línshì, bù dāng rú Níngzhī yě.","content_han_viet":"Lưu Ngưng Chi thường vi nhận lí, tức dữ chi. Hậu kỳ nhân đắc lí, tống hoàn, Ngưng Chi bất khẳng phục thủ. Thẩm Lân Sĩ diệc vi nhận lí, tiếu viết: “Thị khanh lí da?” Tức dữ chi. Hậu lân nhân đắc lí, tống hoàn, Lân Sĩ viết: “Phi khanh lí da?” Tiếu nhi thụ chi. Thử tuy tiểu sự, nhiên xử thế đương như Lân Sĩ, bất đương như Ngưng Chi dã.","content_vi":"Lưu Ngưng Chi đang đi giày, có người đến nhận, ông đưa ngay. Sau người ấy tìm thấy giày, đem giày ông trả lại. Ông nhất định không nhận nữa.\n\nThẩm Lân Sĩ đang đi giày. Cũng có người đến nhận. Ông cười hỏi: “ Giày của bác à?”. Rồi ông đưa ngay. Sau, người láng giềng tìm thấy giày đem giày ông trả lại. Ông nói: “ Không phải của bác à?” Ông cười rồi nhận.\n\nViệc này tuy nhỏ mọn. Song ở đời, ta nên cư xử như ông Lân Sĩ, không nên như ông Ngưng Chi.\n\nTô Thức","loi_ban_vi":": Giày của mình, mình đang đi, có người đến nhận mà mình cũng đưa, không thèm cãi “ của tao của mày” như Ngưng Chi và Lân Sĩ thực ở đời cũng là hiếm có vậy. Kíp khi người ta tìm thấy giày của người ta, đem giày mình lại trả là người ta đã biết lỗi lầm. Nếu mình khăng khăng không chịu nhận, là mình quá ư nghiêm khắc mà làm ngăn trở cái lòng hối quá của người ta. Sao bằng nhận mới tỏ rõ tấm lòng bao dung được người, cả lúc người lầm cả lúc người biết lầm. Như thế mới thực là người đầy hòa khí để cư xử với quần chúng vậy.","giai_nghia":[":","Lưu Ngưng Chi: người đời Tống (Nam triều) tính khẳng khái, phần gia tài của mình nhường cả cho anh em mà tự thực kỳ lực. Vua triệu ra làm quan không chiu ra chỉ thích ngao du sơn thủy.","Thẩm Lân Sĩ: người đời Nam Tề, học thức rộng, không chịu ra làm quan, chỉ thích dạy học và trước thuật.","Tô Thức: tức Tô Đông Pha là một nhà đại thi sĩ nước Tàu làm quan đời nhà Tống, văn hay chữ tốt, sách làm kể có hàng vài trăm quyển lưu truyền ở đời.","Lưu Ngưng Chi (劉凝之): Người đời Nam Bắc triều, tính tình cao khiết, không màng danh lợi.","Thẩm Lân Sĩ (沈麟士): Người đời Nam Bắc triều, nổi tiếng hiếu học, đức độ bao dung.","Tô Thức (蘇軾): Nhà văn, nhà thơ lớn thời Bắc Tống, tự Tử Chiêm, hiệu Đông Pha cư sĩ.","Câu chuyện này nằm trong tác phẩm 'Đông Pha Chí Lâm' (东坡志林) của Tô Thức."],"tags":["Bao dung","Xử thế","Đức hạnh","Cổ Học Tinh Hoa"]},{"id":119,"title_vi":"MẤT CUNG","title_zh_simp":"楚王失弓","title_zh_trad":"楚王失弓","title_pinyin":"Chǔ Wáng shī gōng","title_han_viet":"SỞ VƯƠNG THẤT CUNG","title_en":"The King of Chu Loses His Bow","source_book":"《說苑·至公》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"楚共王出猎而遗其弓，左右请求之。王曰：“止！楚人遗弓，楚人得之，又何求焉？”仲尼闻之曰：“惜乎其不大也！亦曰‘人遗弓，人得之’而已，何必楚也？”","content_zh_trad":"楚共王出獵而遺其弓，左右請求之。王曰：「止！楚人遺弓，楚人得之，又何求焉？」仲尼聞之曰：「惜乎其不大也！亦曰『人遺弓，人得之』而已，何必楚也？」","content_pinyin":"Chǔ Gòngwáng chūliè ér yí qí gōng, zuǒyòu qǐngqiú zhī. Wáng yuē: “Zhǐ! Chǔ rén yí gōng, Chǔ rén dé zhī, yòu hé qiú yān?” Zhòngní wén zhī yuē: “Xī hū qí bù dà yě! Yì yuē ‘rén yí gōng, rén dé zhī’ éryǐ, hébì Chǔ yě?”","content_han_viet":"Sở Cung Vương xuất liệp nhi di kỳ cung, tả hữu thỉnh cầu chi. Vương viết: “Chỉ! Sở nhân di cung, Sở nhân đắc chi, hựu hà cầu yên?” Trọng Ni văn chi viết: “Tích hồ kỳ bất đại dã! Diệc viết ‘nhân di cung, nhân đắc chi’ nhi dĩ, hà tất Sở dã?”","content_vi":"Vua Cung Vương nước Sở đi săn, giữa đường đánh mất cung. Các quan theo hầu cố xin tìm cho được. Vua Cung Vương nói:\n\nThôi tìm làm gì nữa! Người nước Sở đánh mất cung, lại người nước Sở bắt được cung, đi đâu mà thiệt.\n\nĐức Khổng Tử nghe thấy chuyện bảo:\n\nĐáng tiếc cho cái chí vua nước Sở không làm to hơn được nữa! Hà tất phải nói: “ Người nước Sở? ” Giá nói: “ người đánh mất cung, lại người nhặt được cung thì chẳng hơn ư?”","loi_ban_vi":": Vua đánh mất cung, không nghe lời các quan bắt tìm cung, thế là có lòng thương dân, không muốn làm phiền đến dân. Vua lại nói một người nước Sở mất cung chịu thiệt, thì có một người nước Sở được cung có lợi, thế là đã có lòng muốn lợi cho dân cả một nước. Tuy vậy, Đức Khổng Tử chê là hẹp, là vì vua Sở chỉ biết có người nước Sở lấy bờ cõi nước Sở mà làm giới hạn cho cái lòng nhân ái của mình. Cứ như ngài nói, mời thực rõ cái nghĩa bác ái, tức là cái lòng rộng yêu hết cả nhân loại, không phân di chủng hay ngoại quốc gì nữa. Cùng một ý với câu thầy Hạ Tử nhắc lời ngài mà đáp Tư Mã Ngưu là không có anh em rằng: “Người bốn bể đều là anh em cả”.\n\nNói rộng ra: chỉ có lý vô phân biệt, trí vô phân biệt, vật ngã nhất thể thì mới hết sạch chướng ngại mà hoan hỉ vô cùng!","giai_nghia":["Sở Cung Vương: Vua nước Sở thời Xuân Thu, tên là Hùng Thận.","Trọng Ni: Tên tự của Khổng Tử.","Bác ái: Tình yêu thương rộng rãi đối với mọi người, không phân biệt."],"tags":["Lòng nhân ái","Bác ái","Khổng Tử","Sở Cung Vương","Triết lý nhân sinh"]},{"id":120,"title_vi":"MUÔN VẬT MỘT LOÀI","title_zh_simp":"田氏视天","title_zh_trad":"田氏視天","title_pinyin":"Tián shì shì tiān","title_han_viet":"ĐIỀN THỊ THỊ THIÊN","title_en":"The Tian Family's Feast","source_book":"《列子·说符》","source_author":"Liệt Ngự Khấu","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"齐田氏祖于庭，食客千人。中坐有献鱼雁者，田氏视之，乃叹曰：“天之于民厚矣！殖五谷，生鱼鸟，以为之用。”众客和之如响。鲍氏之子年十二，预于次，进曰：“不如君言。天地万物与我并生，类也。类无贵贱，徒以小大智力而相制，迭相食；非相为而生之。人取可食者而食之，岂天本为人生之？且蚊蚋噆肤，虎狼食肉，非天本为蚊蚋生人、虎狼生肉者哉？”","content_zh_trad":"齊田氏祖於庭，食客千人。中坐有獻魚雁者，田氏視之，乃嘆曰：「天之於民厚矣！殖五穀，生魚鳥，以為之用。」眾客和之如響。鮑氏之子年十二，預於次，進曰：「不如君言。天地萬物與我並生，類也。類無貴賤，徒以小大智力而相制，迭相食；非相為而生之。人取可食者而食之，豈天本為人生之？且蚊蚋噆膚，虎狼食肉，非天本為蚊蚋生人、虎狼生肉者哉？」","content_pinyin":"Qí Tián shì zǔ yú tíng, shí kè qiān rén. Zhōng zuò yǒu xiàn yú yàn zhě, Tián shì shì zhī, nǎi tàn yuē: “Tiān zhī yú mín hòu yǐ! Zhí wǔgǔ, shēng yú niǎo, yǐ wéi zhī yòng.” Zhòng kè hè zhī rú xiǎng. Bào shì zhī zǐ nián shí'èr, yù yú cì, jìn yuē: “Bùrú jūn yán. Tiāndì wànwù yǔ wǒ bìng shēng, lèi yě. Lèi wú guìjiàn, tú yǐ xiǎo dà zhìlì ér xiāng zhì, dié xiāng shí; fēi xiāng wèi ér shēng zhī. Rén qǔ kě shí zhě ér shí zhī, qǐ tiān běn wèi rén shēng zhī? Qiě wén ruì zǎn fū, hǔ láng shí ròu, fēi tiān běn wèi wén ruì shēng rén, hǔ láng shēng ròu zhě zāi?”","content_han_viet":"Tề Điền thị tổ vu đình, thực khách thiên nhân. Trung tọa hữu hiến ngư nhạn giả, Điền thị thị chi, nãi thán viết: “Thiên chi vu dân hậu hĩ! Thực ngũ cốc, sinh ngư điểu, dĩ vi chi dụng.” Chúng khách họa chi như hưởng. Bão thị chi tử niên thập nhị, dự vu thứ, tiến viết: “Bất như quân ngôn. Thiên địa vạn vật dữ ngã tịnh sinh, loại dã. Loại vô quý tiện, đồ dĩ tiểu đại trí lực nhi tương chế, điệp tương thực; phi tương vị nhi sinh chi. Nhân thủ khả thực giả nhi thực chi, khởi thiên bản vị nhân sinh chi? Thả văn nhuế tạp phu, hổ lang thực nhục, phi thiên bản vị văn nhuế sinh nhân, hổ lang sinh nhục giả tai?”","content_vi":"Người họ Điền nước Tề sắp phải đi xa, làm tiệc để cáo biệt anh em. Khách mời kể có cả nghìn người. Cỗ bàn đủ thứ sơn hào hải vị. Lúc ăn đến món chim, món cá, ngưới họ Điền trông thấy, nói rằng: “Trời đãi người hậu thật!\n\nSinh ra thóc lúa, sinh ra chim cá, không thiếu thứ gì để con người dùng”. Bao nhiêu khách ăn đồng thanh khen câu nói ấy là phải. Duy có đứa con họ Bão, tuổi mới mười hai, đứng dậy nói rằng:\n\nCứ như ý tôi thì câu nói ấy là không phải. Muôn vật trong trời đất là cùng sinh ra với ta, cùng một loài như ta, không có gì là sang hay hèn cả. Sang hèn mà phân biệt chẳng qua là các loại chế lẫn nhau, lớn nuốt nhỏ,khôn đè dại, khỏe lấn yếu mà thôi. Chớ nào có phải trời vì loài này mà sinh ra loài khác đâu. Người ta có cái gì ăn được thì lấy làm mà ăn, chớ trời nào lại vị người mà sinh ra thứ nọ thứ kia? Cứ theo cái lý ấy, ruồi muỗi hút máu người, hổ lang ăn thịt người, thì có nói được trời vì những giống ấy mà sinh ra người không?”","loi_ban_vi":": Người ta ở trong khoảng trời đất thường hay tự phụ mình làm chủ trương cho cả muôn vật. Vì mình mà muôn vật phải sinh, vì mình mà cây thóc mọc, mà con lợn béo, mà con tằm nhả tơ, con ong gây mật, cho đến cả mặt trời sáng ban ngày, ngôi sao lóng lành ban đêm. Nhưng xét lại, thì loài người chẳng qua cũng chỉ là một loài cùng sinh, cùng sống như muôn loài trong trời đất. Loài người sở dĩ hơn vật là chỉ hơn có chút trí khôn mà thôi.\n\nNên như câu nói như đứa bé họ Bão mới thực là cao rộng, hiểu được cái vạn vật, tịnh sinh ở đời vậy.","giai_nghia":["Điền thị: Người họ Điền, một gia tộc quyền quý ở nước Tề.","Tổ (祖): Lễ cúng thần đường, hoặc tiệc tiễn hành.","Bão thị chi tử: Con trai họ Bão, một cậu bé thông minh, hiểu biết."],"tags":["Triết lý tự nhiên","Bình đẳng","Nhân sinh quan","Liệt Tử","Phê phán thuyết thiên mệnh"]},{"id":121,"title_vi":"LÚC NÀO ĐƯỢC NGHỈ","title_zh_simp":"何時得息","title_zh_trad":"何時得息","title_pinyin":"Hé shí dé xī","title_han_viet":"HÀ THỜI ĐẮC TỨC","title_en":"When Can One Rest?","source_book":"《孔子家語》","source_author":"Khổng Tử","source_period":"Tiên Tần","content_zh_simp":"子贡问于孔子曰：“赐倦于学，困于道，欲息事君，可乎？”孔子曰：“《诗》云：‘温恭朝夕，执事有恪。’事君之难也，焉可息哉！”曰：“然则赐愿息事亲。”孔子曰：“《诗》云：‘孝子不匮，永锡尔类。’事亲之难也，焉可息哉！”曰：“然则赐愿息于妻子。”孔子曰：“《诗》云：‘刑于寡妻，至于兄弟，以御于家邦。’妻子之难也，焉可息哉！”曰：“然则赐愿息于朋友。”孔子曰：“《诗》云：‘朋友攸摄，摄以威仪。’朋友之难也，焉可息哉！”曰：“然则赐愿息耕。”孔子曰：“《诗》云：‘昼尔于茅，宵尔索绹，亟其乘屋，其始播百谷。’耕之难也，焉可息哉！”曰：“然则赐无息乎？”孔子曰：“望其圹，皋如也，宰如也，坟如也，鬲如也，则知所息矣。”子贡曰：“大哉死乎！君子息焉，小人休焉。大哉死乎！”","content_zh_trad":"子貢問於孔子曰：“賜倦於學，困於道，欲息事君，可乎？”孔子曰：“《詩》云：‘溫恭朝夕，執事有恪。’事君之難也，焉可息哉！”曰：“然則賜願息事親。”孔子曰：“《詩》云：‘孝子不匱，永錫爾類。’事親之難也，焉可息哉！”曰：“然則賜願息於妻子。”孔子曰：“《詩》云：‘刑於寡妻，至於兄弟，以御於家邦。’妻子之難也，焉可息哉！”曰：“然則賜願息於朋友。”孔子曰：“《詩》云：‘朋友攸攝，攝以威儀。’朋友之難也，焉可息哉！”曰：“然則賜願息耕。”孔子曰：“《詩》云：‘晝爾於茅，宵爾索綯，亟其乘屋，其始播百穀。’耕之難也，焉可息哉！”曰：“然則賜無息乎？”孔子曰：“望其壙，皋如也，宰如也，墳如也，鬲如也，則知所息矣。”子貢曰：“大哉死乎！君子息焉，小人休焉。大哉死乎！”","content_pinyin":"Zǐgòng wèn yú Kǒngzǐ yuē: “Cì juàn yú xué, kùn yú dào, yù xī shì jūn, kě hū?” Kǒngzǐ yuē: “《Shī》 yún: ‘wēn gōng zhāo xī, zhí shì yǒu kè.’ shì jūn zhī nán yě, yān kě xī zāi!” Yuē: “Rán zé Cì yuàn xī shì qīn.” Kǒngzǐ yuē: “《Shī》 yún: ‘xiào zǐ bù kuì, yǒng xī ěr lèi.’ shì qīn zhī nán yě, yān kě xī zāi!” Yuē: “Rán zé Cì yuàn xī yú qīzǐ.” Kǒngzǐ yuē: “《Shī》 yún: ‘xíng yú guǎ qī, zhì yú xiōngdì, yǐ yù yú jiā bāng.’ qīzǐ zhī nán yě, yān kě xī zāi!” Yuē: “Rán zé Cì yuàn xī yú péngyǒu.” Kǒngzǐ yuē: “《Shī》 yún: ‘péngyǒu yōu shè, shè yǐ wēiyí.’ péngyǒu zhī nán yě, yān kě xī zāi!” Yuē: “Rán zé Cì yuàn xī gēng.” Kǒngzǐ yuē: “《Shī》 yún: ‘zhòu ěr yú máo, xiāo ěr suǒ táo, jí qí chéng wū, qí shǐ bō bǎi gǔ.’ gēng zhī nán yě, yān kě xī zāi!” Yuē: “Rán zé Cì wú xī hū?” Kǒngzǐ yuē: “Wàng qí kuàng, gāo rú yě, zǎi rú yě, fén rú yě, lì rú yě, zé zhī suǒ xī yǐ.” Zǐgòng yuē: “Dà zāi sǐ hū! Jūnzǐ xī yān, xiǎorén xiū yān. Dà zāi sǐ hū!”","content_han_viet":"Tử Cống vấn vu Khổng Tử viết: “Tứ quyện vu học, khốn vu đạo, dục tức sự quân, khả hồ?” Khổng Tử viết: “《Thi》 vân: ‘ôn cung triêu tịch, chấp sự hữu khác.’ sự quân chi nan dã, yên khả tức tai!” Viết: “Nhiên tắc Tứ nguyện tức sự thân.” Khổng Tử viết: “《Thi》 vân: ‘hiếu tử bất quỹ, vĩnh tích nhĩ loại.’ sự thân chi nan dã, yên khả tức tai!” Viết: “Nhiên tắc Tứ nguyện tức vu thê tử.” Khổng Tử viết: “《Thi》 vân: ‘hình vu quả thê, chí vu huynh đệ, dĩ ngự vu gia bang.’ thê tử chi nan dã, yên khả tức tai!” Viết: “Nhiên tắc Tứ nguyện tức vu bằng hữu.” Khổng Tử viết: “《Thi》 vân: ‘bằng hữu du nhiếp, nhiếp dĩ uy nghi.’ bằng hữu chi nan dã, yên khả tức tai!” Viết: “Nhiên tắc Tứ nguyện tức canh.” Khổng Tử viết: “《Thi》 vân: ‘trú nhĩ vu mao, tiêu nhĩ sách đào, cấp kỳ thừa ốc, kỳ thủy bá bách cốc.’ canh chi nan dã, yên khả tức tai!” Viết: “Nhiên tắc Tứ vô tức hồ?” Khổng Tử viết: “Vọng kỳ quáng, cao như dã, tể như dã, phần như dã, cách như dã, tắc tri sở tức hĩ.” Tử Cống viết: “Đại tai tử hồ! Quân tử tức yên, tiểu nhân hưu yên. Đại tai tử hồ!”","content_vi":"Thầy Tử Cống hỏi Đức Khổng Tử:\n\n- Tử này mệt về học, khốn về đạo, bây giờ muốn nghỉ để thờ vua có nên không?\n\nĐức Khổng Tử nói:\n\nPhàm làm tôi thờ vua, sớm tối kính cẩn, mà cho trọn được chức trách cũng là việc khó, nghỉ thế nào được!\n\n- Vậy xin nghỉ để thời song thân\n\n- Lòng con hiếu thờ cha mẹ thật vô cùng lại có thể lấy sự hiếu thảo của mình cảm hóa được lòng người cũng là việc khó, nghỉ thế nào được!\n\n- Vậy xin nghỉ để vui chơi với vợ con\n\n- Đạo làm chồng phải làm gương cho vợ, lại để cho anh em và thiên hạ trông vào mà bắt chước cũng là việc khó, nghỉ thế nào được!\n\n- Vậy xin nghỉ để chơi với bầu bạn\n\n- Nghĩa bầu bạn phải giúp đỡ nhau, hết lòng hết sức với nhau, cũng là việc khó, nghỉ thế nào được!\n\n- Vậy xin nghỉ để làm ruộng\n\n- Công việc nhà nông phải cấy cày gặt hái hai sương một nắng, chân lấm tay bùn, cũng là việc khó, nghỉ thế nào được!\n\n- Như thế thì Tử này không lúc nào được nghỉ ư?\n\n- Có chứ. Lúc nào ngắm thấy cái huyệt đào nhẵn nhụi, trông thấy cái mồ đắp chắc chắn, ngó thấy người đi đưa cách biệt hẳn mình, ấy lúc bấy giờ mới là lúc nghỉ được đó Thầy Tử Cống nói:\n\nNhư thế cái chết chẳng là cái hay à! Người quân tử đến bấy giờ được nghỉ, kẻ tiểu nhân đến bấy giờ mới chịu thôi, cái chết thật là hay vậy!\n\nGia ngữ","loi_ban_vi":": Học tập một môn học, nghiên cứu một đạo, lý, càng đi càng thấy dài, càng lên càng thấy cao. Lập chí không bền thấy khó mà thôi (nghỉ) thì chẳng bán đồ nhi phế ngay lập tức.\n\nThần hạ đối với quân trưởng, con cái đối với cha *** vợ chồng bầu bạn ăn ở với nhau đều có bổn phận phải làm sao cho đầy đủ không tận tâm tận lực (nghỉ) thì thiếu bổn phận và rối loạn ngay lập tức.\n\nCanh nông hay thương mại, thuyền thợ hay quân nhân... ai nấy có một chức nghiệp, chểnh mảng không chu đáo (nghỉ) thì thiếu lương tâm nhà nghề ngay lập tức.\n\nLàm cho đầy đủ, phần ấm cho thân, phần ích cho người, tất cả phải lao tâm lao lực. Thế thì muốn nghỉ sao được. Vì nghỉ là đứng lại thì muôn sự đình trệ ngay. Người ta hay ở tiến lên cố tiến lên, tiến lên mãi mãi, tiến lên đến hơi thở cuối cùng, rồi ta trở về cái nhà đại tạo mà nghỉ ngơi yên tĩnh, lại chả hoan hỉ lắm ru!","giai_nghia":["Tử Cống học trò giỏi của Đức Khổng Tử.","Tử: tên thầy Tử Cống theo lễ tục, khi hầu chuyện những người bề trên như cha, như vua, như thầy, thì phải xưng tên.","Tử Cống (子貢): tên thật là Đoan Mộc Tứ (端木賜), học trò giỏi của Khổng Tử.","Khổng Tử (孔子): nhà tư tưởng, triết gia nổi tiếng thời Xuân Thu.","Các câu thơ trích từ Kinh Thi (《詩經》) để minh họa cho từng hoàn cảnh."],"tags":["Khổng Tử","Nghỉ ngơi","Trách nhiệm","Sự sống và cái chết"]},{"id":122,"title_vi":"CÓ CHỊU LO, CHỊU LÀM MỚI SỐNG ĐƯỢC","title_zh_simp":"有憂勤乃生","title_zh_trad":"有憂勤乃生","title_pinyin":"Yǒu yōu qín nǎi shēng","title_han_viet":"HỮU ƯU CẦN NÃI SINH","title_en":"Only Through Worry and Toil Can One Live","source_book":"《東萊博議》","source_author":"Lã Tổ Khiêm","source_period":"Nam Tống","content_zh_simp":"天下之事，莫不以逸豫而败，以忧勤而成。盖饱食终日，无所用心，则百事废弛，而祸患随之。故曰：生于忧患，死于安乐。夫车之行也，险阻之地常安，而平易之地常覆；舟之济也，湍濑之流常全，而安流之中常没。何也？险阻湍濑，人必戒慎，戒慎则无患；平易安流，人必忽易，忽易则败亡。是故君子畏其难而图其易，小人狎其易而忘其难。今有人焉，饱食逸居，无所事事，则其心日昏，其志日颓，其行日堕，其德日丧。及其甚也，不惟自败，而且祸及于家国。故曰：晏安鸩毒，不可怀也。又曰：安不忘危，存不忘亡，治不忘乱。是以君子终日乾乾，夕惕若厉，无敢逸豫。盖知夫生之难也，故不敢一日自暇逸。惟其忧勤，故能保其生；惟其逸豫，故或至于丧生。然则人之生于忧勤，而死于逸乐也，明矣。","content_zh_trad":"天下之事，莫不以逸豫而敗，以憂勤而成。蓋飽食終日，無所用心，則百事廢弛，而禍患隨之。故曰：生於憂患，死於安樂。夫車之行也，險阻之地常安，而平易之地常覆；舟之濟也，湍瀨之流常全，而安流之中常沒。何也？險阻湍瀨，人必戒慎，戒慎則無患；平易安流，人必忽易，忽易則敗亡。是故君子畏其難而圖其易，小人狎其易而忘其難。今有人焉，飽食逸居，無所事事，則其心日昏，其志日頹，其行日墮，其德日喪。及其甚也，不惟自敗，而且禍及於家國。故曰：晏安鴆毒，不可懷也。又曰：安不忘危，存不忘亡，治不忘亂。是以君子終日乾乾，夕惕若厲，無敢逸豫。蓋知夫生之難也，故不敢一日自暇逸。惟其憂勤，故能保其生；惟其逸豫，故或至於喪生。然則人之生於憂勤，而死於逸樂也，明矣。","content_pinyin":"Tiānxià zhī shì, mò bù yǐ yìyù ér bài, yǐ yōuqín ér chéng. Gài bǎoshí zhōngrì, wú suǒ yòngxīn, zé bǎi shì fèichí, ér huòhuàn suí zhī. Gù yuē: shēng yú yōuhuàn, sǐ yú ānlè. Fū chē zhī xíng yě, xiǎnzǔ zhī dì cháng ān, ér píngyì zhī dì cháng fù; zhōu zhī jì yě, tuānlài zhī liú cháng quán, ér ānliú zhī zhōng cháng mò. Hé yě? Xiǎnzǔ tuānlài, rén bì jièshèn, jièshèn zé wú huàn; píngyì ānliú, rén bì hūyì, hūyì zé bàiwáng. Shì gù jūnzǐ wèi qí nán ér tú qí yì, xiǎorén xiá qí yì ér wàng qí nán. Jīn yǒu rén yān, bǎoshí yìjū, wú suǒ shìshì, zé qí xīn rì hūn, qí zhì rì tuí, qí xíng rì duò, qí dé rì sàng. Jí qí shèn yě, bù wéi zì bài, ér qiě huò jí yú jiā guó. Gù yuē: yàn'ān zhèndú, bù kě huái yě. Yòu yuē: ān bù wàng wēi, cún bù wàng wáng, zhì bù wàng luàn. Shì yǐ jūnzǐ zhōngrì qiánqián, xī tì ruò lì, wú gǎn yìyù. Gài zhī fū shēng zhī nán yě, gù bù gǎn yī rì zì xiá yì. Wéi qí yōuqín, gù néng bǎo qí shēng; wéi qí yìyù, gù huò zhì yú sàngshēng. Rán zé rén zhī shēng yú yōuqín, ér sǐ yú yìlè yě, míng yǐ.","content_han_viet":"Thiên hạ chi sự, mạc bất dĩ dật dật nhi bại, dĩ ưu cần nhi thành. Cái bão thực chung nhật, vô sở dụng tâm, tắc bách sự phế trì, nhi họa hoạn tùy chi. Cố viết: sinh ư ưu hoạn, tử ư an lạc. Phù xa chi hành dã, hiểm trở chi địa thường an, nhi bình dịch chi địa thường phúc; chu chi tế dã, thoan lại chi lưu thường toàn, nhi an lưu chi trung thường một. Hà dã? Hiểm trở thoan lại, nhân tất giới thận, giới thận tắc vô hoạn; bình dịch an lưu, nhân tất hốt dịch, hốt dịch tắc bại vong. Thị cố quân tử úy kỳ nan nhi đồ kỳ dị, tiểu nhân hiệp kỳ dị nhi vong kỳ nan. Kim hữu nhân yên, bão thực dật cư, vô sở sự sự, tắc kỳ tâm nhật hôn, kỳ chí nhật đồi, kỳ hành nhật đóa, kỳ đức nhật táng. Cập kỳ thậm dã, bất duy tự bại, nhi thả họa cập vu gia quốc. Cố viết: yến an trấm độc, bất khả hoài dã. Hựu viết: an bất vong nguy, tồn bất vong vong, trị bất vong loạn. Thị dĩ quân tử chung nhật càn càn, tịch thế nhược lệ, vô cảm dật dật. Cái tri phù sinh chi nan dã, cố bất cảm nhất nhật tự hà dật. Duy kỳ ưu cần, cố năng bảo kỳ sinh; duy kỳ dật dật, cố hoặc chí vu táng sinh. Nhiên tắc nhân chi sinh ư ưu cần, nhi tử ư dật lạc dã, minh hĩ.","content_vi":"Ở đời chết vì thuốc độc, muôn người họa mới phải một người, chớ chết vì ăn không ngồi rồi thì thật nhiều. Cái độc \"ăn không ngồi rồi” rất thảm rất hại.\n\nNay ta hãy xem một vài sự đáng sợ để thí dụ mà nghe.\n\nXe đi trên mặt đất, đi chỗ gập ghềnh thường được chắc chắn hơn chỗ phẳng phiu.\n\nThuyền đi trên mặt nước, đi chỗ ghềnh thác thường được vững vàng hơn đi giữa dòng sông. Tại sao vậy? Tại vì, biết khó khăn mà giữ gìn thì được yên, cho là dễ dàng mà khinh thường thì phải hỏng (bại vong).\n\nNgười đời thường sống về những khi lo lắng cần khổ, mà chết về những lúc sung sướng yên nhàn. Lẽ ấy rất rõ, mà người đời không biết sợ là bởi không chịu xét đến nơi.\n\nNhững lúc thư nhàn thử nghĩ mà coi. Vì đâu mà chí khí ta phải suy kém?\n\nVì đâu mà công việc ta phải hư hỏng? Vì đâu mà uổng mất một đời rồi cùng nát với cỏ cây? Vì đâu mà hóa ra hôn mê, không biết quay đầu lại, rồi lại đeo thêm cái tiếng xấu về sau? Vì đâu thành chểnh mảng không biết lo xa rồi đến nỗi mắc vào tội vạ? Ấy rút lại mấy điều là chỉ bởi ăn không ngồi rồi mà ra cả.\n\nSự ăn không ngồi rồi quả là cái cửa những điều ác. Cửa ấy người giỏi vào đến lúc ra thì dở, người tỉnh vào đến lúc ra thì mê, người cương trực vào đến lúc ra thì liệt nhược, người thanh khiết vào đến lúc ra thì ô uế, sự ăn không ngồi rồi hại thân, hại nhà, hại nước nghĩ chẳng đáng sợ lắm ru!\n\nLã Đông Lai","loi_ban_vi":"Không lo, không làm thực làm hại người ta hơn là thuốc độc. Chẳng nói gì, không lo không làm thì không có cơm ăn áo mặc tiền tiêu, không giữ được phẩm giá, không làm hết bổn phận. Không lo không làm, thân thể yếu đi, tâm chí cùn lại, và thường hay sinh ra làm càn, làm bậy, hại đến thân, đến nhà, đến nước. Quả vậy, câu trong bài: “Ăn không ngồi rồi là cái cửa của những điều ác” và bao nhiêu câu như: “Sự ăn không ở rỗi là mẹ đẻ ra các nết xấu. - Cái chìa khóa không dùng thành gỉ hoen. -Nhàn cư vi bất thiện” cũng cùng có một nghĩa nói đến cái tai họa của sự không lo, không làm cả. Cho nên người ta bất cứ nghèo hèn hay giàu sang, ai cũng phải có lo có làm mới đáng sống và có sống được. “Sinh ư ưu cần, tử ư dật lạc”, nghĩa là sống là do ở ưu hoạn cần lao, chết là ở yên nhàn dật lạc. Câu cổ nhân nói thật không sai chút nào.","giai_nghia":["Lã Đông Lai: tức Lã Tổ Khiêm, làm quan đời nhà Tống, học rộng biện bác giỏi, cùng với Chu Hạ và Trương Thúc gọi là Tam Hiển, học trò tự xưng là Đông Lai tiên sinh về làm bộ sách tên là Đông Lai tập.","Lã Đông Lai (呂東萊): tức Lã Tổ Khiêm (呂祖謙), học giả đời Tống.","Câu 'Sinh ư ưu hoạn, tử ư an lạc' trích từ Mạnh Tử."],"tags":["Cần lao","Cảnh giác","Sống và chết","Đạo đức"]},{"id":123,"title_vi":"CHÍNH DANH","title_zh_simp":"正名","title_zh_trad":"正名","title_pinyin":"Zhèng Míng","title_han_viet":"CHÍNH DANH","title_en":"The Rectification of Names","source_book":"《論語·顏淵》","source_author":"Khổng Tử (孔子)","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"齐景公问政于孔子。孔子对曰：“君君，臣臣，父父，子子。”公曰：“善哉！信如君不君，臣不臣，父不父，子不子，虽有粟，吾得而食诸？”","content_zh_trad":"齊景公問政於孔子。孔子對曰：“君君，臣臣，父父，子子。”公曰：“善哉！信如君不君，臣不臣，父不父，子不子，雖有粟，吾得而食諸？”","content_pinyin":"Qí Jǐnggōng wèn zhèng yú Kǒngzǐ. Kǒngzǐ duì yuē: “Jūn jūn, chén chén, fù fù, zǐ zǐ.” Gōng yuē: “Shàn zāi! Xìn rú jūn bù jūn, chén bù chén, fù bù fù, zǐ bù zǐ, suī yǒu sù, wú dé ér shí zhū?”","content_han_viet":"Tề Cảnh Công vấn chính vu Khổng Tử. Khổng Tử đối viết: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử.” Công viết: “Thiện tai! Tín như quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử, tuy hữu túc, ngô đắc nhi thực chư?”","content_vi":"Vua Cảnh Công nước Tề hỏi Đức Khổng Tử về việc chính sự.\n\nĐức Khổng Tử thưa rằng: Cội rễ việc chính sự cốt nhất phải làm cho sáng rõ luân thường đạo lý. Ở chốn triều đình, vua hết đạo làm vua, tôi hết đạo làm tôi; ở trong gia đình, cha hết đạo làm cha, con hết đạo làm con. Vua tôi, cha con ai nấy đều hết đạo của mình, thì chính sự mới có thể làm hay được.\n\nVua Cảnh Công nói: Phải lắm! Câu nói ấy thật là thiết yếu. Mà quả thế thật, nếu vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, thì cương kỷ rối loạn mà nước phải diệt vong. Thóc gạo tuy có nhiều, liệu có ở yên mà ăn được chăng.","loi_ban_vi":"Vua Cảnh Công hỏi về chính sự mà Đức Khổng Tử đáp là chính danh ngài nói đúng ngay vào cái bệnh của vua đối với quốc gia làm mất chủ quyền, đối với gia đình dung túng con cái, mà lại giảng được cái học thuyết chính danh của ngài. Tiếc thay vua Cảnh Công biết là phải mà không liệu cách mau mau thực hành để đến nỗi về sau nước Tề quả có tai vạ, vua thì bị giết, đất thì mất về tay người.\n\nNhư nói đến chính sự thời nay, thì chắc còn bao nhiêu sự khó khăn, phiền phức có phải là dễ đâu. Song sự cốt yếu cũng không ra được ngoài câu nói của Đức Khổng phu tử. Ta thử ngẫm mà xem, suốt xưa nay, khắp đông tây có nước nào vua (hoặc người cầm quyền hay lãnh đạo mà gọi tên khác) kém sáng suốt, thần hạ gian nịnh mà nước không nguy vong, có nhà nào cha mẹ bạc ác bất nhân, con cái bất hiếu mà nhà không suy bại không?","giai_nghia":["Chính danh (正名): Học thuyết của Khổng Tử, cho rằng mỗi người phải thực hiện đúng bổn phận và danh phận của mình trong xã hội.","Tề Cảnh Công (齊景公): Vua nước Tề thời Xuân Thu, trị vì từ năm 547 đến năm 490 TCN.","Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử (君君，臣臣，父父，子子): Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con."],"tags":["Khổng Tử","Chính Danh","Luận Ngữ","Đạo làm vua","Luân thường"]},{"id":124,"title_vi":"NÊN XỬ THẾ NÀO","title_zh_simp":"当如何处","title_zh_trad":"當如何處","title_pinyin":"Dāng Rúhé Chù","title_han_viet":"ĐƯƠNG NHƯ HÀ XỬ","title_en":"How Should One Deal With This?","source_book":"《孟子·梁惠王下》","source_author":"Mạnh Tử (孟子)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"孟子谓齐宣王曰：“王之臣有托其妻子于其友而之楚游者。比其反也，则冻馁其妻子，则如之何？”王曰：“弃之。”曰：“士师不能治士，则如之何？”王曰：“已之。”曰：“四境之内不治，则如之何？”王顾左右而言他。","content_zh_trad":"孟子謂齊宣王曰：“王之臣有託其妻子於其友而之楚遊者。比其反也，則凍餒其妻子，則如之何？”王曰：“棄之。”曰：“士師不能治士，則如之何？”王曰：“已之。”曰：“四境之內不治，則如之何？”王顧左右而言他。","content_pinyin":"Mèngzǐ wèi Qí Xuānwáng yuē: “Wáng zhī chén yǒu tuō qí qīzǐ yú qí yǒu ér zhī Chǔ yóu zhě. Bǐ qí fǎn yě, zé dòng něi qí qīzǐ, zé rú zhī hé?” Wáng yuē: “Qì zhī.” Yuē: “Shìshī bùnéng zhì shì, zé rú zhī hé?” Wáng yuē: “Yǐ zhī.” Yuē: “Sì jìng zhī nèi bù zhì, zé rú zhī hé?” Wáng gù zuǒyòu ér yán tā.","content_han_viet":"Mạnh Tử vị Tề Tuyên Vương viết: “Vương chi thần hữu thác kỳ thê tử vu kỳ hữu nhi chi Sở du giả. Tỷ kỳ phản dã, tắc đống nỗi kỳ thê tử, tắc như chi hà?” Vương viết: “Khí chi.” Viết: “Sĩ sư bất năng trị sĩ, tắc như chi hà?” Vương viết: “Dĩ chi.” Viết: “Tứ cảnh chi nội bất trị, tắc như chi hà?” Vương cố tả hữu nhi ngôn tha.","content_vi":"Thầy Mạnh Tử hỏi vua Tuyên Vương nước Tề rằng:\n\n- Giả thử có người bầy tôi nhà vua, đem y thực của vợ con ký thác cho người bạn thân, nhờ trông nom giúp để sang chơi nước Sở có việc; kịp đến lúc về, mới biết bạn để cho vợ con đói rét thì người ấy nên xử với bạn thế nào?\n\nVua nói: Nên tuyệt giao.\n\nThầy Mạnh Tử lại hỏi:\n\n- Giả sử có người làm quan sĩ sư không trông nom nổi được thuộc viên, để cho hình ngục sai lầm, công việc phế khoáng, thì nhà vua nên xử thế nào với viên quan ấy?\n\nVua nói: Nên bãi đi.\n\nThầy Mạnh Tử nhân đấy hỏi luôn câu nữa:\n\n- Thế thời làm vua một nước mà không sửa sang việc chính sự, việc giáo dục để đến nỗi trong nước không được bình trị, thì trách nhiệm tại ai và nên xử trí thế nào?\n\nVua nghe nói ngoảnh ngay sang bên tả, bên hữu nói lảng sang chuyện khác, có ý vừa chữa thẹn vừa tránh không trả lời.","loi_ban_vi":"Thầy Mạnh Tử đây chỉ vì việc nước mà khuyên can vua Tuyên Vương nước Tề. Hai đoạn trên câu hỏi của thầy hữu tâm mà câu trả lời của vua vô tâm. Đoạn thứ nhất nói về “tình bạn”, kể nghĩa cũ cũng đáng tiếc, song đã nhận lời ký thác của anh em mà ra lòng phụ bạc thì thật là người bạn đáng tuyệt giao. Đoạn thứ nhì nói về “phép nước”, kể thực buộc vào tội chưa có gì là nặng, song làm quan mà đến không trông nom được kẻ dưới để phế khoáng việc công, thì thật là viên quan không nên dụng.\n\nCòn đoạn thứ ba, tuy ông nói qua mà đã ngụ sẵn cái ý thuế má quá nặng để dân đói rét, hình phạt sai lầm để dân oan khổ, làm vua mà đối với dân với nước như vậy cái tội to biết chừng nào. Thế mới tiếc thay vua Tề Tuyên Vương gặp được người chính trực cảm ngôn như thế mà lại không chịu rộng hỏi để sửa lỗi của mình, thật là mất một dịp tốt.","giai_nghia":["Mạnh Tử: người nước Châu, đời Chiến Quốc, tên là Kha, học thuyết của ông cốt ở điều “Nhân nghĩa”, “Tính thiện”, đời sau tôn ông là Á thánh.","Tề Tuyên Vương (齊宣王): Vua nước Tề thời Chiến Quốc, trị vì từ năm 319 đến năm 301 TCN.","Sĩ sư (士師): Chức quan phụ trách pháp luật và hình ngục thời cổ.","Tứ cảnh (四境): Bốn biên giới, chỉ toàn bộ lãnh thổ quốc gia.","Vương cố tả hữu nhi ngôn tha (王顧左右而言他): Vua nhìn tả hữu mà nói sang chuyện khác. Thành ngữ này về sau dùng để chỉ việc lảng tránh câu hỏi khó."],"tags":["Mạnh Tử","Mạnh Tử (sách)","Chính trị","Khuyên can","Trách nhiệm người cầm quyền"]},{"id":125,"title_vi":"CHIẾC THUYỀN ĐỤNG CHIẾC ĐÒ","title_zh_simp":"虚船触舟","title_zh_trad":"虛船觸舟","title_pinyin":"Xū chuán chù zhōu","title_han_viet":"HƯ THUYỀN XÚC CHU","title_en":"The Empty Boat","source_book":"《庄子·山木》","source_author":"Trang Tử","source_period":"Tiên Tần, Chiến Quốc","content_zh_simp":"方舟而济于河，有虚船来触舟，虽有惼心之人不怒。有一人在其上，则呼张歙之。一呼而不闻，再呼而不闻，于是三呼邪，则必以恶声随之。向也不怒而今也怒，向也虚而今也实。人能虚己以游世，其孰能害之！","content_zh_trad":"方舟而濟於河，有虛船來觸舟，雖有惼心之人不怒。有一人在其上，則呼張歙之。一呼而不聞，再呼而不聞，於是三呼邪，則必以惡聲隨之。向也不怒而今也怒，向也虛而今也實。人能虛己以遊世，其孰能害之！","content_pinyin":"Fāng zhōu ér jì yú hé, yǒu xū chuán lái chù zhōu, suī yǒu biǎn xīn zhī rén bù nù. Yǒu yī rén zài qí shàng, zé hū zhāng xī zhī. Yī hū ér bù wén, zài hū ér bù wén, yúshì sān hū xié, zé bì yǐ è shēng suí zhī. Xiàng yě bù nù ér jīn yě nù, xiàng yě xū ér jīn yě shí. Rén néng xū jǐ yǐ yóu shì, qí shú néng hài zhī!","content_han_viet":"Phương chu nhi tế vu hà, hữu hư thuyền lai xúc chu, tuy hữu biển tâm chi nhân bất nộ. Hữu nhất nhân tại kỳ thượng, tắc hô trương hấp chi. Nhất hô nhi bất văn, tái hô nhi bất văn, vu thị tam hô da, tắc tất dĩ ác thanh tùy chi. Hướng dã bất nộ nhi kim dã nộ, hướng dã hư nhi kim dã thực. Nhân năng hư kỷ dĩ du thế, kỳ thục năng hại chi!","content_vi":"Một chiếc đò sang sông. Có chiếc thuyền không có người, đâu trôi đến, đâm phải. Người lái đò tuy hẹp bụng đến đâu cũng không lấy làm giận. Giả sử trên chiếc thuyền có người ngồi, thì người lái đò tất phải phùng mang trợn mắt, tru tréo một lần không nghe tiếng, tất tru tréo đến hai lần, hai lần không nghe tiếng tất tru tréo đến ba bốn lần, rồi đến buông lời chửi rủa thậm tệ nữa, Một việc xảy ra cũng giống nhau, mà như lúc trước không giận, như lúc sau lại giận là tại làm sao?\n\n- Tại lúc trước chiếc thuyền không có người mà lúc sau chiếc thuyền có người.\n\nNgười ta mà cứ thản nhiên không có chút tư ý gì thì ở đời còn ai hại mình nữa.","loi_ban_vi":"Xử thế mà giữ được lòng trống rỗng, không chứa chấp tư ý, thì dẫu gặp phải biến cố bất thường cũng không sinh oán giận. Người xưa dạy rằng, hại người không phải ở việc, mà ở lòng ta tự chuốc lấy. Hãy để tâm hồn thanh thản như chiếc thuyền không, thì sóng gió cuộc đời nào có thể làm ta tổn thương.","giai_nghia":["虚船 (hư thuyền): Chiếc thuyền không người, ẩn dụ cho sự trống rỗng, không có 'cái tôi' (vô ngã).","虚己以游世 (hư kỷ dĩ du thế): Làm cho cái tôi của mình trống rỗng (bỏ đi thành kiến, tư ý) để sống ở đời.","惼心 (biển tâm): Tính tình hẹp hòi, nóng nảy."],"tags":["Trang Tử","Đạo Gia","Vô Vi","Vô Ngã","Xử Thế"]},{"id":126,"title_vi":"RẮN RỜI CHỖ Ở","title_zh_simp":"蛇徙","title_zh_trad":"蛇徙","title_pinyin":"Shé xǐ","title_han_viet":"XÀ TỶ","title_en":"The Snakes Move Away","source_book":"《新序·杂事》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"泽涸，蛇将徙。有小蛇谓大蛇曰：“子行我随，人以为蛇行，必有杀者。子不如相衔负我以行，人必以我为神君也。”乃相衔负以越公道。人皆避之，曰：“神君也。”","content_zh_trad":"澤涸，蛇將徙。有小蛇謂大蛇曰：「子行我隨，人以為蛇行，必有殺者。子不如相銜負我以行，人必以我為神君也。」乃相銜負以越公道。人皆避之，曰：「神君也。」","content_pinyin":"Zé hé, shé jiāng xǐ. Yǒu xiǎo shé wèi dà shé yuē: \"Zǐ xíng wǒ suí, rén yǐwéi shé xíng, bì yǒu shā zhě. Zǐ bùrú xiāng xián fù wǒ yǐ xíng, rén bì yǐ wǒ wéi shén jūn yě.\" Nǎi xiāng xián fù yǐ yuè gōng dào. Rén jiē bì zhī, yuē: \"Shén jūn yě.\"","content_han_viet":"Trạch khô, xà tương tỷ. Hữu tiểu xà vị đại xà viết: \"Tử hành ngã tùy, nhân dĩ vi xà hành, tất hữu sát giả. Tử bất như tương hàm phụ ngã dĩ hành, nhân tất dĩ ngã vi thần quân dã.\" Nãi tương hàm phụ dĩ việt công đạo. Nhân giai tị chi, viết: \"Thần quân dã.\"","content_vi":"Trời nắng, ao cạn, hai con rắn muốn rời đi ở chỗ khác.\n\nRắn con bảo rắn lớn:\n\n“Anh đi trước, tôi theo sau, người ta biết là rắn kéo nhau đi tìm chỗ, thì thế nào cũng tìm cách giết chết. Sao bằng anh để tôi ngậm vào mình anh, còn anh thì cõng tôi mà đi, người ta tất nhiên cho là Rắn Thần, không dám **ng đến”.\n\nNói xong, hai con rắng làm y như thế mà đi qua đường cái. Quả nhiên người ta trông thấy ai cũng tránh sợ, bảo nhau là “Rắn Thần”.\n\nNhững kẻ nương tựa nhau, thông đồng với nhau để làm điều gian giảo, lừa dối đời, mê hoặc người thì có khác gì hai con rắn cõng nhau đây mà giả làm Rắn Thần không?","loi_ban_vi":"Những quân gian giảo định đánh lừa thiên hạ, khi chỉ có một mình thiên hạ cũng mắc lừa chán, huống chi là chúng kết bè, kết đảng đồng tâm bày mưu mà lừa gạt thiên hạ thì ai dù khôn ngoan làm điều lành hay cho thiên hạ bao nhiêu thì bè đảng với nhau để làm điều ác nguy hại cho thiên hạ bấy nhiêu.\n\nVậy ta thấy những điều gì lạ tai lạ mắt, trái hẳn nhân tình thì một là đánh lừa, hai là lợi dụng, ta trước nên suy xét kĩ đã, rồi sau hãy tin theo.","giai_nghia":["泽涸 (trạch khô): Đầm, ao bị cạn nước.","相衔负我 (tương hàm phụ ngã): Ngoạm lấy nhau và cõng nhau, chỉ sự cấu kết, nương tựa vào nhau.","神君 (thần quân): Thần thánh, vật thiêng, thường được người đời kính sợ."],"tags":["Lưu Hướng","Tân Tự","Ngụ Ngôn","Lừa Dối","Mê Hoặc"]},{"id":127,"title_vi":"NHƯỜNG THIÊN HẠ","title_zh_simp":"让天下","title_zh_trad":"讓天下","title_pinyin":"Ràng Tiānxià","title_han_viet":"NHƯỢNG THIÊN HẠ","title_en":"Yielding the Empire","source_book":"《莊子·逍遙遊》","source_author":"Trang Chu (莊周)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"尧让天下于许由，曰：“日月出矣，而爝火不息，其于光也，不亦难乎！时雨降矣，而犹浸灌，其于泽也，不亦劳乎！夫子立而天下治，而我犹尸之，吾自视缺然。请致天下。”许由曰：“子治天下，天下既已治也，而我犹代子，吾将为名乎？名者，实之宾也。吾将为宾乎？鹪鹩巢于深林，不过一枝；偃鼠饮河，不过满腹。归休乎君，予无所用天下为！庖人虽不治庖，尸祝不越樽俎而代之矣。”","content_zh_trad":"堯讓天下於許由，曰：“日月出矣，而爝火不息，其於光也，不亦難乎！時雨降矣，而猶浸灌，其於澤也，不亦勞乎！夫子立而天下治，而我猶尸之，吾自視缺然。請致天下。”許由曰：“子治天下，天下既已治也，而我猶代子，吾將為名乎？名者，實之賓也。吾將為賓乎？鷦鷯巢於深林，不過一枝；偃鼠飲河，不過滿腹。歸休乎君，予無所用天下為！庖人雖不治庖，尸祝不越樽俎而代之矣。”","content_pinyin":"Yáo ràng tiānxià yú Xǔ Yóu, yuē: “Rìyuè chū yǐ, ér juéhuǒ bù xī, qí yú guāng yě, bù yì nán hū! Shí yǔ jiàng yǐ, ér yóu jìn guàn, qí yú zé yě, bù yì láo hū! Fūzǐ lì ér tiānxià zhì, ér wǒ yóu shī zhī, wú zì shì quērán. Qǐng zhì tiānxià.” Xǔ Yóu yuē: “Zǐ zhì tiānxià, tiānxià jì yǐ zhì yě, ér wǒ yóu dài zǐ, wú jiāng wèi míng hū? Míng zhě, shí zhī bīn yě. Wú jiāng wèi bīn hū? Jiāoliáo cháo yú shēn lín, bùguò yī zhī; yǎnshǔ yǐn hé, bùguò mǎn fù. Guī xiū hū jūn, yǔ wú suǒyòng tiānxià wèi! Páorén suī bù zhì páo, shīzhù bù yuè zūn zǔ ér dài zhī yǐ.”","content_han_viet":"Nghiêu nhượng thiên hạ vu Hứa Do, viết: “Nhật nguyệt xuất dĩ, nhi tước hỏa bất tức, kỳ vu quang dã, bất diệc nan hồ! Thời vũ giáng dĩ, nhi do tẩm quán, kỳ vu trạch dã, bất diệc lao hồ! Phu tử lập nhi thiên hạ trị, nhi ngã do thi chi, ngô tự thị khuyết nhiên. Thỉnh trí thiên hạ.” Hứa Do viết: “Tử trị thiên hạ, thiên hạ ký dĩ trị dã, nhi ngã do đại tử, ngô tương vi danh hồ? Danh giả, thực chi tân dã. Ngô tương vi tân hồ? Tiêu liêu sào vu thâm lâm, bất quá nhất chi; yển thử ẩm hà, bất quá mãn phúc. Quy hưu hồ quân, dư vô sở dụng thiên hạ vi! Bào nhân tuy bất trị bào, thi chúc bất việt tôn trở nhi đại chi hĩ.”","content_vi":"Vua Nghiêu nhường thiên hạ cho Hứa Do có nói rằng:\n\n- Khi mặt trời mặt trăng đã mọc mà cứ cầm đóm đuốc soi sáng, như thế chẳng cũng khó lắm ru! Khi đang mong mưa, trời đã mưa mà cứ còn dội nước tắm tưới như thế, chẳng cũng nhọc lắm ru! Nay có ngài ra đời, đức thịnh tài cao, thiên hạ tự khắc cảm hóa bình trị, thế mà tôi còn cứ giữ lấy thiên hạ, thì tôi tự nghĩ lấy làm kém lắm. Xin nhường thiên hạ cho ngài.\n\nHứa Do nói:\n\n- Nhà ngươi trị thiên hạ đã được bình trị, mà ta còn thay nhà ngươi, như thế chẳng là ta không có cái “thực” làm thiên hạ bình trị mà ta lại nhận lấy cái “danh” bình trị thiên hạ ư? Vả cái “danh” là người khách của cái “thực”, nếu không có thực mà lại đương lấy cái danh, thì hóa ra ta làm người khách không có chủ ư? Con chim làm tổ ở rừng chẳng qua là một cành cây, con chuột uống nước ở sông chẳng qua chỉ đến no bụng. Thôi, xin nhà ngươi cứ về mà trị lấy thiên hạ, ta có dùng thiên hạ làm gì! Người nhà bếp mà chẳng trông nom việc bếp, thì người giữ việc tế tự cũng chẳng có thể bỏ đèn hương mà làm thay cho được.","loi_ban_vi":"Ý vua Nghiêu nghĩ thiên hạ là của chung của cả thiên hạ, cho nên vua mới tìm người hiền tài để truyền ngôi, miễn là thiên hạ được thái bình thịnh trị là mình được sung sướng.\n\nÝ Hứa Do nghĩ mình không có tài mà nhận lấy cái tài của người làm của mình thì không gì xấu bằng. Vả ông lại có cái thú vô danh hơn là hữu danh, nên ông lấy việc thiên hạ làm phiền, chứ không phải là sướng.\n\nMột bên quên lợi, một bên quên danh đáng quí thay.\n\nThời buổi ngày nay giá được những bậc tài giỏi không có lòng tư, không cậy công cậy của, không hiếu lợi hiếu danh thì lo gì thiên hạ chẳng bình trị.","giai_nghia":["Nghiêu: tên một bậc thánh đế đời nhà Đào Đường","Hứa Do: một bậc cao sĩ đời thượng cổ, ẩn ở núi Cao Sơn","爝火 (juéhuǒ / tước hỏa): ngọn đuốc, ánh lửa nhỏ.","尸祝 (shīzhù / thi chúc): người đại diện cho thần linh trong khi tế lễ và người đọc văn tế.","庖人 (páorén / bào nhân): người đầu bếp.","鹪鹩 (jiāoliáo / tiêu liêu): một loài chim nhỏ, tượng trưng cho sự đơn giản, ít ham muốn.","偃鼠 (yǎnshǔ / yển thử): con chuột chũi, uống nước sông chỉ cần đầy bụng."],"tags":["Trang Tử","Đạo Gia","Ẩn Dật","Danh Lợi","Khiêm Nhường"]},{"id":128,"title_vi":"RỬA TAI","title_zh_simp":"洗耳","title_zh_trad":"洗耳","title_pinyin":"Xǐ ěr","title_han_viet":"RỬA TAI","title_en":"Washing the Ears","source_book":"《高士傳》","source_author":"Hoàng Phủ Mật (皇甫謐)","source_period":"Tây Tấn","content_zh_simp":"尧让天下于许由，许由不受而逃去，隐于沛泽之中。尧又召为九州长，由不欲闻之，洗耳于颍水滨。时其友巢父牵犊欲饮之，见由洗耳，问其故。对曰：“尧欲召我为九州长，恶闻其声，是故洗耳。”巢父曰：“子若处高岸深谷，人道不通，谁能见子？子故浮游，欲求闻其名誉。污吾犊口！”牵犊上流饮之。","content_zh_trad":"堯讓天下於許由，許由不受而逃去，隱於沛澤之中。堯又召為九州長，由不欲聞之，洗耳於潁水濱。時其友巢父牽犢欲飲之，見由洗耳，問其故。對曰：“堯欲召我為九州長，惡聞其聲，是故洗耳。”巢父曰：“子若處高岸深谷，人道不通，誰能見子？子故浮游，欲求聞其名譽。污吾犢口！”牽犢上流飲之。","content_pinyin":"Yáo ràng tiānxià yú Xǔ Yóu, Xǔ Yóu bù shòu ér táo qù, yǐn yú Pèi Zé zhī zhōng. Yáo yòu zhào wèi Jiǔzhōu zhǎng, Yóu bù yù wén zhī, xǐ ěr yú Yǐngshuǐ bīn. Shí qí yǒu Cháo Fù qiān dú yù yǐn zhī, jiàn Yóu xǐ ěr, wèn qí gù. Duì yuē: “Yáo yù zhào wǒ wèi Jiǔzhōu zhǎng, è wén qí shēng, shìgù xǐ ěr.” Cháo Fù yuē: “Zǐ ruò chù gāo àn shēn gǔ, réndào bù tōng, shéi néng jiàn zǐ? Zǐ gù fúyóu, yù qiú wén qí míngyù. Wū wú dú kǒu!” Qiān dú shàngliú yǐn zhī.","content_han_viet":"Nghiêu nhượng thiên hạ vu Hứa Do, Hứa Do bất thụ nhi đào khứ, ẩn vu Bái Trạch chi trung. Nghiêu hựu triệu vi Cửu Châu trưởng, Do bất dục văn chi, tẩy nhĩ vu Dĩnh Thủy tân. Thời kỳ hữu Sào Phủ khiên độc dục ẩm chi, kiến Do tẩy nhĩ, vấn kỳ cố. Đối viết: “Nghiêu dục triệu ngã vi Cửu Châu trưởng, ố văn kỳ thanh, thị cố tẩy nhĩ.” Sào Phủ viết: “Tử nhược xử cao ngạn thâm cốc, nhân đạo bất thông, thùy năng kiến tử? Tử cố phù du, dục cầu văn kỳ danh dự. Ô ngô độc khẩu!” Khiên độc thượng lưu ẩm chi.","content_vi":"Đời thượng cổ có ông Hứa Do là một nhà ẩn dật ở trong chằm Bái Trạch.\n\nVua Nghiêu nghe tiếng là người giỏi, mời ra, xin nhường cả thiên hạ. Hứa Do tử chối, lui về ẩn tại núi Trung Nhạc, phía nam sông Dĩnh Thủy.\n\nSau, vua Ngiêu lại tìm đến, cố mời Hứa Do ra làm tổng trưởng cả chín châu, Hứa Do thấy vậy không muốn nghe chuyện nữa, ra bờ sông Dĩnh Thủy rửa tai. Ngay lúc bấy giờ, Sào Phủ đang dắt trâu xuống bờ sông gặp Hứa Do hỏi:\n\nViệc già mà bác phải rửa tai như vậy?\n\nHứa Do thuật lại chuyện. Sào Phủ liền gò cổ trâu lại mà nói rằng:\n\nTa toan cho châu uống nước ở đây, lại e bẩn cả miệng trâu.\n\nNói đoạn, dắt trâu lên quãng sông trên cho trâu uống nước.","loi_ban_vi":": Có cả thiên hạ cố nhường cho người là lạ. Người nhường thiên hạ cho, mà không nhận cũng là lạ. Nghe thấy câu chuyện nhường thiên hạ cho làm chuyện bẩn, phải đi rửa tai lại lạ hơn. Không để cho trâu uống cái nước đã rửa tai ấy, sợ bẩn miệng trâu càng lạ quá nữa Ôi! Đọc bài này, tưởng như Hứa Do với Sào Phủ là hai người nếu chẳng ngông cuồng thì cũng gàn dở. Nhưng vì Hứa Do và Sào Phủ hiểu thấu danh lợi nó hãm hại người ta để làm cho mất hết cả liêm sỉ, cho nên hai ông không muốn để cái danh lợi bận đến cái thân, chỉ ưa chuộng sự sống thiên nhiên làm vui sướng, thì cũng là những bậc cao sĩ thờ một cái chủ nghĩa cao quý vậy.\n\nChả bù cho những phường tham danh, trục lợi thường say mê danh lợi, thậm chí đến chết vẫn chưa tỉnh cho!","giai_nghia":[":","Hứa Do : bậc cao sĩ thời thượng cổ.","Chín châu: thời thượng cổ nước Tàu chia ra làm chín châu để cai trị (Duyên, Ký, Thanh, Từ, Dự, Kinh, Dương, Ung, Lương).","Sào Phủ : bậc cao sĩ đời thượng cổ không ưa thế lợi, ẩn ở trong núi, lấy cây làm tổ nằm ở trên cây cho nên mới gọi là Sào Phủ (Sào nghĩa là tổ).","Cao Sĩ Truyện : sách của Hoàng Phủ Mật đời nhà Tấn soạn kể chuyện những bậc cao sĩ ẩn dật thời xưa bên Tàu.","巢父 (Cháo Fù / Sào Phủ): một ẩn sĩ thời thượng cổ, bạn của Hứa Do.","九州长 (Jiǔzhōu zhǎng / Cửu Châu trưởng): chức quan đứng đầu chín châu, tức là thiên tử hoặc quan cao nhất.","颍水 (Yǐngshuǐ / Dĩnh Thủy): tên một con sông ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.","牵犊 (qiān dú / khiên độc): dắt con bê (bò con).","上流 (shàngliú / thượng lưu): phía trên dòng nước, nơi nước chưa bị ô uế."],"tags":["Cao Sĩ Truyện","Ẩn Dật","Danh Lợi","Thanh Cao","Tri Túc"]},{"id":129,"title_vi":"CHẾT ĐÓI ĐẦU NÚI","title_zh_simp":"首阳山饿死","title_zh_trad":"首陽山餓死","title_pinyin":"Shǒuyáng Shān Èsǐ","title_han_viet":"THỦ DƯƠNG SƠN NGẠ TỬ","title_en":"Death by Starvation at Shouyang Mountain","source_book":"《史記·伯夷列傳》","source_author":"Tư Mã Thiên","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"武王伐纣，伯夷、叔齐闻之，叩马而谏曰：“父死不葬，爰及干戈，可谓孝乎？以臣弑君，可谓仁乎？”左右欲兵之。太公曰：“此义人也。”扶而去之。武王已平殷乱，天下宗周，而伯夷、叔齐耻之，义不食周粟，隐于首阳山，采薇而食之。及饿且死，作歌。其辞曰：“登彼西山兮，采其薇矣。以暴易暴兮，不知其非矣。神农、虞、夏忽焉没兮，我安适归矣？于嗟徂兮，命之衰矣！”","content_zh_trad":"武王伐紂，伯夷、叔齊聞之，叩馬而諫曰：“父死不葬，爰及干戈，可謂孝乎？以臣弒君，可謂仁乎？”左右欲兵之。太公曰：“此義人也。”扶而去之。武王已平殷亂，天下宗周，而伯夷、叔齊恥之，義不食周粟，隱於首陽山，采薇而食之。及餓且死，作歌。其辭曰：“登彼西山兮，采其薇矣。以暴易暴兮，不知其非矣。神農、虞、夏忽焉沒兮，我安適歸矣？於嗟徂兮，命之衰矣！”","content_pinyin":"Wǔwáng fá Zhòu, Bóyí, Shūqí wén zhī, kòu mǎ ér jiàn yuē: “Fù sǐ bù zàng, yuán jí gāngē, kě wèi xiào hū? Yǐ chén shì jūn, kě wèi rén hū?” Zuǒyòu yù bīng zhī. Tàigōng yuē: “Cǐ yì rén yě.” Fú ér qù zhī. Wǔwáng yǐ píng Yīn luàn, tiānxià zōng Zhōu, ér Bóyí, Shūqí chǐ zhī, yì bù shí Zhōu sù, yǐn yú Shǒuyáng shān, cǎi wēi ér shí zhī. Jí è qiě sǐ, zuò gē. Qí cí yuē: “Dēng bǐ xī shān xī, cǎi qí wēi yǐ. Yǐ bào yì bào xī, bù zhī qí fēi yǐ. Shénnóng, Yú, Xià hū yān méi xī, wǒ ān shì guī yǐ? Yú jiē cú xī, mìng zhī shuāi yǐ!”","content_han_viet":"Vũ Vương phạt Trụ, Bá Di, Thúc Tề văn chi, khấu mã nhi gián viết: “Phụ tử bất táng, viên cập can qua, khả vị hiếu hồ? Dĩ thần thí quân, khả vị nhân hồ?” Tả hữu dục binh chi. Thái Công viết: “Thử nghĩa nhân dã.” Phù nhi khứ chi. Vũ Vương dĩ bình Ân loạn, thiên hạ tông Chu, nhi Bá Di, Thúc Tề sỉ chi, nghĩa bất thực Chu túc, ẩn vu Thủ Dương sơn, thái vi nhi thực chi. Cập ngạ thả tử, tác ca. Kỳ từ viết: “Đăng bỉ Tây Sơn hề, thái kỳ vi hĩ. Dĩ bạo dịch bạo hề, bất tri kỳ phi hĩ. Thần Nông, Ngu, Hạ hốt yên một hề, ngã an thích quy hĩ? Vu ta thư hề, mệnh chi suy hĩ!”","content_vi":"Khi Vũ Vương đem quân đi đánh vua Trụ, Bá Di, Thúc Tề nghe thấy, ra nắm dây cưng ngựa, cản lại và nói rằng:\n\nCha chết chưa chôn mà đã chăm việc chinh chiến, thế có gọi là “hiếu” được không? Bầy tôi giết vua để cướp nước thế có gọi là “nhân” được không?\n\nNhững người thân cận của Vũ Vương tức giận toan giết Bá Di và Thúc Tề.\n\nThái Công can, nói rằng:\n\nKhông nên, hai ông là “người nghĩa”. Rồi bảo quân lính ôm hai ông mà đẩy ra.\n\nĐến khi Vũ Vương đã lấy được thiên hạ của vua Trụ, thiên hạ ai cũng tôn nhà Chu, Bá Di và Thúc Tề lấy việc mất nước làm xấu hổ, đến nỗi coi thóc gạo cũng là tài sản của nhà Chu, buồn bực không ăn nữa.\n\nHai ông lên ẩn ở núi Thú Dương làm bài ca Thái Vi rằng:\n\nTa lên núi Tây Sơn Ta hái khóm rau vi Kẻ bạo thay kẻ bạo Còn biết phải trái gì!\n\nĐời cổ thoáng qua rồi Biết đâu mà quy y Than ôi! Đành chết vậy Thật vận mệnh ta suy Chính chữ Hán là:\n\nĐăng bỉ Tây Sơn hề, thái kỳ vi hĩ, Dĩ bạo dịch bạo hề, bất tri kỳ phi hĩ.\n\nThần nông, Ngu, Hạ, hốt yên một bề, ngã an thích quy hĩ.\n\nVua ta tồ hề, mệnh chi suy hĩ","loi_ban_vi":": Xem bài này, hoặc có nói “Bá Di, Thúc Tề nắm ngựa mà can Vũ Vương là phải. Song can mà người ta không nghe sao không chí thân chết theo với nước, lại đi lên núi Thú Dương hái rau vi. Than ôi! Sau ngày Giáp tý (là ngày vua Trụ mất thiên hạ), Vũ Vương đã đánh được nhà Thương, núi Thú Dương còn là đất của nhà Thương, rau vi ở núi Thú Dương còn là đồ ăn của nhà Thương nữa hay không? Bá Di, Thúc Tề lầm rồi!”. Nói như thế nghe kể cũng có lý, nhưng có phần quá nghiêm khắc. Ta chỉ biết Bá Di, Thúc Tề thân cô mà dám ngăn cả thiên binh vạn mã, thế là trong lòng rất can đảm, biết vua Trụ là người không tốt mà cũng giữ một niềm thủy chung, thế là nghĩa bất sự nhị quân, đáng tôn trọng quý báu biết chừng nào. Vả chăng hăng hái mà liều chết, việc ấy còn dễ chớ chung thủy mà làm điều nghĩa, việc ấy mới là khó. Bá Di, Thúc Tề lên ẩn trên núi mà còn để lại bài ca Thái Vi còn lưu lại hai tiếng “Hiếu, Nhân” lúc ra can Vũ Vương, thật là những bậc có thể phù thực được cương thường muôn đời khiến cho người đời sau ai xem chuyện, ngủ ngoan cũng thành có tri thức, liệt nhược cũng hóa ra cương cương mà có chí tự lập vậy.","giai_nghia":[":","Bá Di, Thúc Tề: hai con vua Cô Trúc đời nhà Thương.","Thái Công: tức Lã Vọng, một hiền thần nhà chu, trước câu cá ở sông Vy, sau gặp vua Văn Vương đón về, vua Vũ Vương dùng làm tướng.","Thú Dương: tức cũng là Tây Sơn, tên núi ở về huyện Vĩnh Thanh tỉnh Sơn Tây bây giờ.","Kẻ bạo thay kẻ bạo: đây nói vua Trụ bạo ngược, vua Vũ thay vua Trụ cũng là bạo ngược.","Bá Di, Thúc Tề: Hai anh em con vua nước Cô Trúc, nổi tiếng là người có khí tiết, không chịu ăn thóc nhà Chu mà chết đói ở núi Thủ Dương.","Thủ Dương sơn: Ngọn núi nơi Bá Di và Thúc Tề ẩn cư và chết đói, nay thuộc tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.","Thái Vi: Rau vi, một loại rau dại dùng để ăn cho qua bữa, tượng trưng cho sự thanh bần, khí tiết."],"tags":["Khí tiết","Trung nghĩa","Lịch sử","Ẩn dật"]},{"id":130,"title_vi":"ĐỜI NGƯỜI","title_zh_simp":"人生","title_zh_trad":"人生","title_pinyin":"Rénshēng","title_han_viet":"NHÂN SINH","title_en":"Human Life","source_book":"《唐伯虎全集》","source_author":"Đường Dần (Đường Bá Hổ)","source_period":"Minh triều","content_zh_simp":"人生七十古来少，前除年幼后除老。中间光阴不多时，又有炎凉与烦恼。花前月下得高歌，急须满把金樽倒。世人钱多赚不尽，朝里官多做不了。官大钱多心转忧，落得自家头白早。春夏秋冬捻指间，钟送黄昏鸡报晓。请君细点眼前人，一年一度埋荒草。草里高低多少坟，一年一半无人扫。","content_zh_trad":"人生七十古來少，前除年幼後除老。中間光陰不多時，又有炎涼與煩惱。花前月下得高歌，急須滿把金樽倒。世人錢多賺不盡，朝裡官多做不了。官大錢多心轉憂，落得自家頭白早。春夏秋冬捻指間，鐘送黃昏雞報曉。請君細點眼前人，一年一度埋荒草。草裡高低多少墳，一年一半無人掃。","content_pinyin":"Rénshēng qīshí gǔ lái shǎo, qián chú nián yòu hòu chú lǎo. Zhōngjiān guāngyīn bù duō shí, yòu yǒu yánliáng yǔ fánnǎo. Huā qián yuè xià dé gāogē, jí xū mǎn bǎ jīn zūn dào. Shìrén qián duō zhuàn bù jìn, cháo lǐ guān dà zuò bù liǎo. Guān dà qián duō xīn zhuǎn yōu, luò de zìjiā tóu bái zǎo. Chūnxià qiūdōng niǎn zhǐ jiān, zhōng sòng huánghūn jī bào xiǎo. Qǐng jūn xì diǎn yǎnqián rén, yī nián yīdù mái huāng cǎo. Cǎo lǐ gāodī duōshǎo fén, yī nián yībàn wúrén sǎo.","content_han_viet":"Nhân sinh thất thập cổ lai thiểu, tiền trừ niên ấu hậu trừ lão. Trung gian quang âm bất đa thì, hựu hữu viêm lương dữ phiền não. Hoa tiền nguyệt hạ đắc cao ca, cấp tu mãn bả kim tôn đảo. Thế nhân tiền đa chuyển bất tận, triều lý quan đa tố bất liễu. Quan đại tiền đa tâm chuyển ưu, lạc đắc tự gia đầu bạch tảo. Xuân hạ thu đông niễn chỉ gian, chung tống hoàng hôn kê báo hiểu. Thỉnh quân tế điểm nhãn tiền nhân, nhất niên nhất độ mai hoang thảo. Thảo lý cao đê đa thiểu phần, nhất niên nhất bán vô nhân tảo.","content_vi":"Sống bảy mươi năm đã mấy người!\n\nTrước thì tuổi trẻ, sau già lão Thì giờ quãng giữa được bao lâu?\n\nLại còn viêm lương cùng phiền não Hoa quá mùa xuân, hoa kém tươi, Trăng quá mùa thu, trăng kém sáng Hoa tươi trăng sáng, ta ngâm nga Rượu năm, ba chén say chuếnh choáng.\n\nTiền của càng nhiều, càng oán to Quan chức càng cao, càng nhọc xác Quan to tiền nhiều, lòng những lo Chỉ tổ làm cho đầu chóng bạc Xuân đi, hạ lại, thu sang đông Chóng như thoi đưa, như nước chảy Vừa tiễn buổi chiều, chuông chùa kêu Đã báo rạng đông, gà sáng gáy.\n\nTa thử tính xem người nhãn tiền Một năm đã thấy khuất vô số Lô nhô nắm đất cánh đồng hoang Quá nửa không ai người tảo mộ.\n\nĐường Bá Hổ","loi_ban_vi":": Đời người trăm năm sống được sáu bảy mươi năm đã hiếm.\n\nTrong khoảng sảu, bảy mươi năm ấy, trừ lúc tuổi chưa khôn, tuổi già hết khỏe, quãng giữa còn được vài ba mươi năm có là bao, mà lại còn gặp biết bao nhiêu những sự đau đớn phiền não! Ôi đời người rút lại như thế có mấy lúc là sống cho ra sống.\n\nNên chi, hằng năm, hễ gặp được thắng cảnh, lương thời, thì ra kíp nên vui chơi cho sung sướng thỏa thích, hơi đâu mà cứ mài miệt theo đuổi lấy cái sang giàu giả dối chốc lát để là lụy đến tấm thân.\n\nLúc sống thì người chóng già, khó giữ lâu được cái thân, lúc chết thì thiên hạ chóng quên khó giữ lâu được mồ mả. Thời giờ mau chóng thói đời viêm lương, vậy người ta lúc sống, mà tự khổ thân quá, tưởng cũng là khờ vậy!\n\nĐối với cái thời gian, không gian vô cùng vô hạn thì một người và một đời người kể có thấm vào đâu?","giai_nghia":[":","Đường Bá Hổ: người thời Tống tên là Trường Nhụ ở Đan Lang, chuyên học kinh Dịch, kinh Xuân Thu, trị gia rất có phép, ông có bài ca nhân sinh mà đây dịch ra.","Đường Bá Hổ: Tức Đường Dần (1470-1524), danh họa, nhà thơ nổi tiếng thời Minh, một trong \"Ngô Trung Tứ Tài Tử\".","Viêm lương: Lạnh ấm, chỉ sự thay đổi thất thường của thói đời, lòng người.","Kim tôn: Chén rượu quý bằng vàng, tượng trưng cho sự hưởng lạc."],"tags":["Nhân sinh quan","Thời gian","Triết lý","Thơ Đường"]},{"id":131,"title_vi":"BA ĐIỀU KHÓ HỌC","title_zh_simp":"三难学","title_zh_trad":"三難學","title_pinyin":"Sān nán xué","title_han_viet":"TAM NAN HỌC","title_en":"Three Difficult Things to Learn","source_book":"《说苑》","source_author":"刘向","source_period":"西汉","content_zh_simp":"曾子谓孔子曰：“吾闻夫子有三难学：见人一善而忘其百非，是夫子之易事也；见人有善，若己有之，是夫子之不争也；闻善必躬行之，然后言之，是夫子之能劳也。夫子易事，夫子不争，夫子能劳，吾学之而不能及也。”","content_zh_trad":"曾子謂孔子曰：「吾聞夫子有三難學：見人一善而忘其百非，是夫子之易事也；見人有善，若己有之，是夫子之不爭也；聞善必躬行之，然後言之，是夫子之能勞也。夫子易事，夫子不爭，夫子能勞，吾學之而不能及也。」","content_pinyin":"Zēngzǐ wèi Kǒngzǐ yuē: “Wú wén fūzǐ yǒu sān nán xué: jiàn rén yī shàn ér wàng qí bǎi fēi, shì fūzǐ zhī yì shì yě; jiàn rén yǒu shàn, ruò jǐ yǒu zhī, shì fūzǐ zhī bù zhēng yě; wén shàn bì gōng xíng zhī, ránhòu yán zhī, shì fūzǐ zhī néng láo yě. Fūzǐ yì shì, fūzǐ bù zhēng, fūzǐ néng láo, wú xué zhī ér bùnéng jí yě.”","content_han_viet":"Tăng Tử vị Khổng Tử viết: “Ngô văn phu tử hữu tam nan học: kiến nhân nhất thiện nhi vong kỳ bách phi, thị phu tử chi dị sự dã; kiến nhân hữu thiện, nhược kỷ hữu chi, thị phu tử chi bất tranh dã; văn thiện tất cung hành chi, nhiên hậu ngôn chi, thị phu tử chi năng lao dã. Phu tử dị sự, phu tử bất tranh, phu tử năng lao, ngô học chi nhi bất năng cập dã.”","content_vi":"Thầy Tăng Tử nói với Đức Khổng Tử:\n\nTôi biết thầy có ba điều, tôi học mãi mà chưa làm được. Thầy:\n\n- Thấy người ta có một điều phải mà quên cả trăm điều trái của người ta, thế là thầy dễ tính.\n\n- Thấy người có điều gì phải, thì vui vẻ như là mình có, thế là thầy không ghen tị.\n\n- Nghe thấy điều gì phải, nhất quyết làm rồi sau mới nói, thế là thầy chịu khó thực hành.\n\nThầy là người dễ tính, là người không ghen tị, là người chịu khó, tôi học mãi ba điều ấy của thầy mà chưa thể làm được.","loi_ban_vi":": Lấy một điều phải mà quên trăm điều trái, thế là có bụng khoan dung người ta, lại có ý gây cho người làm nên điều phải. Thấy người làm phải cũng vui như chính mình làm điều phải, thế là có lòng vô ngã muốn giục cho người phải ưa làm điều phải. Thấy điều phải làm ngay rồi mới nói, thế là vụ cái thực làm chớ không chỉ có một cái nói giỏi mà thôi. Ba điều này mới nghe tưởng dễ, mà làm thực khó!. Thói thường, người đời chỉ hay bới xấu nhau, ghen tị nhau, nói giỏi, mà làm càn, cho nên mới ghét bỏ nhau, lừa dối nhau, hãm hại nhau, đưa nhau đến tử vong mà không gỡ ra được.","giai_nghia":[":","Tăng Tử: tức là Tăng Sâm, người thành thực và rất có hiếu, học trò giỏi của Đức Khổng Tử truyền được đạo đức Khổng Tử có thuật sách Hiếu Kinh và sách Đại Học","曾子 (Zēngzǐ): Tăng Tử, học trò nổi tiếng của Khổng Tử, người sáng lập ra phái Tăng Tử trong Nho giáo.","易事 (yì shì): Dễ tính, dễ đối xử, dễ phục vụ. Ở đây chỉ sự khoan dung, dễ dãi trong cách nhìn nhận người khác.","不争 (bù zhēng): Không tranh giành, không ghen tị. Chỉ sự rộng lượng, không đố kỵ với người khác.","能劳 (néng láo): Có khả năng lao động, chịu khó. Ở đây chỉ sự siêng năng thực hành điều thiện, không chỉ nói suông."],"tags":["Đạo đức","Khổng Tử","Tăng Tử","Tu thân"]},{"id":132,"title_vi":"BA ĐIỀU VUI","title_zh_simp":"三乐","title_zh_trad":"三樂","title_pinyin":"Sān lè","title_han_viet":"TAM LẠC","title_en":"Three Joys","source_book":"《孟子》","source_author":"孟子","source_period":"战国","content_zh_simp":"孟子曰：“君子有三乐，而王天下不与存焉。父母俱存，兄弟无故，一乐也；仰不愧于天，俯不怍于人，二乐也；得天下英才而教育之，三乐也。”","content_zh_trad":"孟子曰：「君子有三樂，而王天下不與存焉。父母俱存，兄弟無故，一樂也；仰不愧於天，俯不怍於人，二樂也；得天下英才而教育之，三樂也。」","content_pinyin":"Mèngzǐ yuē: “Jūnzǐ yǒu sān lè, ér wàng tiānxià bù yǔ cún yān. Fùmǔ jù cún, xiōngdì wú gù, yī lè yě; yǎng bù kuì yú tiān, fǔ bù zuò yú rén, èr lè yě; dé tiānxià yīngcái ér jiàoyù zhī, sān lè yě.”","content_han_viet":"Mạnh Tử viết: “Quân tử hữu tam lạc, nhi vương thiên hạ bất dự tồn yên. Phụ mẫu câu tồn, huynh đệ vô cố, nhất lạc dã; ngưỡng bất khuy vu thiên, phủ bất tạc vu nhân, nhị lạc dã; đắc thiên hạ anh tài nhi giáo dục chi, tam lạc dã.”","content_vi":"Người quân tử có ba điều vui, tuy cho làm vua cả thiên hạ là sướng mà cũng không kể vào trong ba điều vui ấy được.\n\nCha mẹ còn sống, anh em bình yên là một điều vui.\n\nNgửa lên không tủi thẹn với trời, cúi xuống không xấu hổ với người là hai điều vui.\n\nĐược những bậc anh tài trong thiên hạ mà dạy dỗ gây dựng cho ra người là ba điều vui.","loi_ban_vi":"Ba điều vui ấy đều quy về sự trọn vẹn của luân thường, sự thanh thản của lương tâm và sự tiếp nối của đạo học. Vui vì gia đình hòa thuận là gốc của nhân luân; vui vì lòng không hổ thẹn là sự vững vàng của chính mình; vui vì dạy dỗ được người tài là sự truyền bá điều thiện cho đời. Người quân tử xem niềm vui nội tại và sự nghiệp giáo hóa cao hơn cả vinh hoa phú quý bên ngoài, bởi lẽ hạnh phúc chân thật không nằm ở địa vị mà ở sự an lạc của tâm hồn.","giai_nghia":["君子 (jūnzǐ): Người quân tử, người có đức hạnh và học vấn cao.","王天下 (wàng tiānxià): Làm vua thiên hạ, trị vì thiên hạ.","仰不愧于天，俯不怍于人 (yǎng bù kuì yú tiān, fǔ bù zuò yú rén): Ngửa lên không thẹn với trời, cúi xuống không hổ với người. Chỉ sự lương thiện, chính trực, không có gì phải hổ thẹn.","英才 (yīngcái): Người tài năng xuất chúng, anh tài."],"tags":["Mạnh Tử","Nhân sinh quan","Hạnh phúc","Đạo đức"]},{"id":133,"title_vi":"THƯƠNG MẸ GIÀ YẾU","title_zh_simp":"伯俞泣杖","title_zh_trad":"伯俞泣杖","title_pinyin":"Bó Yú qì zhàng","title_han_viet":"BÁ DU KHẤP TRƯỢNG","title_en":"Bo Yu Weeps at the Cane","source_book":"《说苑·建本》","source_author":"刘向 (Lưu Hướng)","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"韩伯俞有过，其母笞之，泣。母曰：“他日笞子，未尝见泣，今泣何也？”对曰：“俞得罪，笞常痛，今母之力衰，不能使痛，是以泣。”","content_zh_trad":"韓伯俞有過，其母笞之，泣。母曰：「他日笞子，未嘗見泣，今泣何也？」對曰：「俞得罪，笞常痛，今母之力衰，不能使痛，是以泣。」","content_pinyin":"Hán Bó Yú yǒu guò, qí mǔ chī zhī, qì. Mǔ yuē: “Tā rì chī zǐ, wèi cháng jiàn qì, jīn qì hé yě?” Duì yuē: “Yú dé zuì, chī cháng tòng, jīn mǔ zhī lì shuāi, bù néng shǐ tòng, shì yǐ qì.”","content_han_viet":"Hàn Bá Du hữu quá, kỳ mẫu si chi, khấp. Mẫu viết: “Tha nhật si tử, vị thường kiến khấp, kim khấp hà dã?” Đối viết: “Du đắc tội, si thường thống, kim mẫu chi lực suy, bất năng sử thống, thị dĩ khấp.”","content_vi":"Hàn Bá Du ăn ở với mẹ rất là có hiếu. Những khi có lỗi, mẹ thường đánh đòn. Một hôm Bá Du phải đòn, khóc mãi. Mẹ thấy vậy hỏi:\n\nMọi khi mẹ đánh con biết lỗi, con cam chịu ngay. Lần này sao con khóc dai thế?\n\nBá Du thưa:\n\nMọi khi mẹ đánh, con thấy đau, con biết mẹ còn mạnh khỏe. Lần này mẹ đánh con, con thấy không đau mấy, con biết sức mẹ đã yếu, cho nên con nghĩ, con thương mẹ mà con khóc.\n\nÔi! Con ăn ở với cha mẹ tuy khó nhọc khổ sở cũng không dám oán như Bá Du trong chuyện này, không những không oán mẹ lại còn thương mẹ già yếu, tình con yêu mẹ thế mới thật là thâm thiết.","loi_ban_vi":"Lòng hiếu thảo của Bá Du thật đáng khen thay! Người đời thường oán trách cha mẹ khi bị trách phạt, nào có biết rằng cây roi ấy chính là sợi dây gắn kết tình thân. Thương cha mẹ già yếu ngay trong lúc bị đánh đòn, mới thấu hiểu được cái lẽ sâu xa của đạo làm con, lấy bi ai làm hạnh phúc, lấy khổ đau làm vui sướng, đó chính là chân tình vậy.","giai_nghia":[":","Hàn Bá Du: người đất Lương đời nhà Hán.","Hiếu: đạo ăn ở hết lòng với cha mẹ","韩伯俞 (Hàn Bá Du): Người nước Lương thời Hán, nổi tiếng về chữ hiếu.","笞 (si): Roi tre, đây nghĩa là đánh bằng roi.","泣 (khấp): Khóc không thành tiếng, rơi lệ."],"tags":["Chữ Hiếu","Tình Mẫu Tử","Cảm Động","Đạo Đức"]},{"id":134,"title_vi":"ÁO ĐƠN MÙA RÉT","title_zh_simp":"芦衣顺母","title_zh_trad":"蘆衣順母","title_pinyin":"Lú yī shùn mǔ","title_han_viet":"LÔ Y THUẬN MẪU","title_en":"Rush-Coated Min Ziqian Obeys His Stepmother","source_book":"《说苑·佚文》","source_author":"刘向 (Lưu Hướng)","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"闵子骞早丧母，父娶后妻，生二子。后母疾子骞，以芦花衣之。父察之，欲出后妻。子骞曰：“母在一子寒，母去三子单。”父善之而止。","content_zh_trad":"閔子騫早喪母，父娶後妻，生二子。後母疾子騫，以蘆花衣之。父察之，欲出後妻。子騫曰：「母在一子寒，母去三子單。」父善之而止。","content_pinyin":"Mǐn Zǐqiān zǎo sàng mǔ, fù qǔ hòu qī, shēng èr zǐ. Hòu mǔ jí Zǐqiān, yǐ lúhuā yī zhī. Fù chá zhī, yù chū hòu qī. Zǐqiān yuē: “Mǔ zài yī zǐ hán, mǔ qù sān zǐ dān.” Fù shàn zhī ér zhǐ.","content_han_viet":"Mẫn Tử Khiêm tảo tang mẫu, phụ thú hậu thê, sinh nhị tử. Hậu mẫu tật Tử Khiêm, dĩ lô hoa y chi. Phụ sát chi, dục xuất hậu thê. Tử Khiêm viết: “Mẫu tại nhất tử hàn, mẫu khứ tam tử đơn.” Phụ thiện chi nhi chỉ.","content_vi":"Mẫn Tử Khiêm mồ côi mẹ từ thuở nhỏ. Mẹ kế sinh được hai con trai, chỉ yêu con đẻ mà ghét Tử Khiêm.\n\nMùa đông tháng giá, mẹ kế không cho Tử Khiêm mặc áo mền bông, chỉ cho mặc áo mền hoa lau. Một hôm Tử Khiêm đánh xe hầu cha, cha thấy co ro run rẩy liền quở mắng. Tử Khiêm nín không dám nói. Cha giận đánh, ngờ đâu áo rách, bật hoa lau ra.\n\nCha thấy thế căm giận người vợ kế bạc đãi con mình liền muốn đuổi đi.\n\nTử Khiêm khóc mà van rằng:\n\n- Dì con mà ở lại thì chỉ mình con rét; dì con mà phải đuổi đi thì ai may áo cho chúng con, có lẽ ba anh em con đều không có áo, phải chịu rét cả.\n\nCha nghe nói cảm động, bèn thôi không đuổi vợ kế nữa. Và từ đó người vợ kế cũng có lòng thương yêu Tử Khiêm như con đẻ vậy.","loi_ban_vi":"Tử Khiêm lấy đức báo oán, lấy tình thương cảm hóa lòng người, thật là bậc chí hiếu hiếm có. Một câu nói không những cứu được mẹ kế mà còn giữ gìn hạnh phúc cho cả gia đình, khiến người mẹ ghẻ phải hổ thẹn mà thay đổi tâm tính. Khoan dung độ lượng chính là sức mạnh lớn nhất để cảm hóa lòng người vậy.","giai_nghia":["闵子骞 (Mẫn Tử Khiêm): Tên thật là Mẫn Tổn, tự Tử Khiêm, học trò của Khổng Tử, nổi tiếng về đức hạnh.","芦花 (lô hoa): Hoa lau, dùng để nhồi áo thay bông, không giữ ấm.","出 (xuất): Ở đây nghĩa là đuổi đi, bỏ vợ."],"tags":["Chữ Hiếu","Khoan Dung","Mẹ Ghẻ","Cảm Hóa"]},{"id":135,"title_vi":"DÂNG THƯ CỨU CHA","title_zh_simp":"缇萦救父","title_zh_trad":"緹縈救父","title_pinyin":"Tí Yíng jiù fù","title_han_viet":"ĐỀ OANH CỨU PHỤ","title_en":"Ti Ying Saves Her Father","source_book":"《史记·孝文本纪》","source_author":"司马迁","source_period":"西汉","content_zh_simp":"太仓公者，齐太仓长，临淄人也，姓淳于氏，名意。少而喜医方术。文帝四年中，人上书言意，以刑罪当传西之长安。意有五女，随而泣。意怒，骂曰：“生子不生男，缓急无可使者！”于是少女缇萦伤父之言，乃随父西。上书曰：“妾父为吏，齐中称其廉平，今坐法当刑。妾切痛死者不可复生而刑者不可复续，虽欲改过自新，其道莫由，终不可得。妾愿入身为官婢，以赎父刑罪，使得改行自新也。”书闻，上悲其意，此岁中亦除肉刑法。","content_zh_trad":"太倉公者，齊太倉長，臨淄人也，姓淳于氏，名意。少而喜醫方術。文帝四年中，人上書言意，以刑罪當傳西之長安。意有五女，隨而泣。意怒，罵曰：“生子不生男，緩急無可使者！”於是少女緹縈傷父之言，乃隨父西。上書曰：“妾父為吏，齊中稱其廉平，今坐法當刑。妾切痛死者不可復生而刑者不可復續，雖欲改過自新，其道莫由，終不可得。妾願入身為官婢，以贖父刑罪，使得改行自新也。”書聞，上悲其意，此歲中亦除肉刑法。","content_pinyin":"Tài cāng gōng zhě, Qí tài cāng zhǎng, Lín zī rén yě, xìng Chún yú shì, míng Yì. Shào ér xǐ yī fāng shù. Wén dì sì nián zhōng, rén shàng shū yán Yì, yǐ xíng zuì dāng chuán xī zhī Cháng'ān. Yì yǒu wǔ nǚ, suí ér qì. Yì nù, mà yuē: \"Shēng zǐ bù shēng nán, huǎn jí wú kě shǐ zhě!\" Yú shì shào nǚ Tí Yíng shāng fù zhī yán, nǎi suí fù xī. Shàng shū yuē: \"Qiè fù wèi lì, Qí zhōng chēng qí lián píng, jīn zuò fǎ dāng xíng. Qiè qiè tòng sǐ zhě bù kě fù shēng ér xíng zhě bù kě fù xù, suī yù gǎi guò zì xīn, qí dào mò yóu, zhōng bù kě dé. Qiè yuàn rù shēn wéi guān bì, yǐ shú fù xíng zuì, shǐ dé gǎi xíng zì xīn yě.\" Shū wén, shàng bēi qí yì, cǐ suì zhōng yì chú ròu xíng fǎ.","content_han_viet":"Thái thương công giả, Tề thái thương trưởng, Lâm Truy nhân dã, tính Thuần Vu thị, danh Ý. Thiếu nhi hỉ y phương thuật. Văn Đế tứ niên trung, nhân thượng thư ngôn Ý, dĩ hình tội đương truyền tây chi Trường An. Ý hữu ngũ nữ, tùy nhi khấp. Ý nộ, mạ viết: \"Sinh tử bất sinh nam, hoãn cấp vô khả sử giả!\" Vu thị thiếu nữ Đề Oanh thương phụ chi ngôn, nãi tùy phụ tây. Thượng thư viết: \"Thiếp phụ vi lại, Tề trung xưng kỳ liêm bình, kim tọa pháp đương hình. Thiếp thiết thống tử giả bất khả phục sinh nhi hình giả bất khả phục tục, tuy dục cải quá tự tân, kỳ đạo mạc do, chung bất khả đắc. Thiếp nguyện nhập thân vi quan tì, dĩ thục phụ hình tội, sử đắc cải hạnh tự tân dã.\" Thư văn, thượng bi kỳ ý, thử tuế trung diệc trừ nhục hình pháp.","content_vi":"Thuần Vu Ý làm quan ở Tề Trung phải tội sắp đem hành hình, giải đến Trường An.\n\nÔng không có con trai, chỉ sinh được năm con gái. Lúc bị bắt đi, ông mắng con rằng:\n\n- Đẻ con chẳng đẻ con trai, những khi nguy cấp thật không có ai đỡ đần công việc.\n\nNgười con gái út tên là Đề Oanh thương khóc theo cha đến Trường An, dâng tờ thư, đại ý nói:\n\n- … Cha tôi làm quan, cả miền Tề Trung ai cũng ca tụng là thanh liêm công bình, nay bất hạnh phải tội thật là oan quá. Vả chăng tôi trộm nghĩ người đã chết thì không sống lại được, đã chém thì không liền lại được. Nên dù có muốn đổi lỗi, theo điều phải trở nên hay, nên tốt cũng không có cách nào nữa. Tôi xin bán mình làm đứa ở chỗ quan phủ, chuộc tội cho cha để cho cha tôi được tự tân.\n\nThư tâu lên vua. Vua xem, tha cho Thuần Vu Ý. Rồi xuống chiếu, trừ các nhục hình.","loi_ban_vi":"Bên Phương Đông ta, thường tình cha mẹ vẫn quý con trai hơn con gái, vì kể cứ trong nhà, con trai bao giờ vẫn được việc hơn con gái, nhất là những khi nguy cấp. Nên Thuần Vu ý đây tức mình mà gắt như thế cũng là phải.\n\nNhưng Thuần Vu ý biết đâu là được người con gái như Đề Oanh thực là hết lòng với cha, cứu cha được ra ngoài vòng tội hình, lại có phần giúp đỡ được cho cả nhân dân trong nước, vì vua bỏ các nhục hình.\n\nThế mới hay con gái hay con trai cũng vậy mà thôi, quí hồ là ăn ở hết đạo với cha *** giúp đỡ có ích cho xã hội, thì cũng là quý giá không bên nào khinh, bên nào trọng. Cổ ngữ có câu:\n\n“Gái mà chi, trai mà chi Con nào có nghĩa, có nghì là hơn”.\n\nThực là phải lắm.","giai_nghia":["太仓公 (Tài cāng gōng): Thái thương công, tức Thuần Vu Ý, người đời Hán, nổi tiếng về y thuật, từng giữ chức Thái thương lệnh (quan coi kho lúa) ở nước Tề.","缇萦 (Tí Yíng): Đề Oanh, con gái út của Thuần Vu Ý, nổi tiếng về lòng hiếu thảo, đã dâng thư xin chuộc tội cho cha.","肉刑 (ròu xíng): Nhục hình, các hình phạt gây tổn hại đến thân thể như chặt chân, xăm mặt, cắt mũi...","改过自新 (gǎi guò zì xīn): Cải quá tự tân, sửa lỗi lầm, làm lại cuộc đời."],"tags":["Hiếu thảo","Lòng nhân từ","Cải cách","Sử Ký","Nữ nhi"]},{"id":136,"title_vi":"NUÔI MẸ BẰNG ĐIỀU PHẢI","title_zh_simp":"以义养母","title_zh_trad":"以義養母","title_pinyin":"Yǐ yì yǎng mǔ","title_han_viet":"DĨ NGHĨA DƯỠNG MẪU","title_en":"Nourishing Mother with Righteousness","source_book":"《宋史·尹焞传》","source_author":"脱脱等","source_period":"元朝","content_zh_simp":"尹焞，字彦明，少师事程颐。尝应举，发策有诛元祐诸臣议。焞曰：“噫，尚可以干禄乎哉！”不对而出，告颐曰：“焞不复应进士举矣。”颐曰：“子有母在。”焞归告其母。母曰：“吾知以善养，不知以禄养。”颐闻之曰：“贤哉母也！”","content_zh_trad":"尹焞，字彥明，少師事程頤。嘗應舉，發策有誅元祐諸臣議。焞曰：“噫，尚可以幹祿乎哉！”不對而出，告頤曰：“焞不復應進士舉矣。”頤曰：“子有母在。”焞歸告其母。母曰：“吾知以善養，不知以祿養。”頤聞之曰：“賢哉母也！”","content_pinyin":"Yǐn Tūn, zì Yànmíng, shào shī shì Chéng Yí. Cháng yìng jǔ, fā cè yǒu zhū Yuán Yòu zhū chén yì. Tūn yuē: \"Yī, shàng kě yǐ gàn lù hū zāi!\" Bù duì ér chū, gào Yí yuē: \"Tūn bù fù yìng jìn shì jǔ yǐ.\" Yí yuē: \"Zǐ yǒu mǔ zài.\" Tūn guī gào qí mǔ. Mǔ yuē: \"Wú zhī yǐ shàn yǎng, bù zhī yǐ lù yǎng.\" Yí wén zhī yuē: \"Xián zāi mǔ yě!\"","content_han_viet":"Doãn Thuần, tự Ngạn Minh, thiếu sư sự Trình Di. Thường ứng cử, phát sách hữu tru tru Nguyên Hựu chư thần nghị. Thuần viết: \"Y! Thượng khả dĩ cán lộc hồ tai!\" Bất đối nhi xuất, cáo Di viết: \"Thuần bất phục ứng Tiến sĩ cử hĩ.\" Di viết: \"Tử hữu mẫu tại.\" Thuần quy cáo kỳ mẫu. Mẫu viết: \"Ngô tri dĩ thiện dưỡng, bất tri dĩ lộc dưỡng.\" Di văn chi viết: \"Hiền tai mẫu dã!\"","content_vi":"Roãn Thuần lúc nhỏ học ông Trình Di, thường chỉ cốt theo nghề khoa cử.\n\nCó một khoa thi Tiến sĩ, ông đã vào đến kỳ văn sách, đầu bài ra có câu:\n\n“Chu Nguyên Hựu chư thần” nghĩa là giết các bầy tôi đời Nguyên Hựu. Ông bỏ bài không làm, đi ra.\n\nKhi về, ông thưa với thầy là ông Trình Di rằng: Từ nay con không thi Tiến sĩ nữa.\n\nÔng Trình Di nói: Ngươi còn có mẹ già kia mà.\n\nRoãn Thuần về thưa chuyện thi cử với mẹ và nhắc lại cả câu thầy học bảo.\n\nBà mẹ nói:\n\n- Ta muốn con lấy “điều phải” mà nuôi ta hơn là lấy “bổng lộc không ra gì” mà nuôi ta.\n\nÔng Trình Di nghe thấy câu ấy khen rằng: “Giỏi thay một người mẹ như thế!”","loi_ban_vi":"Như Roãn Thuần đây sở dĩ mà không muốn đi thi là vì đầu bài ra trái ngược hẳn với lẽ phải. Bầy tôi đời Nguyên Hựu vốn là người giỏi mà lại bảo đem giết, đầu bài mà ra như thế là có ý muốn cho bọn đi thi đỗ, mà sau này là bọn quan trường, phải bác đời Tống Triết Tôn đi để nâng cái đời bấy giờ là đời Tĩnh Khang lên.\n\nCòn như Trình Di ở đây có ý khuyên bảo nên đi thi, là bụng nghĩ Roãn Thuần còn mẹ già phải phụng dưỡng. Thói thường cha mẹ cho con ăn học, ai là người không muốn cho con đi thi lấy đỗ, đã kiếm được chút lương bổng nuôi nấng mình, lại còn làm nên chút công danh vẻ vang cho cả nhà cả họ.\n\nKịp đến bà mẹ sở dĩ bảo Roãn Thuần như thế, là bà biết trọng việc nghĩa hơn là danh lợi. Một câu bà dạy con khiến một nhà hiền triết như Trình Di còn phải phục, phải khen thì há chẳng đáng làm cho những cha mẹ có con thi đỗ, chỉ mong cho con được chút danh phận, bất phân danh phận ấy thật hay giả, hay hay dở, phải suy xét cân nhắc rồi hãy đặt để cho con ru!","giai_nghia":["Roãn Thuần: người đời Tống, học giỏi nết tốt, mấy lần vua triệu từ chối không ra làm quan.","Trình Di: tức là Trình Y Xuyên một bậc danh nho đời Tống.","尹焞 (Yǐn Tūn): Doãn Thuần, tự Ngạn Minh, học trò của Trình Di, một nhà Nho học nổi tiếng đời Tống.","程颐 (Chéng Yí): Trình Di, tự Chính Thúc, một trong hai anh em nhà họ Trình (Trình Hạo, Trình Di), những người sáng lập ra Lý học đời Tống.","元祐诸臣 (Yuán Yòu zhū chén): Nguyên Hựu chư thần, các quan lại dưới thời vua Triết Tông nhà Tống, niên hiệu Nguyên Hựu (1086-1094), thường bị phe đối lập coi là phe bảo thủ.","干禄 (gàn lù): Cán lộc, tìm kiếm bổng lộc, chỉ việc ra làm quan."],"tags":["Hiếu thảo","Chính nghĩa","Khí tiết","Mẫu thân","Tống Sử"]},{"id":137,"title_vi":"SAY BẮN CHẾT TRÂU","title_zh_simp":"醉射杀牛","title_zh_trad":"醉射殺牛","title_pinyin":"Zuì shè shā niú","title_han_viet":"TÚY XẠ SÁT NGƯU","title_en":"Shooting the Ox in a Drunken Stupor","source_book":"《随纪》","source_author":"Khuyết danh","source_period":"Tùy triều","content_zh_simp":"牛弘、牛弼兄弟同居。弼性嗜酒，每醉辄酗。一日，弘出，弼醉，射杀弘牛。弘还，妻迎门，遽曰：“叔射杀牛！”弘曰：“牛死，可作脯。”弘入，坐定，妻复曰：“叔射杀牛，大是异事！”弘曰：“已知。”颜色自若，读书不辍。妻怒解，不敢复言。","content_zh_trad":"牛弘、牛弼兄弟同居。弼性嗜酒，每醉輒酗。一日，弘出，弼醉，射殺弘牛。弘還，妻迎門，遽曰：「叔射殺牛！」弘曰：「牛死，可作脯。」弘入，坐定，妻復曰：「叔射殺牛，大是異事！」弘曰：「已知。」顏色自若，讀書不輟。妻怒解，不敢復言。","content_pinyin":"Niú Hóng, Niú Bì xiōngdì tóng jū. Bì xìng shì jiǔ, měi zuì zhé xù. Yī rì, Hóng chū, Bì zuì, shè shā Hóng niú. Hóng huán, qī yíng mén, jù yuē: “Shū shè shā niú!” Hóng yuē: “Niú sǐ, kě zuò fǔ.” Hóng rù, zuò dìng, qī fù yuē: “Shū shè shā niú, dà shì yì shì!” Hóng yuē: “Yǐ zhī.” yánsè zìruò, dúshū bù chuò. Qī nù jiě, bù gǎn fù yán.","content_han_viet":"Ngưu Hoằng, Ngưu Bật huynh đệ đồng cư. Bật tính thị tửu, mỗi túy triếp hứa. Nhất nhật, Hoằng xuất, Bật túy, xạ sát Hoằng ngưu. Hoằng hoàn, thê nghênh môn, cự viết: “Thúc xạ sát ngưu!” Hoằng viết: “Ngưu tử, khả tác phủ.” Hoằng nhập, tọa định, thê phục viết: “Thúc xạ sát ngưu, đại thị dị sự!” Hoằng viết: “Dĩ tri.” nhan sắc tự nhược, độc thư bất xuyết. Thê nộ giải, bất cảm phục ngôn.","content_vi":"Ngưu Hoằng, Ngưu Bật, hai anh em ở chung với nhau.\n\nBật có tính hay chén, mà hễ chén vào thì thường khi nát rượu.\n\nMột hôm anh đi vắng, Bật ở nhà uống say túy lúy, bắn chết mất con trâu của anh.\n\nKịp lúc anh về, người vợ đón cửa, xăm xăm bảo rằng:\n\n- Này này! Chú nó ở nhà bắn chết trâu rồi!\n\nHoằng nói: Trâu chết thì phải cho đem làm thịt.\n\nHoằng vào nhà, vừa ngồi yên, vợ lại chạy đến hăm hở nói:\n\n- Chú nó bắn chết trâu là việc to lắm, có phải việc thường đâu.\n\nHoằng nét mặt vẫn hòa nhã tự nhiên nói:\n\n- Phải tôi biết rồi mà. - Rồi lấy sách giở xem như không có chuyện gì cả.\n\nVợ thấy thế nguôi cơn giận, không giám nói gì nữa.\n\nTùy Kỷ","loi_ban_vi":"Anh em một nhà mà ghét bỏ xa lánh nhau phần nhiều chỉ là tại chi em dâu.\n\nKhông phải chị em dâu có bạc ác gì đâu; tại thường tình đàn bà, phần thì suy hơn tính thiệt, tí chút cũng so kè, làm cho chữ “Lợi” đè mất chữ “Nghĩa”, phần thì đêm ngày trò chuyện, bao nhiêu cái hay muốn vơ cả vào mình, thành ra anh em hóa dở, làm cho chữ “Tình” lấn được chữ “Thân”. Đám nam nhi ta muốn ăn ở cho trọn vẹn nghĩa anh em, tình vợ chồng, tưởng cũng khi khó.\n\nNgưu Hoằng lấy thái độ ôn hòa, trầm tĩnh đối với vợ khi vợ đang bực tức căm giận, thật là biết đường lửa cháy cất dầu, cơm sôi bớt lửa mà biết đâu Hoằng lại chả nghiêm trách em mà không ai biết. Vì thế mà vợ mất giận, em được toàn, thế chẳng phải là biết cách ăn ở rất khéo trong chốn gia đình ư!","giai_nghia":["Ngưu Hoằng: người đời nhà Tùy làm quan đến Lại bộ thượng thư, đời bấy giờ xưng là “Đại nhã quân tử”","Tùy kỷ: sách chép việc đời nhà Tùy","Ngưu Hoằng (牛弘): Nhân vật chính, người đời Tùy, nổi tiếng về độ lượng và đức hạnh.","Ngưu Bật (牛弼): Em trai của Ngưu Hoằng, tính tình phóng túng, ham rượu.","Tùy Kỷ (随纪): Ghi chép về thời Tùy, có thể là một tác phẩm dã sử hoặc ghi chép của tư nhân.","Xạ sát (射殺): Bắn chết."],"tags":["Gia đình","Anh em","Đức độ","Ứng xử"]},{"id":138,"title_vi":"TÊN TÙ NƯỚC SỞ","title_zh_simp":"楚囚","title_zh_trad":"楚囚","title_pinyin":"Chǔ qiú","title_han_viet":"SỞ TÙ","title_en":"The Prisoner of Chu","source_book":"《左传》","source_author":"Tả Khâu Minh","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"晋侯观于军府，见钟仪，问之曰：“南冠而絷者，谁也？”有司对曰：“郑人所献楚囚也。”使税之，召而吊之。再拜稽首。问其族，对曰：“泠人也。”公曰：“能乐乎？”对曰：“先父之职官也，敢有二事？”使与之琴，操南音。公曰：“君王何如？”对曰：“非小人之所得知也。”固问之，对曰：“其为大子也，师保奉之，以朝于婴齐而夕于侧也。不知其他。”公语范文子，文子曰：“楚囚，君子也。言称先职，不背本也；乐操土风，不忘旧也；称大子，抑无私也；名其二卿，尊君也。不背本，仁也；不忘旧，信也；无私，忠也；尊君，敏也。仁以接事，信以守之，忠以成之，敏以行之。事虽大，必济。君盍归之，使合晋、楚之成。”公从之，重为之礼，使归求成。","content_zh_trad":"晉侯觀於軍府，見鍾儀，問之曰：「南冠而縶者，誰也？」有司對曰：「鄭人所獻楚囚也。」使稅之，召而弔之。再拜稽首。問其族，對曰：「泠人也。」公曰：「能樂乎？」對曰：「先父之職官也，敢有二事？」使與之琴，操南音。公曰：「君王何如？」對曰：「非小人之所得知也。」固問之，對曰：「其為大子也，師保奉之，以朝於嬰齊而夕於側也。不知其他。」公語范文子，文子曰：「楚囚，君子也。言稱先職，不背本也；樂操土風，不忘舊也；稱大子，抑無私也；名其二卿，尊君也。不背本，仁也；不忘舊，信也；無私，忠也；尊君，敏也。仁以接事，信以守之，忠以成之，敏以行之。事雖大，必濟。君盍歸之，使合晉、楚之成。」公從之，重為之禮，使歸求成。","content_pinyin":"Jìn hóu guān yú jūn fǔ, jiàn Zhōng Yí, wèn zhī yuē: “Nán guān ér zhí zhě, shuí yě?” Yǒusī duì yuē: “Zhèng rén suǒ xiàn Chǔ qiú yě.” Shǐ shuì zhī, zhào ér diào zhī. Zài bài qǐshǒu. Wèn qí zú, duì yuē: “Líng rén yě.” Gōng yuē: “Néng lè hū?” Duì yuē: “Xiān fù zhī zhí guān yě, gǎn yǒu èr shì?” Shǐ yǔ zhī qín, cāo nán yīn. Gōng yuē: “Jūnwáng hé rú?” Duì yuē: “Fēi xiǎorén zhī suǒ dé zhī yě.” Gù wèn zhī, duì yuē: “Qí wéi dàzǐ yě, shī bǎo fèng zhī, yǐ cháo yú Yīngqí ér xī yú Cè yě. Bù zhī qítā.” Gōng yǔ Fàn Wénzǐ, Wénzǐ yuē: “Chǔ qiú, jūnzǐ yě. Yán chēng xiān zhí, bù bèi běn yě; lè cāo tǔ fēng, bù wàng jiù yě; chēng dàzǐ, yì wúsī yě; míng qí èr qīng, zūn jūn yě. Bù bèi běn, rén yě; bù wàng jiù, xìn yě; wúsī, zhōng yě; zūn jūn, mǐn yě. Rén yǐ jiē shì, xìn yǐ shǒu zhī, zhōng yǐ chéng zhī, mǐn yǐ xíng zhī. Shì suī dà, bì jì. Jūn hé guī zhī, shǐ hé Jìn, Chǔ zhī chéng.” Gōng cóng zhī, zhòng wèi zhī lǐ, shǐ guī qiú chéng.","content_han_viet":"Tấn hầu quan vu quân phủ, kiến Chung Nghi, vấn chi viết: “Nam quan nhi chấp giả, thùy dã?” Hữu ti đối viết: “Trịnh nhân sở hiến Sở tù dã.” Sử thuyết chi, triệu nhi điếu chi. Tái bái khể thủ. Vấn kỳ tộc, đối viết: “Linh nhân dã.” Công viết: “Năng nhạc hồ?” Đối viết: “Tiên phụ chi chức quan dã, cảm hữu nhị sự?” Sử dữ chi cầm, thao nam âm. Công viết: “Quân vương hà như?” Đối viết: “Phi tiểu nhân chi sở đắc tri dã.” Cố vấn chi, đối viết: “Kỳ vi đại tử dã, sư bảo phụng chi, dĩ triêu vu Anh Tề nhi tịch vu Sách dã. Bất tri kỳ tha.” Công ngữ Phạm Văn Tử, Văn Tử viết: “Sở tù, quân tử dã. Ngôn xưng tiên chức, bất bối bản dã; nhạc thao thổ phong, bất vong cựu dã; xưng đại tử, ức vô tư dã; danh kỳ nhị khanh, tôn quân dã. Bất bối bản, nhân dã; bất vong cựu, tín dã; vô tư, trung dã; tôn quân, mẫn dã. Nhân dĩ tiếp sự, tín dĩ thủ chi, trung dĩ thành chi, mẫn dĩ hành chi. Sự tuy đại, tất tế. Quân hạt quy chi, sử hợp Tấn, Sở chi thành.” Công tòng chi, trọng vi chi lễ, sử quy cầu thành.","content_vi":"Chung Nghi là người nước Sở bị nước Trịnh bắt nộp sang nước Tấn. Nước Tấn đem bỏ vào Tù. Một hôm vua Cảnh Công đòi ra, cho cởi trói, gọi đến tận nơi ủy lạo, rồi hỏi:\n\n- Ông cha nhà ngươi xưa nay làm nghề gì?\n\nChung Nghi thưa: Ông tôi xưa nay làm nhạc quan.\n\n- Thế ngươi có biết nhạc không?\n\n- Cha tôi xưa làm chức ấy, tôi nay vẫn giữ nghiệp nhà, đâu dám sao lãng.\n\nCảnh Công đưa cho đàn cầm, bảo gảy một khúc. Chung Nghi gảy thuần tiếng Nam, tức là tiếng nước Sở. Nghe xong Cảnh Công hỏi:\n\n- Vua Sở là người thế nào?\n\nChung Nghi thưa: Tôi trí khôn hèn kém không đủ biết được thịnh đức của quân vương nước tôi.\n\nCảnh Công hỏi đi hỏi lại hai ba lần.\n\nSau Chung Nghi phải thưa:\n\n- Quân vương nước tôi khi làm thái tử, nghe lời quan Sư, quan Bảo dạy dỗ, buổi sáng đến chơi với Anh Tề, buổi chiều đến chơi với Tử Phản. Tôi biết có thế, còn việc khác tôi không được rõ.\n\nCảnh Công đem chuyện ấy nói cho Phạm Văn Tử nghe. Văn Tử thưa:\n\n- Tên tù nước Sở như thế thật là một bậc quân tử. Chức nghiệp vẫn giữ nước nhà, là người không quên gốc âm nhạc vẫn giữ tiếng Nam, là người không quên nước; khen vua Sở mà khen tính tự nhiên là vô tư; nói với nhà vua đây mà gọi hẳn tên hai quan khanh là tôn quân. Không quên gốc là “nhân”, không quên nước là “tín”, vô tư là “trung”, tôn quân là “mẫn”. Nhân thì xử được việc; tín thì giữ được việc; trung thì nên được việc; mẫn thì xong được việc. Có bốn đức ấy việc to đến đâu cũng phải xuôi, sao nhà vua không giao trả tên tù cho nước Sở, để hắn về yêu kết việc hòa hiếu cho nước Tấn, nước Sở với nhau?\n\nCảnh Công theo lời Văn Tử, hậu đãi Chung Nghi, đưa về Sở đề cầu việc hòa hiếu.\n\nTả truyện","loi_ban_vi":"Tên tù này không phải vì phạm tội thường mà bị tù, nhưng vì việc nước mà bị nước khác bắt tù. Khi đã bị bắt, người ta tra hỏi mà không rối trí, cứ ung dung đối đáp rất thông hoạt, và có ý vị khiến cho vua tôi nước ngoài nghe thấy phải khen, phải phục, như thế chẳng là vì một cái trí lự khí khái của mình mà được thoát nạn, nước mình cũng được nhân đấy mà tôn lên ru! Ôi!\n\nMột nước được một tên tù giỏi mà kiến trọng, huống chi là có bao nhiêu hiền tào thì nước được mong cậy biết là bao. “Quốc hữu nhân tắc thực” nghĩa là nước có người giỏi thì nước mới đầy đủ vững chắc, câu trong sách dạy quả là đúng lắm.","giai_nghia":["Chung Nghi (钟仪): Người nước Sở, bị bắt làm tù binh ở nước Tấn.","Tả truyện (左传): Sách ghi chép lịch sử nước Lỗ thời Xuân Thu, được cho là do Tả Khâu Minh soạn.","Cảnh Công (景公): Tức Tấn Cảnh Công, vua nước Tấn.","Phạm Văn Tử (范文子): Tên là Sĩ Tiếp, đại phu nước Tấn.","Anh Tề (婴齐) và Tử Phản (子反): Hai vị quan khanh nước Sở.","Nam quan (南冠): Mũ của người nước Sở, dùng để chỉ người nước Sở."],"tags":["Ngoại giao","Trí tuệ","Khí tiết","Lịch sử"]},{"id":139,"title_vi":"BỆNH QUÊN","title_zh_simp":"病忘","title_zh_trad":"病忘","title_pinyin":"Bìng Wàng","title_han_viet":"BỆNH QUÊN","title_en":"The Illness of Forgetfulness","source_book":"《列子·周穆王》","source_author":"Liệt Tử (Liezi)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"宋人有病忘者，旦夕取物，暮辄忘之；今日与人，明日忘之；行而忘止，居而忘坐，前有所为，后辄忘之，今有所为，后亦忘之。举家患之。卜之不吉，祷之不愈，迎医攻之，弗已。鲁有儒生，自媒能治之。病者之妻，以家财之半许之。儒生曰：“此病非卜筮之所知，非祷祀之所免，非药石之所攻。吾试化其心，变其虑，庶几其瘳乎！”于是儒生乃解衣露之，使寒，则求衣；绝食，使饥，则求食；幽之，使暗，则求明。儒生欣然谓其子曰：“病可治也。然吾方秘，不可传人。”乃屏左右，独与病者居七日。莫知其所施为也，而积年之疾，一朝都除。病者既悟，乃大怒，骂妻詈子，操戈逐儒生。人执而问其故，病者曰：“向吾病忘，荡荡然不知天地之有无。今顿识既往数十年来存亡、得失、哀乐、好恶，扰扰万绪起矣。吾恐将来之存亡、得失、哀乐、好恶，犹今之存亡、得失、哀乐、好恶也，将欲一饭顷而忘之，可得乎？”","content_zh_trad":"宋人有病忘者，旦夕取物，暮輒忘之；今日與人，明日忘之；行而忘止，居而忘坐，前有所為，後輒忘之，今有所為，後亦忘之。舉家患之。卜之不吉，禱之不愈，迎醫攻之，弗已。魯有儒生，自媒能治之。病者之妻，以家財之半許之。儒生曰：“此病非卜筮之所知，非禱祀之所免，非藥石之所攻。吾試化其心，變其慮，庶幾其瘳乎！”於是儒生乃解衣露之，使寒，則求衣；絕食，使飢，則求食；幽之，使暗，則求明。儒生欣然謂其子曰：“病可治也。然吾方秘，不可傳人。”乃屏左右，獨與病者居七日。莫知其所施為也，而積年之疾，一朝都除。病者既悟，乃大怒，罵妻詈子，操戈逐儒生。人執而問其故，病者曰：“向吾病忘，蕩蕩然不知天地之有無。今頓識既往數十年來存亡、得失、哀樂、好惡，擾擾萬緒起矣。吾恐將來之存亡、得失、哀樂、好惡，猶今之存亡、得失、哀樂、好惡也，將欲一飯頃而忘之，可得乎？”","content_pinyin":"Sòng rén yǒu bìng wàng zhě, dàn xī qǔ wù, mù zhé wàng zhī; jīn rì yǔ rén, míng rì wàng zhī; xíng ér wàng zhǐ, jū ér wàng zuò, qián yǒu suǒ wéi, hòu zhé wàng zhī, jīn yǒu suǒ wéi, hòu yì wàng zhī. Jǔ jiā huàn zhī. Bǔ zhī bù jí, dǎo zhī bù yù, yíng yī gōng zhī, fú yǐ. Lǔ yǒu rú shēng, zì méi néng zhì zhī. Bìng zhě zhī qī, yǐ jiā cái zhī bàn xǔ zhī. Rú shēng yuē: “Cǐ bìng fēi bǔ shì zhī suǒ zhī, fēi dǎo sì zhī suǒ miǎn, fēi yào shí zhī suǒ gōng. Wú shì huà qí xīn, biàn qí lǜ, shù jī qí chōu hū!” Yúshì rú shēng nǎi jiě yī lù zhī, shǐ hán, zé qiú yī; jué shí, shǐ jī, zé qiú shí; yōu zhī, shǐ àn, zé qiú míng. Rú shēng xīnrán wèi qí zǐ yuē: “Bìng kě zhì yě. Rán wú fāng mì, bù kě chuán rén.” Nǎi bǐng zuǒyòu, dú yǔ bìng zhě jū qī rì. Mò zhī qí suǒ shī wéi yě, ér jī nián zhī jí, yī zhāo dōu chú. Bìng zhě jì wù, nǎi dà nù, mà qī lì zǐ, cāo gē zhú rú shēng. Rén zhí ér wèn qí gù, bìng zhě yuē: “Xiàng wú bìng wàng, dàngdàng rán bù zhī tiāndì zhī yǒu wú. Jīn dùn shí jìwǎng shù shí nián lái cúnwáng, déshī, āilè, hàowù, rǎorǎo wàn xù qǐ yǐ. Wú kǒng jiānglái zhī cúnwáng, déshī, āilè, hàowù, yóu jīn zhī cúnwáng, déshī, āilè, hàowù yě, jiāng yù yī fàn qǐng ér wàng zhī, kě dé hū?”","content_han_viet":"Tống nhân hữu bệnh vong giả, đán tịch thủ vật, mộ triếp vong chi; kim nhật dữ nhân, minh nhật vong chi; hành nhi vong chỉ, cư nhi vong tọa, tiền hữu sở vi, hậu triếp vong chi, kim hữu sở vi, hậu diệc vong chi. Cử gia hoạn chi. Bốc chi bất cát, đảo chi bất dũ, nghênh y công chi, phất dĩ. Lỗ hữu nho sinh, tự môi năng trị chi. Bệnh giả chi thê, dĩ gia tài chi bán hứa chi. Nho sinh viết: “Thử bệnh phi bốc phệ chi sở tri, phi đảo tự chi sở miễn, phi dược thạch chi sở công. Ngô thí hóa kỳ tâm, biến kỳ lự, thứ kỷ kỳ sưu hồ!” Vu thị nho sinh nãi giải y lộ chi, sử hàn, tắc cầu y; tuyệt thực, sử cơ, tắc cầu thực; u chi, sử ám, tắc cầu minh. Nho sinh hân nhiên vị kỳ tử viết: “Bệnh khả trị dã. Nhiên ngô phương bí, bất khả truyền nhân.” Nãi bính tả hữu, độc dữ bệnh giả cư thất nhật. Mạc tri kỳ sở thi vi dã, nhi tích niên chi tật, nhất triêu đô trừ. Bệnh giả ký ngộ, nãi đại nộ, mạ thê lệ tử, thao qua trục nho sinh. Nhân chấp nhi vấn kỳ cố, bệnh giả viết: “Hướng ngô bệnh vong, đãng đãng nhiên bất tri thiên địa chi hữu vô. Kim đốn thức ký vãng sổ thập niên lai tồn vong, đắc thất, ai lạc, hiếu ố, nhiễu nhiễu vạn tự khởi hĩ. Ngô khủng tương lai chi tồn vong, đắc thất, ai lạc, hiếu ố, do kim chi tồn vong, đắc thất, ai lạc, hiếu ố dã, tương dục nhất phạn khoảnh nhi vong chi, khả đắc hồ?”","content_vi":"Nước Tống có anh đứng tuổi, tự nhiên mắc phải bệnh quên; buổi sáng lấy gì của ai, buổi chiều đã quên; ngày nay cho ai cái gì, ngày mai đã quên; ra đường quên cả đi, ở nhà quên cả ngồi, trước có làm những gì, bây giờ quên hết, bây giờ đang làm gì thì sau này cũng quên hết.\n\nCả nhà anh lấy làm lo. Xem bói không tốt, đi cúng không đỡ, đón thầy thuốc chữa cũng không khỏi.\n\nSau có ông đồ người nước Lỗ đến xin đám, nói rằng chữa được.\n\nVợ người có bệnh hứa với ông đồ hễ chữa khỏi thì chia cho nửa cơ nghiệp.\n\nÔng đồ nói:\n\n- Bệnh này bói không ra được, cũng không khỏi được, thuốc không chữa được. Nay tôi thử hóa cái tâm tính, biến cái trí lự của anh ta, may mà khỏi chăng.\n\nNói đoạn ông đồ liền sai lột áo để cho rét, thì thấy anh ta xin áo, sai cấm ăn để cho đói thì thấy anh ta xin ăn, sai đem vào chỗ tối thì thấy anh ta xin ra chỗ sáng.\n\nÔng đồ hớn hở bảo con anh ta rằng:\n\n- Bệnh chữa được, song môn thuốc của tôi bí truyền không thể nói cho ai biết.\n\nRồi ông đuổi cả người chung quanh đi, chỉ một mình ông với người có bệnh trong bảy ngày. Chẳng ai biết ông đồ chữa chạy thế nào, mà cái bệnh lâu năm thế nhất đán khỏi phăng.\n\nKhi anh có bệnh đã tỉnh như thường, anh liền nổi cơn giận, chửi vợ đánh con, cầm giáo đuổi ông đồ.\n\nNgười ta bắt anh hỏi, vì cớ gì mà anh giận như vậy, thì anh ta nói:\n\n- Lúc trước ta có bệnh quên, thì trong lòng ta thản nhiên khoan khoái, trời đất có hay không ta cũng chẳng biết. Nay ta hết bệnh, ta nhớ lại cả những việc vài mươi năm về trước, việc còn, việc mất, việc được, việc hỏng, việc thương, việc vui, việc yêu, việc ghét, trong lòng lại muôn mối ngổn ngang bời bời nổi lên vậy. Ta e sau này những việc còn mất, được hỏng, thương vui, yêu ghét ấy cứ vướng vít trong lòng ta mãi mãi, thì bấy giờ dù muốn quên cả đi một phút, một lát liệu còn có được nữa chăng.","loi_ban_vi":"Lòng người đen trắng, việc đời đảo điên, lắm nỗi ngang tai trái mắt, làm cho người ta không muốn trông, muốn nghe, thậm chí đến không muốn biết đến, chỉ muốn quên sạch. Bởi thế Liệt Tử thành ra chán đời, mới đặt ra câu chuyện này để tỏ hết cái nỗi bực tức đau thương trong lòng. Ôi! Chẳng gì cái đời cổ tự Liệt Tử cũng còn chất phác, mà đã khắt khe đáng chán như thế, huống chi cái đời bây giờ là cái đời mỗi ngày gian trá quái ác thêm sinh thì phỏng còn có gì làm cho người biết nghĩ đáng yêu đáng quí nữa:\n\nNghĩ thân phù thế mà đau, Bọt trong bể khổ, bèo dầu bến mê!","giai_nghia":["Tống: nước chư hầu thời Xuân Thu ở vào huyện Thương Khưu tỉnh Hà Nam bây giờ.","Ông đồ người nước Lỗ: đây ám chỉ Khổng phu tử","Chú thích 1: 病忘 (Bệnh vong): Bệnh hay quên, chứng mất trí nhớ.","Chú thích 2: 自媒 (Tự môi): Tự tiến cử mình, tự giới thiệu mình.","Chú thích 3: 化其心，變其慮 (Hóa kỳ tâm, biến kỳ lự): Thay đổi tâm tính và tư duy của anh ta.","Chú thích 4: 蕩蕩然 (Đãng đãng nhiên): Trạng thái thênh thang, rộng rãi, không vướng bận, thản nhiên."],"tags":["Liệt Tử","Đạo Gia","Bệnh Quên","Nhân Sinh Quan","Ẩn Dụ"]},{"id":140,"title_vi":"BỆNH MÊ","title_zh_simp":"病迷","title_zh_trad":"病迷","title_pinyin":"Bìng Mí","title_han_viet":"BỆNH MÊ","title_en":"The Illness of Delusion","source_book":"《列子·周穆王》","source_author":"Liệt Tử (Liezi)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"秦人逢氏有子，少而惠，及壮而有迷罔之疾。闻歌以为哭，视白以为黑，飨香以为朽，尝甘以为苦。行非而是，意之所之，天地、四方、水火、寒暑，无不倒错者焉。其父之鲁，过陈，遇老聃，因语其子之证。老聃曰：“汝庸知汝子之迷乎？今天下之人皆惑于是非，昏于利害，同疾者多，固莫有觉者。且一身之迷不足倾一家，一家之迷不足倾一乡，一乡之迷不足倾一国，一国之迷不足倾天下。天下尽迷，孰倾之哉？向使天下之人其心尽如汝子，汝则反迷矣。哀乐、声色、臭味、是非，孰能正之？且吾之言未必非迷，况鲁之君子迷之邮者，焉能解人之迷哉？赢汝之财，不若遄归也。”","content_zh_trad":"秦人逢氏有子，少而惠，及壯而有迷罔之疾。聞歌以為哭，視白以為黑，饗香以為朽，嘗甘以為苦。行非而是，意之所之，天地、四方、水火、寒暑，無不倒錯者焉。其父之魯，過陳，遇老聃，因語其子之證。老聃曰：“汝庸知汝子之迷乎？今天下之人皆惑於是非，昏於利害，同疾者多，固莫有覺者。且一身之迷不足傾一家，一家之迷不足傾一鄉，一鄉之迷不足傾一國，一國之迷不足傾天下。天下盡迷，孰傾之哉？向使天下之人其心盡如汝子，汝則反迷矣。哀樂、聲色、臭味、是非，孰能正之？且吾之言未必非迷，況魯之君子迷之郵者，焉能解人之迷哉？贏汝之財，不若遄歸也。”","content_pinyin":"Qín rén féng shì yǒu zǐ, shào ér huì, jí zhuàng ér yǒu mí wǎng zhī jí. Wén gē yǐwéi kū, shì bái yǐwéi hēi, xiǎng xiāng yǐwéi xiǔ, cháng gān yǐwéi kǔ. Xíng fēi ér shì, yì zhī suǒ zhī, tiāndì, sìfāng, shuǐ huǒ, hán shǔ, wú bù dào cuò zhě yān. Qí fù zhī Lǔ, guò Chén, yù Lǎo Dān, yīn yǔ qí zǐ zhī zhèng. Lǎo Dān yuē: “Rǔ yōng zhī rǔ zǐ zhī mí hū? Jīn tiānxià zhī rén jiē huò yú shìfēi, hūn yú lìhài, tóng jí zhě duō, gù mò yǒu jué zhě. Qiě yī shēn zhī mí bùzú qīng yī jiā, yī jiā zhī mí bùzú qīng yī xiāng, yī xiāng zhī mí bùzú qīng yī guó, yī guó zhī mí bùzú qīng tiānxià. Tiānxià jǐn mí, shú qīng zhī zāi? Xiàng shǐ tiānxià zhī rén qí xīn jǐn rú rǔ zǐ, rǔ zé fǎn mí yǐ. Āi lè, shēngsè, chòu wèi, shìfēi, shú néng zhèng zhī? Qiě wú zhī yán wèibì fēi mí, kuàng Lǔ zhī jūnzǐ mí zhī yóu zhě, yān néng jiě rén zhī mí zāi? Yíng rǔ zhī cái, bùruò chuán guī yě.”","content_han_viet":"Tần nhân Phùng thị hữu tử, thiếu nhi huệ, cập tráng nhi hữu mê võng chi tật. Văn ca dĩ vi khốc, thị bạch dĩ vi hắc, hưởng hương dĩ vi hủ, thường cam dĩ vi khổ. Hành phi nhi thị, ý chi sở chi, thiên địa, tứ phương, thủy hỏa, hàn thử, vô bất đảo thác giả yên. Kỳ phụ chi Lỗ, quá Trần, ngộ Lão Đam, nhân ngữ kỳ tử chi chứng. Lão Đam viết: “Nhữ dung tri nhữ tử chi mê hồ? Kim thiên hạ chi nhân giai hoặc vu thị phi, hôn vu lợi hại, đồng tật giả đa, cố mạc hữu giác giả. Thả nhất thân chi mê bất túc khuynh nhất gia, nhất gia chi mê bất túc khuynh nhất hương, nhất hương chi mê bất túc khuynh nhất quốc, nhất quốc chi mê bất túc khuynh thiên hạ. Thiên hạ tận mê, thục khuynh chi tai? Hướng sử thiên hạ chi nhân kỳ tâm tận như nhữ tử, nhữ tắc phản mê hĩ. Ai lạc, thanh sắc, xú vị, thị phi, thục năng chính chi? Thả ngô chi ngôn vị tất phi mê, huống Lỗ chi quân tử mê chi do giả, yên năng giải nhân chi mê tai? Doanh nhữ chi tài, bất nhược thuyên quy dã.”","content_vi":"Nước Tần có con nhà học Bàng, lúc nhỏ thông minh khôn ngoan sớm, đến lúc lớn tự nhiên mắc phải bệnh mê, nghe hát cho là khóc, trông trắng hóa ra đen, ngửi thơm cho là thối, ăn ngọt cho là đắng. Tính hạnh anh dở mà cứ cho là phải, bao nhiêu những cái anh ta nghĩ đến, trời đất, bốn phương, nước, lửa, nực, rét, không cái gì là không đảo ngược sai lầm cả.\n\nCó người bảo cha anh rằng:\n\nBậc quân tử nước Lỗ có lắm thuật, nhiều nghề họa may chữa được chăng, sao không đưa đi mà hỏi.\n\nNgười cha sang nước Lỗ. Khi qua nước Trần gặp ông Lão Đam, nhân nói chuyện chứng bệnh của con.\n\nLão Đam nói:\n\nNhà ngươi há biết được cái bệnh mê của con nhà ngươi đâu. Nay thiên hạ ai ai cũng ù ờ phải trái, mờ mịt, về lợi hại, kẻ mắc phải bệnh mê như con nhà ngươi rất nhiều, chẳng có ai tỉnh cả.\n\nVả lại, một mình mê không đủ làm lụy một nhà, một nhà mê không đủ làm lụy một nước, một nước mê không đủ làm lụy cả thiên hạ. Thiên hạ ai ai cũng mê cả, thì còn ai làm lụy ai được nữa.\n\nGiả sử thiên hạ ai cũng mê như con nhà ngươi mà chỉ nhà ngươi muốn chữa bệnh mê, thế thì chính nhà ngươi lại hóa ra mê mất.\n\nỞ đời những sự thương, vui, lẽ phải trái, những cái mắt trông, tai nghe, mồm nếm, mũi ngửi, ai nấy là người chắc cứ cho như thế mới là phải. Này ngay như lời nói ta đây, vị tất đã khỏi mê, huống chí người quân tử nước Lỗ lại là người quá ư mê , thì chữa sao được bệnh mê của người.\n\nNhà ngươi đem bao nhiêu tiền đi tìm thầy chữa chạy chẳng bằng nghe ta trở về ngay còn hơn.","loi_ban_vi":": bài ngày cũng như bài trên có ý chê Đức Khổng Tử, bác hẳn cái nếp đã thành ở đời, xưa nay ai nấy, tự lúc biết đời cũng cứ cho như thế mới là phải. Nhưng xét đến nơi, cái nếp ấy chẳng qua cũng chỉ là ước định mà thôi.\n\nẤy là không nói ở đời lắm kẻ lợi dụng cái nếp ấy làm điều giả dối để ngu hoặc người ta, lắm khi đến nỗi chỉ còn có danh mà không có thực. Giả sử bây giờ ta thử đổi cái trắng là đen, cái đen là trắng, cái ngọt là đắng, cái đắng là ngọt, nếu lâu ngày quen nếp đi, thì tất thiên hạ lại cho thế mới là thuận mà chính như bây giờ là nghịch vậy. Ôi! Cái thanh, sắc khứu, vị rõ rệt như thế, người đời cho ngược hẳn lại được, thì cái nhân tâm, thế đạo là cái vô hình, vô trạng người đời há lại không dám ngược lại hay sao! Này những đời loạn, càn dỡ thì cho là tòng quyền, hà hiếp thì gọi là bênh vực, cái phận trên dưới không phân minh, đến cả cha con cũng bình đẳng, cái mối luân thường đã rối loạn, đến cả vợ chồng cũng tự do, mà cứ càng ngày càng đắm đuối mãi vào, thì có gọi đời là tỉnh được hay không! Hay chính là mê, mê quá không biết nữa vậy. Bệnh mê thực làm hại người ta, hầu hết cả một nước, cả loại người như điên, như cuồng, ai chữa cho khỏi, mà ai là kẻ có cách nhìn được khỏi.\n\nThan ôi biết làm thế nào?","giai_nghia":[":","Tần: tên một nước về đời Xuân Thu ở vào đất Thiểm Tây ngày nay.","Quân tử nước Lỗ: ám chỉ Khổng Tử.","Lắm thuật nhiều nghề: Lắm cách nhiều lối.","Trần: tên một nước Xuân Thu ở khoảng phủ Thai Phong (Hà Nam) cho đến châu Bạc (An Huy ) bây giờ.","Lão Đam: tức Lão Tử, họ Lý tên Nhi người Xuân Thu có làm sách Đạo đức kinh, tổ đạo Lão.","Chú thích 1: 迷罔 (Mê võng): Mê muội, hoảng hốt, tinh thần rối loạn.","Chú thích 2: 饗 (hưởng): Ngửi, hưởng thức ăn. Ở đây nghĩa là ngửi thấy mùi thơm.","Chú thích 3: 倒錯 (đảo thác): Đảo lộn, sai lầm, trái ngược.","Chú thích 4: 郵 (do): Nơi truyền tin, trạm. Ở đây có nghĩa là 'điển hình nhất', 'quá lắm' (迷之郵者: kẻ mê muội nhất).","Chú thích 5: 遄歸 (thuyên quy): Mau chóng trở về."],"tags":["Liệt Tử","Đạo Gia","Bệnh Mê","Tương Đối Luận","Phê Phán Nho Gia"]},{"id":141,"title_vi":"VỢ LẼ PHẢI ĐÒN","title_zh_simp":"妾妇受笞","title_zh_trad":"妾婦受笞","title_pinyin":"Qiè fù shòu chī","title_han_viet":"THIẾP PHỤ THỤ TRÌ","title_en":"The Concubine Who Suffered the Beating","source_book":"《战国策》","source_author":"刘向","source_period":"西汉","content_zh_simp":"昔有仕宦远行，其妻有私于邻人。闻夫且归，私者忧之。妻曰：“勿忧也，吾已为药酒待之矣。”居二日，夫至，因与妻言笑甚欢。妻使妾奉卮酒进之，妾知其药酒也，进之则杀主父，言之则逐主母，乃阳僵弃酒。主父大怒，笞之五十。","content_zh_trad":"昔有仕宦遠行，其妻有私於鄰人。聞夫且歸，私者憂之。妻曰：「勿憂也，吾已為藥酒待之矣。」居二日，夫至，因與妻言笑甚歡。妻使妾奉卮酒進之，妾知其藥酒也，進之則殺主父，言之則逐主母，乃陽僵棄酒。主父大怒，笞之五十。","content_pinyin":"Xī yǒu shì huàn yuǎn xíng, qí qī yǒu sī yú lín rén. Wén fū qiě guī, sī zhě yōu zhī. Qī yuē: “Wù yōu yě, wú yǐ wéi yào jiǔ dài zhī yǐ.” Jū èr rì, fū zhì, yīn yǔ qī yán xiào shèn huān. Qī shǐ qiè fèng zhī jiǔ jìn zhī, qiè zhī qí yào jiǔ yě, jìn zhī zé shā zhǔ fù, yán zhī zé zhú zhǔ mǔ, nǎi yáng jiāng qì jiǔ. Zhǔ fù dà nù, chī zhī wǔ shí.","content_han_viet":"Tích hữu sĩ hoán viễn hành, kỳ thê hữu tư vu lân nhân. Văn phu thả quy, tư giả ưu chi. Thê viết: “Vật ưu dã, ngô dĩ vi dược tửu đãi chi hĩ.” Cư nhị nhật, phu chí, nhân dữ thê ngôn tiếu thậm hoan. Thê sử thiếp phụng chi tửu tiến chi, thiếp tri kỳ dược tửu dã, tiến chi tắc sát chủ phụ, ngôn chi tắc trục chủ mẫu, nãi dương cương khí tửu. Chủ phụ đại nộ, trì chi ngũ thập.","content_vi":"Xưa có người đi làm quan xa. Vợ ở nhà có ngoại tình ít lâu, có tin người chồng sắp về, đứa gian phụ lấy làm lo. Đứa gian phụ bảo rằng:\n\nKhông việc gì mà sợ. Tôi đã làm sẵn thứ rượu thuốc để đã nó đây rồi.\n\nHai hôm sau chồng về tới nhà, đang khi chuyện trò vui vẻ, người vợ sai người thiếp rót chén rượu dân chồng, bảo cố mời uống. Người thiếp biết rõ chén rượu ấy có thuốc độc, nghĩ trong bụng rằng:\n\nTa mà dâng chén rượu này thì ta là người giết chồng, ta mà nói ra thì ta lại làm cho vợ cả ghét ta.\n\nBèn giả cách ngã, làm cho chén rượu đổ xuống đất.\n\nChống thấy vậy giận lắm, đánh cho người thiếp mấy chục roi.\n\nThan ôi! Người thiếp này đánh đổ chén rượu, phần thì làm cho chống được sống, phần thì làm cho vợ cả khỏi tội. Trung tín đến như thế mà chẳng khỏi đòn mà phải chịu tội.","loi_ban_vi":": Thân danh được là bà quan mà có ngoại tình là rất xấu xa đã nên tội. Đã ngoại tình lại còn những toan giết chồng, cái tội càng nặng biết để vào đâu cho hết. Ngoan thay! Thế mà vẫn chẳng ai biết, vẫn ra ngoài vòng pháp luật.\n\nPhận hèn tiểu thiếp mà biết giữ cho chồng khỏi chết, vợ cả khỏi tội, hết lòng ủy khúc, chỉ cốt giữ cho gia đình được êm thấm, khỏi ô uế, không quản gì đến thân, cái chí cao như thế, cái đức dày như thế mà lại đến nỗi vừa phải đòn, vừa bị người ghét. Than ôi Tình cảnh khắt khe, nỗi oan ai tỏ.\n\nTrong gia đình nhà ông quan này, có một câu chuyện như thế, nhưng trong cả nước, cả thiên hạ, còn có bao nhiêu câu chuyện như thế. Xưa nay đã có biết bao nhiêu chí sĩ nhân nhân, trung thần liệt nữ chỉ vì chân lý, chỉ vì cứu người mà phải ngục tù oan ức đau khổ đến thân. Khổ nhục oan ức những bậc ấy có coi vào đâu, miễn là đạt được mục đích, dù không ai biết, cũng lấy làm vui, có sá kể chi thế thái nhân tình của thế tục. Tấm lòng trung nghĩa tinh tinh thành của những bậc ấy đáng quý, đáng trọng biết nhường nào.","giai_nghia":["妾 (thiếp): người vợ lẽ, vợ nhỏ.","卮酒 (chi tửu): chén rượu, cốc rượu.","阳僵 (dương cương): giả vờ ngã, giả cách té ngã.","笞 (trì): roi, đánh bằng roi."],"tags":["Trinh tiết","Hy sinh","Oan ức","Chiến Quốc Sách"]},{"id":142,"title_vi":"KHOÉT MẮT","title_zh_simp":"剜目明志","title_zh_trad":"剜目明志","title_pinyin":"Wān mù míng zhì","title_han_viet":"OAN MỤC MINH CHÍ","title_en":"Gouging Out an Eye to Show Resolve","source_book":"《隋唐嘉话》","source_author":"刘餗","source_period":"唐代","content_zh_simp":"卢夫人，房玄龄妻也。玄龄微时，病且死，谓卢氏曰：“吾病革，卿年少，不可寡居，善事后人。”卢氏泣，入帷中，剔一目示玄龄，明无他志。会玄龄病愈，后居相位，礼之终身，不置妾媵。太宗尝问曰：“卿不置妾，岂畏卢夫人妒耶？”玄龄曰：“臣非畏妒，实念糟糠之情耳。”太宗乃命皇后召卢夫人，谓之曰：“若宁不妒而生，宁妒而死？”卢氏对曰：“妾宁妒而死。”太宗乃遣人赍鸩酒与之，曰：“若然，可饮此。”卢氏一举而尽，神色自若。太宗叹曰：“朕尚畏之，况于玄龄！”","content_zh_trad":"盧夫人，房玄齡妻也。玄齡微時，病且死，謂盧氏曰：「吾病革，卿年少，不可寡居，善事後人。」盧氏泣，入帷中，剔一目示玄齡，明無他志。會玄齡病癒，後居相位，禮之終身，不置妾媵。太宗嘗問曰：「卿不置妾，豈畏盧夫人妒耶？」玄齡曰：「臣非畏妒，實念糟糠之情耳。」太宗乃命皇后召盧夫人，謂之曰：「若寧不妒而生，寧妒而死？」盧氏對曰：「妾寧妒而死。」太宗乃遣人齎鴆酒與之，曰：「若然，可飲此。」盧氏一舉而盡，神色自若。太宗嘆曰：「朕尚畏之，況於玄齡！」","content_pinyin":"Lú fūrén, Fáng Xuánlíng qī yě. Xuánlíng wēi shí, bìng qiě sǐ, wèi Lú shì yuē: “Wú bìng gé, qīng niánshào, bùkě guǎ jū, shàn shì hòurén.” Lú shì qì, rù wéi zhōng, tī yī mù shì Xuánlíng, míng wú tā zhì. Huì Xuánlíng bìng yù, hòu jū xiàngwèi, lǐ zhī zhōngshēn, bù zhì qiè yìng. Tàizōng cháng wèn yuē: “Qīng bù zhì qiè, qǐ wèi Lú fūrén dù yé?” Xuánlíng yuē: “Chén fēi wèi dù, shí niàn zāokāng zhī qíng ěr.” Tàizōng nǎi mìng huánghòu zhào Lú fūrén, wèi zhī yuē: “Ruò níng bù dù ér shēng, níng dù ér sǐ?” Lú shì duì yuē: “Qiè níng dù ér sǐ.” Tàizōng nǎi qiǎn rén jī zhèn jiǔ yǔ zhī, yuē: “Ruò rán, kě yǐn cǐ.” Lú shì yī jǔ ér jǐn, shénsè zìruò. Tàizōng tàn yuē: “Zhèn shàng wèi zhī, kuàng yú Xuánlíng!”","content_han_viet":"Lư phu nhân, Phòng Huyền Linh thê dã. Huyền Linh vi thời, bệnh thả tử, vị Lư thị viết: “Ngô bệnh cách, khanh niên thiếu, bất khả quả cư, thiện sự hậu nhân.” Lư thị khấp, nhập duy trung, thế nhất mục thị Huyền Linh, minh vô tha chí. Hội Huyền Linh bệnh dũ, hậu cư tướng vị, lễ chi chung thân, bất trí thiếp dựng. Thái Tông thường vấn viết: “Khanh bất trí thiếp, khởi úy Lư phu nhân đố da?” Huyền Linh viết: “Thần phi úy đố, thực niệm tao khang chi tình nhĩ.” Thái Tông nãi mệnh hoàng hậu triệu Lư phu nhân, vị chi viết: “Nhược ninh bất đố nhi sinh, ninh đố nhi tử?” Lư thị đối viết: “Thiếp ninh đố nhi tử.” Thái Tông nãi khiển nhân trai trấm tửu dữ chi, viết: “Nhược nhiên, khả ẩm thử.” Lư thị nhất cử nhi tận, thần sắc tự nhược. Thái Tông thán viết: “Trẫm thượng úy chi, huống vu Huyền Linh!”","content_vi":"Lư phu nhân, vợ ông Phòng Huyền Linh là người tuyệt đẹp và đức hạnh.\n\nÔng lúc trẻ hàn vi lắm. Một khi bệnh nặng tưởng đã sắp chết, ông gọi Lư thị đến bảo rằng:\n\nTôi bệnh nguy quá, nàng tuổi còn trẻ không nên ở vậy, liệu mà ăn ở tử tế với người chồng sau.\n\nLư thị nghe nói nức nở khóc. Đoạn vào trong mà khoét một mắt bỏ đi, có ý tỏ cho chồng biết rằng dù chồng bất hạnh có chết, cũng không chí lấy ai nữa.\n\nKhông bao lâu, ông Huyền Linh khỏi bệnh.\n\nSau ông thi đỗ, làm quan đến chức tể tướng. Ông một niềm yêu mến, kính trọng Lư thị vô cùng, không hề lấy người tì thiếp nào nữa.\n\nNgười ngoài cho thế là tại ông sợ Lư thị có tính hay ghen.\n\nChính vua Đường Thái Tôn muốn thử Lư phu nhân, một hôm cho Hoàng Hậu gọi vào bảo:\n\nTheo phép thường các quan to vẫn có tì thiếp. Quan nhà ta tuổi đã cao, vua muốn ban cho một người mỹ nhân.\n\nLư thị nhất quyết không nghe. Vua nổi giận mắng rằng:\n\nNhà ngươi không ghen thì sống mà ghen thì chết. Rồi sai người đưa cho một chén rượu, giả làm chén rượu độc, phán rằng : “Đã vậy thì phải uống chén thuốc độc này”.\n\nLư thị không ngần ngại chút nào, cầm chén uống hết ngay.\n\nVua thấy thế nói :\n\nTa cũng phải sợ nữa là Huyền Linh","loi_ban_vi":": Tưởng mình sắp chết, thấy vợ trẻ trung, không muốn để cho vợ ở vậy, thế là quá thương yêu vợ, thể tất cho vợ lắm. Sợ chồng tiếc đẹp, chết đi không dứt, mà khoét mắt để tỏ ra thành tật cho yên lòng chồng, thế là chí tình và nhất tâm với chồng lắm.\n\nMay khỏi bệnh, sau lại làm đến Tể tướng, ông chỉ biết có bà mắt khoét, không biết gì đến tì thiếp xinh đẹp, thế là ông muốn giữ cho được trọn vẹn cái tình đối với bà. Còn bà không muốn để cho ông có tì thiếp, tuy gọi là thói quen thường tình, nhưng cũng là vì chung tình với ông, không muốn cúng ai san sẻ mối tình nữa. Quý thay! Đôi vợ chồng này, chân tình và chí tình suốt đời kính yêu nhau, vợ chỉ biết có chồng, chồng cũng chỉ biết có vợ, chồng một vợ một, không những thoát khỏi cái nạn đa nhân duyên nhiều phiền não mà còn gây được cái phúc lâu dài cho thân, cho gia đình, cho con cháu sau nữa.","giai_nghia":[":","Phòng Huyền Linh: danh tướng thới nhà Đường","糟糠 (tao khang): cám và rượu hẩm, chỉ người vợ từng sống trong cảnh nghèo khổ.","鸩酒 (trấm tửu): rượu độc, rượu có pha lông chim trấm.","媵 (dựng): người hầu gái được gả kèm, chỉ chung việc nạp thiếp.","微时 (vi thời): lúc còn hàn vi, lúc chưa hiển đạt."],"tags":["Tiết nghĩa","Phòng Huyền Linh","Ghen tuông","Đường Thái Tông"]},{"id":143,"title_vi":"VỢ XẤU","title_zh_simp":"贤妻","title_zh_trad":"賢妻","title_pinyin":"Xián qī","title_han_viet":"HIỀN THÊ","title_en":"The Virtuous Wife","source_book":"《世說新語》","source_author":"劉義慶","source_period":"Lưu Tống (Nam-Bắc triều)","content_zh_simp":"许允妇是阮卫尉女，德如妹，奇丑。交礼竟，允无复入理，家人深以为忧。会允有客至，妇令婢视之，还答曰：“是桓郎。”桓郎者，桓范也。妇云：“无忧，桓必劝入。”桓果语许云：“阮家既嫁丑女与卿，故当有意，卿宜察之。”许便回入内，既见妇，即欲出。妇料其此出无复入理，便捉裾停之。许因谓曰：“妇有四德，卿有其几？”妇曰：“新妇所乏唯容尔。然士有百行，君有几？”许云：“皆备。”妇曰：“夫百行以德为首。君好色不好德，何谓皆备？”允有惭色，遂相敬重。","content_zh_trad":"許允婦是阮衛尉女，德如妹，奇醜。交禮竟，允無復入理，家人深以為憂。會允有客至，婦令婢視之，還答曰：“是桓郎。”桓郎者，桓範也。婦云：“無憂，桓必勸入。”桓果語許云：“阮家既嫁醜女與卿，故當有意，卿宜察之。”許便回入內，既見婦，即欲出。婦料其此出無復入理，便捉裾停之。許因謂曰：“婦有四德，卿有其幾？”婦曰：“新婦所乏唯容爾。然士有百行，君有幾？”許云：“皆備。”婦曰：“夫百行以德為首。君好色不好德，何謂皆備？”允有慚色，遂相敬重。","content_pinyin":"Xǔ Yǔn fù shì Ruǎn wèiwèi nǚ, Dé Rú mèi, qí chǒu. Jiāo lǐ jìng, Yǔn wú fù rù lǐ, jiārén shēn yǐwéi yōu. Huì Yǔn yǒu kè zhì, fù lìng bì shì zhī, huán dá yuē: “Shì Huán láng.” Huán láng zhě, Huán Fàn yě. Fù yún: “Wú yōu, Huán bì quàn rù.” Huán guǒ yǔ Xǔ yún: “Ruǎn jiā jì jià chǒu nǚ yǔ qīng, gù dāng yǒu yì, qīng yí chá zhī.” Xǔ biàn huí rù nèi, jì jiàn fù, jí yù chū. Fù liào qí cǐ chū wú fù rù lǐ, biàn zhuō jū tíng zhī. Xǔ yīn wèi yuē: “Fù yǒu sì dé, qīng yǒu qí jǐ?” Fù yuē: “Xīnfù suǒ fá wéi róng ěr. Rán shì yǒu bǎi xíng, jūn yǒu jǐ?” Xǔ yún: “Jiē bèi.” Fù yuē: “Fú bǎi xíng yǐ dé wéi shǒu. Jūn hào sè bù hào dé, hé wèi jiē bèi?” Yǔn yǒu cán sè, suì xiāng jìng zhòng.","content_han_viet":"Hứa Doãn phụ thị Nguyễn úy úy nữ, Đức Như muội, kỳ xú. Giao lễ cánh, Doãn vô phục nhập lý, gia nhân thâm dĩ vi ưu. Hội Doãn hữu khách chí, phụ linh tì thị chi, hoàn đáp viết: “Thị Hoàn lang.” Hoàn lang giả, Hoàn Phạm dã. Phụ vân: “Vô ưu, Hoàn tất khuyến nhập.” Hoàn quả dữ Hứa vân: “Nguyễn gia ký giá xú nữ dữ khanh, cố đương hữu ý, khanh nghi sát chi.” Hứa tiện hồi nhập nội, ký kiến phụ, tức dục xuất. Phụ liệu kỳ thử xuất vô phục nhập lý, tiện trác cư đình chi. Hứa nhân vị viết: “Phụ hữu tứ đức, khanh hữu kỳ kỷ?” Phụ viết: “Tân phụ sở phạp duy dung nhĩ. Nhiên sĩ hữu bách hạnh, quân hữu kỷ?” Hứa vân: “Giai bị.” Phụ viết: “Phù bách hạnh dĩ đức vi thủ. Quân hiếu sắc bất hiếu đức, hà vị giai bị?” Doãn hữu tàn sắc, toại tương kính trọng.","content_vi":"Vợ Hứa Doãn là Nguyễn thị nhan sắc kém lắm. Khi Hứa Doãn mới lấy về, làm lễ cưới xong, trông thấy vợ xấu muốn lập tức bỏ đi thẳng, bèn hỏi Nguyễn thị rằng:\n\nĐàn bà có “tứ đức”, nàng được mấy đức?\n\nNguyễn thị thưa:\n\nThiếp đây chỉ kém có “dung” mà thôi. Rồi liền hỏi:\n\nKẻ sĩ có “bách hạnh”, dám hỏi chàng được mấy hạnh?\n\nHứa Doãn đáp:\n\nTa đây đủ cả bách hạnh.\n\nNguyễn thị nói:\n\nBách hạnh thì “đức” là đầu, chàng là người hiếu sắc, không hiếu đức, sao lại bảo là có đủ bách hạnh được?\n\nHứa Doãn nghe nói, có sắc thẹn. Tự bây giờ hai vợ chồng bèn yêu mến, kính trọng nhau suốt đời.","loi_ban_vi":": Thường tình người ta tự xưa đến nay, ai cũng thích đẹp, chuộng đẹp. Xem như câu Đức Khổng Tử nói: “Ngô vị kiến hiếu đức như hiếu sắc giả dã” thì đủ rõ. Tuy vậy, cái đẹp có hạn, cái nét vô cùng. Thế gian, những kẻ đem cái đẹp mà thờ người, mua chuộc lòng người, đến khi cái đẹp kém xuân, thường phải người ta cư xử ra tình phụ bạc. Đến như cái nết thì êm đềm thấm thía, cảm hóa được người, khả dĩ làm cho người ta càng biết, càng thân yêu, càng thân yêu càng kính phục, vì thế mà thường được trọn vẹn suốt đời.\n\nVợ Hứa Doãn đây lanh trí khôn lắm thật. Chỉ một câu nói mà làm cho tan hết được nỗi bất bình của chồng và khiến cho chồng suốt đời phải yêu vì cái duyên lặn vào trong. Thế chẳng phải là “cái nết đánh chết được cái đẹp” là gì.\n\nNhưng được những người như vợ Hứa Doãn rất là hiếm vậy. Ở đời kể đã được mấy tay có thể lấy đức mà thay sắc hay thường khi đã xấu người lại thêm xấu cả nết nữa.","giai_nghia":["Hứa Doãn: Người đời Tống có tài văn chương thi đỗ Tiến sĩ, làm quan chính sách rất hay, lòng dân cảm phục.","Tứ đức (四德): Bốn đức hạnh của người phụ nữ xưa: Đức (道德 - đạo đức), Ngôn (言 - lời nói), Dung (容 - dung mạo), Công (功 - công việc nội trợ).","Bách hạnh (百行): Trăm nết tốt của người quân tử, trong đó Đức (德) là đứng đầu.","阮衛尉 (Nguyễn úy úy): Chỉ cha của Nguyễn thị, giữ chức Vệ úy, tên thật là Nguyễn Cộng.","桓范 (Hoàn Phạm): Một mưu sĩ nổi tiếng thời Tam Quốc, là bạn của Hứa Doãn."],"tags":["Đức hạnh","Hôn nhân","Trí tuệ","Đạo đức"]},{"id":144,"title_vi":"GHEN CŨNG PHẢI YÊU","title_zh_simp":"贤妾","title_zh_trad":"賢妾","title_pinyin":"Xián qiè","title_han_viet":"HIỀN THIẾP","title_en":"The Virtuous Concubine","source_book":"《世說新語》","source_author":"劉義慶","source_period":"Lưu Tống (Nam-Bắc triều)","content_zh_simp":"桓宣武平蜀，以李势妹为妾，甚有宠，常着斋后。主始不知，既闻，与数十婢拔白刃袭之。正值李梳头，发委藉地，肤色玉曜，不为动容。徐结发，敛手向主曰：“国破家亡，无心至此。若能见杀，犹生之年。”神色闲正，辞气清婉。主于是掷刀，前抱之曰：“阿子，我见汝亦怜，何况老奴。”遂善之。","content_zh_trad":"桓宣武平蜀，以李勢妹為妾，甚有寵，常著齋後。主始不知，既聞，與數十婢拔白刃襲之。正值李梳頭，髮委藉地，膚色玉曜，不為動容。徐結髮，斂手向主曰：“國破家亡，無心至此。若能見殺，猶生之年。”神色閑正，辭氣清婉。主於是擲刀，前抱之曰：“阿子，我見汝亦憐，何況老奴。”遂善之。","content_pinyin":"Huán Xuānwǔ píng Shǔ, yǐ Lǐ Shì mèi wèi qiè, shèn yǒu chǒng, cháng zhe zhāi hòu. Zhǔ shǐ bùzhī, jì wén, yǔ shùshí bì bá báirèn xí zhī. Zhèng zhí Lǐ shūtóu, fà wěi jiè dì, fūsè yù yào, bù wéi dòngróng. Xú jié fà, liǎn shǒu xiàng zhǔ yuē: “Guó pò jiā wáng, wúxīn zhì cǐ. Ruò néng jiàn shā, yóu shēng zhī nián.” Shénsè xián zhèng, cí qì qīng wǎn. Zhǔ yúshì zhì dāo, qián bào zhī yuē: “Ā zǐ, wǒ jiàn rǔ yì lián, hékuàng lǎo nú.” Suì shàn zhī.","content_han_viet":"Hoàn Tuyên Vũ bình Thục, dĩ Lý Thế muội vi thiếp, thậm hữu sủng, thường trước trai hậu. Chúa thủy bất tri, ký văn, dữ sổ thập tì bạt bạch nhẫn tập chi. Chính trị Lý sơ đầu, phát ủy tạ địa, phu sắc ngọc diệu, bất vi động dung. Từ kết phát, liễm thủ hướng chúa viết: “Quốc phá gia vong, vô tâm chí thử. Nhược năng kiến sát, do sinh chi niên.” Thần sắc nhàn chính, từ khí thanh uyển. Chúa ư thị nãi đao, tiền bão chi viết: “A tử, ngã kiến nhữ diệc liên, hà huống lão nô.” Toại thiện chi.","content_vi":"Hoàn Ôn trước đã có vợ là Nam Khang công chúa, con gái vua Minh Đế nhà Hán. Sau Hoàn Ôn sàng đánh dẹp được nước Thục lại lấy con gái của Lý Thế là một nhà quyền quý nước Thục mang về làm thiếp.\n\nLúc về nhà, công chúa biết chuyện nổi cơn ghen, liền cầm gươm và đem theo mấy người nàng hầu, xăm xăm đến, chực chém chết Lý thị. Lúc đến nơi, công chúa thấy Lý thị ngồi trước cửa sổ chải đầu, tóc rũ chấm đất, dung nhan tư mạo đoan trang tươi đẹp. Lý thị thong thả vấn tóc, lượm tay, đến trước công chúa thưa rằng:\n\nNước tôi mất, nhà tôi tan, tôi quả vô tâm mà hóa ra đến đây. Được bà chém cho, thật thỏa lòng tôi mong mỏi.\n\nLý thị khi nói, mặt trông nghiêm chính ung dung, tiếng nghe êm đềm thấm thía.\n\nCông chúa thấy vậy ném gươm xuống đất ôm lấy nàng mà nói rằng:\n\nNày em ơi! Chị thấy em còn phải yêu, phải thương huống chi là lão già nhà ta.\n\nRồi tự đây, công chúa rất trọng đãi Lý thị.","loi_ban_vi":": Phận hồng nhan số bạc mệnh, đã phải cảnh nước phá, nhà tan, quân cừu địch bắt hiếp về làm tỳ thiếp, mà nào đã yên, lại còn nỗi gặp tay vợ cả phũ phàng, xăm xăm đến những chực mổ mề, móc gan, róc xương, lột xác.\n\nĐau đớn thay phận đàn bà thật! Thương thay! Lý thị nào phần thù riêng, nào phần nghĩa công lo phiền uất ức, trăm mối bên lòng, sống cũng là thừa người yêu ta xấu, thì thà rằng chết trẻ còn hơn. Cho nên câu Lý thị nói với công chúa khí khái ràn ra ngoài lời nói, tưởng một liều, ba bảy cũng liều cho xong.\n\nNào ngờ, vì chính câu nói khí khái mà mếm dẻo ấy lại thêm được cái vẻ nghiêm nghị mà khiến cho người đang giận dữ phải dẹp ngay nỗi bất bình, đang ghét lại hóa ngay ra chiều thân ái.\n\nTa chắc xem câu chuyện này, chẳng những các bà có tính ghen với cây, hờn cùng bóng, thành ra có lượng bao dung rộng rãi, mà nam nhi ta, những phường giá áo túi cơm, bội gốc, quên nguồn, cũng phải sinh lòng khảng khái vậy.","giai_nghia":["Hoàn Ôn: người đời nhà Tấn, làm quan đến chức Đại tư mã, uy quyền","lừng lẫy thường hay nói câu: “Tài trai chẳng có thể để tiếng thơm trăm đời cũng nên để tiếng xấu muôn năm” - “Nam tử bất năng lưu phương bách thế, diệc đương di khứu vạn niên”","Thục: nước ở vào vùng Thành Đô, thuộc tỉnh Tử Xuyên ngày nay.","Thế Thuyết: pho sách của Lưu Nghĩa Thánh đời nhà Tống soạn nói những chuyện vụn vặt từ đời Hậu Hán đến Đổng Tấn.","桓宣武 (Hoàn Tuyên Vũ): Hoàn Ôn, tướng nhà Đông Tấn, sau khi bình định nước Thục được phong tước Tuyên Vũ.","南康公主 (Nam Khang công chúa): Con gái Tấn Minh Đế, vợ chính của Hoàn Ôn.","李势妹 (Lý Thế muội): Em gái Lý Thế, vua cuối cùng của nước Thục (Thành Hán), bị Hoàn Ôn bắt về làm thiếp.","国破家亡 (Quốc phá gia vong): Nước mất nhà tan, chỉ cảnh ngộ bi thảm sau khi bị diệt quốc."],"tags":["Lòng nhân từ","Sắc đẹp","Số phận","Cảm hóa"]},{"id":145,"title_vi":"LỜI CON CAN CHA","title_zh_simp":"田文谏父","title_zh_trad":"田文諫父","title_pinyin":"Tián Wén jiàn fù","title_han_viet":"ĐIỀN VĂN GIÁN PHỤ","title_en":"Tian Wen Admonishes His Father","source_book":"《史记·孟尝君列传》","source_author":"Tư Mã Thiên","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"田文，田婴之子也。少而聪慧。婴为齐相，专务聚敛。文乘间问父曰：“子之子为何？”父曰：“为孙。”“孙之孙为何？”曰：“为玄孙。”“玄孙之孙为何？”父曰：“吾不知也。”文曰：“父相齐，历三王，家累万金，而门下不见一贤者。文闻将门必有将，相门必有相。今父衣文绣，而士恒褐；仆妾余粱肉，而士恒糟糠。父忘国家之急，日事蓄积，欲以遗所不知何人。文窃怪之。”","content_zh_trad":"田文，田嬰之子也。少而聰慧。嬰為齊相，專務聚斂。文乘間問父曰：“子之子為何？”父曰：“為孫。”“孫之孫為何？”曰：“為玄孫。”“玄孫之孫為何？”父曰：“吾不知也。”文曰：“父相齊，歷三王，家累萬金，而門下不見一賢者。文聞將門必有將，相門必有相。今父衣文繡，而士恆褐；僕妾餘粱肉，而士恆糟糠。父忘國家之急，日事蓄積，欲以遺所不知何人。文竊怪之。”","content_pinyin":"Tián Wén, Tián Yīng zhī zǐ yě. Shào ér cōng huì. Yīng wéi Qí xiàng, zhuān wù jù liǎn. Wén chéng jiàn wèn fù yuē: “Zǐ zhī zǐ wèi hé?” Fù yuē: “Wéi sūn.” “Sūn zhī sūn wèi hé?” Yuē: “Wéi xuán sūn.” “Xuán sūn zhī sūn wèi hé?” Fù yuē: “Wú bù zhī yě.” Wén yuē: “Fù xiàng Qí, lì sān wáng, jiā lěi wàn jīn, ér mén xià bù jiàn yī xián zhě. Wén wén jiàng mén bì yǒu jiàng, xiàng mén bì yǒu xiàng. Jīn fù yī wén xiù, ér shì héng hè; pú qiè yú liáng ròu, ér shì héng zāo kāng. Fù wàng guó jiā zhī jí, rì shì xù jī, yù yǐ yí suǒ bù zhī hé rén. Wén qiè guài zhī.”","content_han_viet":"Điền Văn, Điền Anh chi tử dã. Thiếu nhi thông tuệ. Anh vi Tề tướng, chuyên vụ tụ liễm. Văn thừa gian vấn phụ viết: “Tử chi tử vi hà?” Phụ viết: “Vi tôn.” “Tôn chi tôn vi hà?” Viết: “Vi huyền tôn.” “Huyền tôn chi tôn vi hà?” Phụ viết: “Ngô bất tri dã.” Văn viết: “Phụ tướng Tề, lịch tam vương, gia lũy vạn kim, nhi môn hạ bất kiến nhất hiền giả. Văn văn tướng môn tất hữu tướng, tướng môn tất hữu tướng. Kim phụ y văn tú, nhi sĩ hằng hạt; bộc thiếp dư lương nhục, nhi sĩ hằng tao khang. Phụ vong quốc gia chi cấp, nhật sự súc tích, dục dĩ di sở bất tri hà nhân. Văn thiết quái chi.”","content_vi":"Điền Văn là con Điền Anh, ít tuổi mà cực khôn ngoan, thấy cha làm quan hay vụ lợi riêng, một hôm thừa nhàn, hỏi cha:\n\n- Con đứa con gọi là gì?\n\nCha nói:\n\n- Gọi là cháu\n\n- Cháu đứa cháu gọi là gì?\n\n- Gọi là chút.\n\n- Chút đứa cháu gọi là gì?\n\n- Ai biết gọi là gì được ...\n\n- Cha làm tướng một nước Tề này đến nay đã trải ba đời vua, giàu có hàng ức vạn mà môn hạ không có một người nào là hiền tài cả. Con nghe nhà quan tướng võ, tất có quan tướng võ giỏi, cửa quan tướng văn, tất cả quan tướng văn giỏi. Nay cha áo mặc gấm vóc mà người giỏi trong nước vẫn rách rưới, tôi tớ thừa ăn mà người giỏi trong nước vẫn đói khát. Cha quên hết cả việc công ích hiện thời của dân, của nước, chỉ chăm chăm súc tích của cải muốn để dành cho những kẻ sau này không biết gọi nó là gì! Con trộm nghĩ như thế thì thật là quái lạ lắm...","loi_ban_vi":": người ta ai là chẳng vì con vì cháu mà cố sức làm ăn, mà súc tích tiền của. Cái sự lo cho mình xong đến lo cho con cái cháu chắt họ hàng là cái tôi đi rất có thứ tự tự nhiên. Tuy vậy, ai cũng nên biết có nhà, có họ, nhưng lại còn có nước, có xã hội nữa. Cho nên cái sự mưu cho nhà, cho họ cũng có chế hạn để còn có tâm, có sức mưu cho người cùng giống, cùng nòi, cùng ở chung một nước, cùng sống trong một thời với mình. “Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào” ta lo quá xa mà cứ đem thân làm trâu ngựa giúp cho đến mấy đứa cháu mấy mươi đời về sau này, sao cho bằng ta lo ngay cho bao nhiêu sinh linh mắt ta trông thấy khốn khổ hàng ngày. Để của lại sau này, sâu xuống không biết đến đâu là đáy, mà của ấy thường một hai đời đã hết, so với làm ơn rộng ra ngay hiện thời, ơn ấy đến đâu thấm đến đấy, thì đằng nào hơn.\n\nCâu Điền Văn vặn hỏi cha rồi giảng giải như bài này thực là một bài học hay cho những người có tính cách cá nhân chỉ biết có người máu mủ trong một nhà mà không có độ lượng biết đến những người trong cả làng, cả nước, cả xã hội, nhân loại vậy.","giai_nghia":["Điền Văn (田文): Tức Mạnh Thường Quân, con của Điền Anh, sau nổi tiếng là một trong Tứ công tử Chiến Quốc, nuôi đến ba nghìn khách.","Điền Anh (田嬰): Con của Tề Uy Vương, em của Tề Tuyên Vương, làm tướng quốc nước Tề.","Tụ liễm (聚斂): Thu góp, vơ vét của cải.","Huyền tôn (玄孫): Chắt, đời thứ tư so với mình.","Tướng môn tất hữu tướng (相門必有相): Cửa nhà quan tướng văn ắt có người làm nên tướng văn; ý nói con nhà tướng thường có tài nối nghiệp.","Hằng hạt (恆褐): Thường mặc áo vải thô; chỉ người hiền tài nhưng nghèo khổ.","Tao khang (糟糠): Bã rượu và trấu, chỉ đồ ăn thô kém của người nghèo."],"tags":["Sử Ký","Mạnh Thường Quân","Khuyên răn","Đạo làm con","Lợi ích quốc gia"]},{"id":146,"title_vi":"MỘT CÁCH ĐỂ LẠI CHO CON CHÁU","title_zh_simp":"庞公遗安","title_zh_trad":"龐公遺安","title_pinyin":"Páng Gōng yí ān","title_han_viet":"BÀNG CÔNG DI AN","title_en":"Pang Gong Bequeaths Safety","source_book":"《后汉书·逸民列传》","source_author":"Phạm Diệp","source_period":"Lưu Tống (Nam Bắc Triều)","content_zh_simp":"庞公者，南郡襄阳人也。居岘山之南，未尝入城府。夫妻相敬如宾。荆州刺史刘表数延请，不能屈，乃就候之。见公耕于垄上，妻耘于前。表指而问曰：“先生苦居畎亩而不肯官禄，后世何以遗子孙乎？”庞公曰：“世人皆遗之以危，今独遗之以安。虽所遗不同，未为无所遗也。”表叹息而去。","content_zh_trad":"龐公者，南郡襄陽人也。居峴山之南，未嘗入城府。夫妻相敬如賓。荊州刺史劉表數延請，不能屈，乃就候之。見公耕於壟上，妻耘於前。表指而問曰：“先生苦居畎畝而不肯官祿，後世何以遺子孫乎？”龐公曰：“世人皆遺之以危，今獨遺之以安。雖所遺不同，未為無所遺也。”表嘆息而去。","content_pinyin":"Páng Gōng zhě, Nánjùn Xiāngyáng rén yě. Jū Xiàn Shān zhī nán, wèi cháng rù chéng fǔ. Fūqī xiāng jìng rú bīn. Jīngzhōu Císhǐ Liú Biǎo shù yāo qǐng, bù néng qū, nǎi jiù hòu zhī. Jiàn gōng gēng yú lǒng shàng, qī yún yú qián. Biǎo zhǐ ér wèn yuē: “Xiānshēng kǔ jū quǎn mǔ ér bù kěn guān lù, hòu shì hé yǐ yí zǐsūn hū?” Páng Gōng yuē: “Shìrén jiē yí zhī yǐ wēi, jīn dú yí zhī yǐ ān. Suī suǒ yí bù tóng, wèi wèi wú suǒ yí yě.” Biǎo tànxī ér qù.","content_han_viet":"Bàng Công giả, Nam Quận Tương Dương nhân dã. Cư Hiện Sơn chi nam, vị thường nhập thành phủ. Phu thê tương kính như tân. Kinh Châu Thứ sử Lưu Biểu sổ yên thỉnh, bất năng khuất, nãi tự hậu chi. Kiến công canh vu lũng thượng, thê vân vu tiền. Biểu chỉ nhi vấn viết: “Tiên sinh khổ cư khuyển mẫu nhi bất khẳng quan lộc, hậu thế hà dĩ di tử tôn hồ?” Bàng Công viết: “Thế nhân giai di chi dĩ nguy, kim độc di chi dĩ an. Tuy sở di bất đồng, vị vi vô sở di dã.” Biểu thán tức nhi khứ.","content_vi":"Bàng Công tính điềm đạm, không mấy khi bước chân tới chốn tỉnh thành.\n\nHai vợ chồng ở nhà làm ăn và thường kính nhau như khách vậy.\n\nMột hôm Lưu Biểu tìm đến chơi. Bàng Công đang cày dưới ruộng, bỏ cày lên bờ nói chuyện, còn vợ con vẫn cứ ở dưới đồng.\n\nLưu Biểu thấy thế, hỏi rằng:\n\n- Sao tiên sinh khổ thân cày cuốc, chẳng chịu ra kiếm chút quan lộc, sau này lấy gì để lại cho con cháu?\n\nBàng Công nói:\n\n- Người đời ai cũng lấy “nguy” để lại cho con cháu, duy chỉ tôi là lấy “an” để cho con cháu mà thôi. Cách ấy để lại cho con cháu, tuy khác nhau nhưng thực thì đàng nào cũng gọi là để cả.\n\nLưu Biểu nghe nói, than thở rồi đi.\n\nHậu Hán Thư","loi_ban_vi":"Của cải vật chất là gốc rễ của sự lo lắng và nguy hiểm; đức hạnh và sự thanh thản mới là nền tảng bền vững cho muôn đời. Người xưa để lại cho con cháu chữ “An” là đã hiểu thấu lẽ đời: không có di sản nào quý giá hơn một tấm lòng ngay thẳng và một cuộc sống tự tại giữa cõi nhân gian.","giai_nghia":["Bàng Công: tức là Bàng Đức Công, người hiền ở đất Tương Dương, đời Đông Hán không chịu ra làm quan vào ẩn núi Lộc Môn, hái thuốc và làm ruộng kiếm ăn với vợ con.","Lưu Biểu: người đất Cao Bình đời Đông Hán, làm thứ sử ở Kinh Châu có bụng yêu dân trọng người tài giỏi.","Bàng Công (龐公): Tức Bàng Đức Công, ẩn sĩ nổi tiếng cuối đời Đông Hán, người Tương Dương, Kinh Châu.","Lưu Biểu (劉表): Thứ sử Kinh Châu thời Đông Hán cuối, có tiếng là chiêu hiền đãi sĩ.","Tương kính như tân (相敬如賓): Tôn trọng nhau như khách; chỉ sự hòa thuận, tôn trọng lẫn nhau giữa vợ chồng.","Khuyển mẫu (畎畝): Ruộng nương, chỉ việc đồng áng, nơi thôn dã.","Di an (遺安): Để lại sự yên ổn, an toàn; ý chỉ để lại phúc đức, nếp sống thanh cao cho con cháu.","Hiện Sơn (峴山): Tên núi ở phía nam Tương Dương, Hồ Bắc, Trung Quốc."],"tags":["Hậu Hán Thư","Ẩn sĩ","Trí tuệ","Đạo sống","Di sản tinh thần"]},{"id":147,"title_vi":"MỘT CÁCH LO XA CHO CON CHÁU","title_zh_simp":"为子孙虑远","title_zh_trad":"為子孫慮遠","title_pinyin":"Wèi zǐsūn lǜ yuǎn","title_han_viet":"VỊ TỬ TÔN LỰ VIỄN","title_en":"Far-Sighted Consideration for Descendants","source_book":"《汉书·疏广传》","source_author":"班固 (Ban Gu)","source_period":"东汉 (Đông Hán)","content_zh_simp":"疏广，汉人也，仕至太子太傅，乞骸骨归，宣帝赐黄金二十斤，太子赠五十斤。公归日，故人昆弟及乡党皆以为荣。广谓受曰：“吾闻‘知足不辱，知止不殆’，今仕宦至二千石，宦成名立，如此不去，惧有后悔，岂如父子相随出关，归老故乡，以寿命终，不亦善乎？”遂上疏乞骸骨，上皆许之，加赐黄金二十斤，皇太子赠以五十斤。公卿故人设祖道，供张东都门外，送者车数百两，辞决而去。及道路观者皆曰：“贤哉二大夫！”广既归乡里，日令家共具设酒食，请族人故旧宾客，与相娱乐。数问其家金余尚有几所，趣卖以共具。居岁余，广子孙窃谓其昆弟老人广所爱信者曰：“子孙冀及君时颇立产业基址，今日饮食费且尽。宜从丈人所，劝说君买田宅。”老人即以闲暇时为广言此计，广曰：“吾岂老悖不念子孙哉？顾自有旧田庐，令子孙勤力其中，足以共衣食，与凡人齐。今复增益之以为赢余，但教子孙怠堕耳。贤而多财，则损其志；愚而多财，则益其过。且夫富者，众人之怨也；吾既亡以教化子孙，不欲益其过而生怨。又此金者，圣主所以惠养老臣也，故乐与乡党宗族共飨其赐，以尽吾余日，不亦可乎！”于是族人悦服。","content_zh_trad":"疏廣，漢人也，仕至太子太傅，乞骸骨歸，宣帝賜黃金二十斤，太子贈五十斤。公歸日，故人昆弟及鄉黨皆以為榮。廣謂受曰：“吾聞‘知足不辱，知止不殆’，今仕宦至二千石，宦成名立，如此不去，懼有後悔，豈如父子相隨出關，歸老故鄉，以壽命終，不亦善乎？”遂上疏乞骸骨，上皆許之，加賜黃金二十斤，皇太子贈以五十斤。公卿故人設祖道，供張東都門外，送者車數百兩，辭決而去。及道路觀者皆曰：“賢哉二大夫！”廣既歸鄉里，日令家共具設酒食，請族人故舊賓客，與相娛樂。數問其家金餘尚有幾所，趣賣以共具。居歲餘，廣子孫竊謂其昆弟老人廣所愛信者曰：“子孫冀及君時頗立產業基址，今日飲食費且盡。宜從丈人所，勸說君買田宅。”老人即以閒暇時為廣言此計，廣曰：“吾豈老悖不念子孫哉？顧自有舊田廬，令子孫勤力其中，足以共衣食，與凡人齊。今復增益之以為贏餘，但教子孫怠墮耳。賢而多財，則損其志；愚而多財，則益其過。且夫富者，眾人之怨也；吾既亡以教化子孫，不欲益其過而生怨。又此金者，聖主所以惠養老臣也，故樂與鄉黨宗族共饗其賜，以盡吾餘日，不亦可乎！”於是族人悅服。","content_pinyin":"Shū Guǎng, Hàn rén yě, shì zhì tàizǐ tàifù, qǐ hégǔ guī, Xuāndì cì huángjīn èrshí jīn, tàizǐ zèng wǔshí jīn. Gōng guī rì, gùrén kūndì jí xiāngdǎng jiē yǐwéi róng. Guǎng wèi Shòu yuē: “Wú wén ‘zhīzú bù rǔ, zhīzhǐ bù dài’, jīn shìhuàn zhì èrqiān dàn, huàn chéng míng lì, rúcǐ bù qù, jù yǒu hòuhuǐ, qǐ rú fùzǐ xiāng suí chū guān, guī lǎo gùxiāng, yǐ shòumìng zhōng, bù yì shàn hū?” Suì shàng shū qǐ hégǔ, shàng jiē xǔ zhī, jiā cì huángjīn èrshí jīn, huáng tàizǐ zèng yǐ wǔshí jīn. Gōngqīng gùrén shè zǔdào, gōng zhāng dōngdū mén wài, sòng zhě chē shù bǎi liǎng, cí jué ér qù. Jí dàolù guān zhě jiē yuē: “Xián zāi èr dàfū!” Guǎng jì guī xiānglǐ, rì lìng jiā gòng jù shè jiǔshí, qǐng zúrén gùjiù bīnkè, yǔ xiāng yúlè. Shù wèn qí jiā jīn yú shàng yǒu jǐ suǒ, cù mài yǐ gòng jù. Jū suì yú, Guǎng zǐsūn qiè wèi qí kūndì lǎorén Guǎng suǒ ài xìn zhě yuē: “Zǐsūn jì jí jūn shí pō lì chǎnyè jīzhǐ, jīnrì yǐnshí fèi qiě jǐn. Yí cóng zhàngrén suǒ, quànshuō jūn mǎi tián zhái.” Lǎorén jí yǐ xiánxiá shí wèi Guǎng yán cǐ jì, Guǎng yuē: “Wú qǐ lǎo bèi bù niàn zǐsūn zāi? Gù zì yǒu jiù tián lú, lìng zǐsūn qínlì qízhōng, zúyǐ gōng yīshí, yǔ fánrén qí. Jīn fù zēngyì zhī yǐ wéi yíngyú, dàn jiào zǐsūn duò yì ěr. Xián ér duō cái, zé sǔn qí zhì; yú ér duō cái, zé yì qí guò. Qiě fú fù zhě, zhòngrén zhī yuàn yě; wú jì wáng yǐ jiàohuà zǐsūn, bù yù yì qí guò ér shēng yuàn. Yòu cǐ jīn zhě, shèngzhǔ suǒyǐ huì yǎng lǎochén yě, gù lè yǔ xiāngdǎng zōngzú gòng xiǎng qí cì, yǐ jǐn wú yú rì, bù yì kě hū!” Yúshì zúrén yuèfú.","content_han_viet":"Sơ Quảng, Hán nhân dã, sĩ chí Thái tử Thái phó, khất hài cốt quy, Tuyên Đế tứ hoàng kim nhị thập cân, Thái tử tặng ngũ thập cân. Công quy nhật, cố nhân huynh đệ cập hương đảng giai dĩ vi vinh. Quảng vị Thọ viết: “Ngô văn ‘tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi’, kim sĩ hoạn chí nhị thiên thạch, hoạn thành danh lập, như thử bất khứ, cụ hữu hậu hối, khởi như phụ tử tương tùy xuất quan, quy lão cố hương, dĩ thọ mệnh chung, bất diệc thiện hồ?” Toại thượng sớ khất hài cốt, thượng giai hứa chi, gia tứ hoàng kim nhị thập cân, Hoàng Thái tử tặng dĩ ngũ thập cân. Công khanh cố nhân thiết tổ đạo, cúng trướng Đông Đô môn ngoại, tống giả xa sổ bách lưỡng, từ quyết nhi khứ. Cập đạo lộ quan giả giai viết: “Hiền tai nhị đại phu!” Quảng ký quy hương lý, nhật linh gia cộng cụ thiết tửu thực, thỉnh tộc nhân cố cựu tân khách, dữ tương ngu lạc. Sổ vấn kỳ gia kim dư thượng hữu kỷ sở, xu mại dĩ cộng cụ. Cư tuế dư, Quảng tử tôn thiết vị kỳ huynh đệ lão nhân Quảng sở ái tín giả viết: “Tử tôn ký cập quân thời phả lập sản nghiệp cơ chỉ, kim nhật ẩm thực phí thả tận. Nghi tòng trượng nhân sở, khuyến thuyết quân mãi điền trạch.” Lão nhân tức dĩ nhàn hạ thời vi Quảng ngôn thử kế, Quảng viết: “Ngô khởi lão bội bất niệm tử tôn tai? Cố tự hữu cựu điền lư, linh tử tôn cần lực kỳ trung, túc dĩ cung y thực, dữ phàm nhân tề. Kim phục tăng ích chi dĩ vi doanh dư, đãn giáo tử tôn nọa dật nhĩ. Hiền nhi đa tài, tắc tổn kỳ chí; ngu nhi đa tài, tắc ích kỳ quá. Thả phù phú giả, chúng nhân chi oán dã; ngô ký vong dĩ giáo hóa tử tôn, bất dục ích kỳ quá nhi sinh oán. Hựu thử kim giả, Thánh chủ sở dĩ huệ dưỡng lão thần dã, cố lạc dữ hương đảng tông tộc cộng hưởng kỳ tứ, dĩ tận ngô dư nhật, bất diệc khả hồ!” Ư thị tộc nhân duyệt phục.","content_vi":"Sơ Quảng đời nhà Hán, làm quan tri sĩ về, được vua ban cho nhiều vàng lụa.\n\nCon cháu cụ thấy thế, bèn nhờ cậy người già cả trong họ đến nói với cụ lập nhiều cơ nghiệp và mua ruộng đất.\n\nMột hôm, nhân lúc thư nhàn, những người già cả đem câu chuyện làm giàu cho con cháu thưa lại để cụ nghe, thì cụ nói rằng:\n\n“Ta tuy già lão há lại không nghĩ đến con cháu hay sao. Hiện ta cũng đã có ít ruộng nương, cửa nhà cũ của tiền nhân để lại. Con cháu ta mà chăm chỉ vào đấy thì cũng đủ ăn đủ mặc bằng người được rồi. Nếu bây giờ ta lại làm giàu thêm cho chúng để cho thừa thãi dồi dào, thì là ta chỉ làm cho chúng lười biếng thêm ra thôi. Người giỏi mà sẵn có nhiều của thì kém mất chí hay; người ngu mà sẵn có nhiều của thì càng thêm tội lỗi. Vả chăng của cải mà chứa nhiều thì chỉ tổ làm cho người ta oán. Ta đã không có gì giáo hóa được con cháu ta thì cũng không nên làm cho chúng có nhiều tội lỗi và để thiên hạ ai oán chũng cho thêm phiền.\n\nNhững của cải ta đang có đây là ơn của vua trên hậu đãi người bầy tôi già lão, ta chỉ muốn cùng cả anh em, họ hàng, làng nước cùng hưởng chung cái ơn ấy để trọn tuổi trời chẳng cũng là phải ư?”\n\nNgười trong họ nghe nói thế ai nấy đều cảm phục.","loi_ban_vi":"Sơ Quảng lo cho con cháu không phải ở chỗ tích lũy của cải, mà ở chỗ giữ gìn phẩm hạnh. Của cải quá nhiều, người hiền thì tổn hại chí khí, kẻ ngu thì tăng thêm tội lỗi. Lòng yêu thương con cháu sâu xa, đâu phải chỉ là chuyện cơm áo tầm thường!","giai_nghia":["疏广 (Sơ Quảng): Nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Tây Hán, làm quan đến chức Thái tử Thái phó, nổi tiếng với tấm lòng thanh bạch và sự hiểu biết sâu sắc về lẽ đời.","乞骸骨 (khất hài cốt): Lời tự xưng khi xin về hưu của các quan lại thời xưa, nghĩa là xin được trả lại xương cốt cho triều đình, cho phép về quê yên nghỉ.","知足不辱，知止不殆 (tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi): Câu nói trong Đạo Đức Kinh, nghĩa là biết đủ thì không bị nhục, biết dừng thì không gặp nguy hiểm.","乡党宗族 (hương đảng tông tộc): Chỉ những người cùng làng xã, cùng họ hàng thân thích."],"tags":["Giáo dục gia đình","Đạo đức","Lẽ sống","Lịch sử Trung Quốc"]},{"id":148,"title_vi":"HAI THẦY TRÒ DẠY NHAU","title_zh_simp":"常摐教老聃","title_zh_trad":"常摐教老聃","title_pinyin":"Cháng Chuāng jiào Lǎo Dān","title_han_viet":"THƯỜNG SONG GIÁO LÃO ĐAM","title_en":"Chang Chuang Teaches Lao Tzu","source_book":"《说苑·敬慎》","source_author":"刘向 (Lưu Hướng)","source_period":"西汉 (Tây Hán)","content_zh_simp":"常摐有疾，老子往问焉，曰：“先生疾甚矣，无遗教可以语诸弟子者乎？”常摐曰：“子虽不问，吾将语子。”常摐曰：“过故乡而下车，子知之乎？”老子曰：“过故乡而下车，非谓不忘故耶？”常摐曰：“嘻，是已。”常摐曰：“过乔木而趋，子知之乎？”老子曰：“过乔木而趋，非谓敬老耶？”常摐曰：“嘻，是已。”张其口而示老子曰：“吾舌存乎？”老子曰：“然。”“吾齿存乎？”老子曰：“亡。”常摐曰：“子知之乎？”老子曰：“夫舌之存也，岂非以其柔耶？齿之亡也，岂非以其刚耶？”常摐曰：“嘻，是已。天下之事已尽矣，无以复语子哉！”","content_zh_trad":"常摐有疾，老子往問焉，曰：“先生疾甚矣，無遺教可以語諸弟子者乎？”常摐曰：“子雖不問，吾將語子。”常摐曰：“過故鄉而下車，子知之乎？”老子曰：“過故鄉而下車，非謂不忘故耶？”常摐曰：“嘻，是已。”常摐曰：“過喬木而趨，子知之乎？”老子曰：“過喬木而趨，非謂敬老耶？”常摐曰：“嘻，是已。”張其口而示老子曰：“吾舌存乎？”老子曰：“然。”“吾齒存乎？”老子曰：“亡。”常摐曰：“子知之乎？”老子曰：“夫舌之存也，豈非以其柔耶？齒之亡也，豈非以其剛耶？”常摐曰：“嘻，是已。天下之事已盡矣，無以復語子哉！”","content_pinyin":"Cháng Chuāng yǒu jí, Lǎo Zǐ wǎng wèn yān, yuē: “Xiānsheng jí shén yǐ, wú yíjiào kěyǐ yǔ zhū dìzǐ zhě hū?” Cháng Chuāng yuē: “Zǐ suī bù wèn, wú jiāng yǔ zǐ.” Cháng Chuāng yuē: “Guò gùxiāng ér xià chē, zǐ zhī zhī hū?” Lǎo Zǐ yuē: “Guò gùxiāng ér xià chē, fēi wèi bù wàng gù yé?” Cháng Chuāng yuē: “Xī, shì yǐ.” Cháng Chuāng yuē: “Guò qiáomù ér qū, zǐ zhī zhī hū?” Lǎo Zǐ yuē: “Guò qiáomù ér qū, fēi wèi jìng lǎo yé?” Cháng Chuāng yuē: “Xī, shì yǐ.” Zhāng qí kǒu ér shì Lǎo Zǐ yuē: “Wú shé cún hū?” Lǎo Zǐ yuē: “Rán.” “Wú chǐ cún hū?” Lǎo Zǐ yuē: “Wáng.” Cháng Chuāng yuē: “Zǐ zhī zhī hū?” Lǎo Zǐ yuē: “Fú shé zhī cún yě, qǐ fēi yǐ qí róu yé? Chǐ zhī wáng yě, qǐ fēi yǐ qí gāng yé?” Cháng Chuāng yuē: “Xī, shì yǐ. Tiānxià zhī shì yǐ jìn yǐ, wú yǐ fù yǔ zǐ zāi!”","content_han_viet":"Thường Song hữu tật, Lão Tử vãng vấn yên, viết: “Tiên sinh tật thậm hĩ, vô di giáo khả dĩ ngữ chư đệ tử giả hồ?” Thường Song viết: “Tử tuy bất vấn, ngô tương ngữ tử.” Thường Song viết: “Quá cố hương nhi hạ xa, tử tri chi hồ?” Lão Tử viết: “Quá cố hương nhi hạ xa, phi vị bất vong cố da?” Thường Song viết: “Hi, thị dĩ.” Thường Song viết: “Quá kiều mộc nhi xu, tử tri chi hồ?” Lão Tử viết: “Quá kiều mộc nhi xu, phi vị kính lão da?” Thường Song viết: “Hi, thị dĩ.” Trương kỳ khẩu nhi thị Lão Tử viết: “Ngô thiệt tồn hồ?” Lão Tử viết: “Nhiên.” “Ngô xỉ tồn hồ?” Lão Tử viết: “Vong.” Thường Song viết: “Tử tri chi hồ?” Lão Tử viết: “Phù thiệt chi tồn dã, khởi phi dĩ kỳ nhu da? Xỉ chi vong dã, khởi phi dĩ kỳ cương da?” Thường Song viết: “Hi, thị dĩ. Thiên hạ chi sự dĩ tận hĩ, vô dĩ phục ngữ tử tai!”","content_vi":"Thường Tung yếu.\n\nLão Tử đến thăm, hỏi rằng:\n\n- Tôi xem ra tiên sinh mệt nặng. Dám hỏi tiên sinh còn có câu gì để dạy đệ tử chúng con nữa không?\n\nThường Tung nói: Qua chỗ cố hương mà xuống xe, ngươi đã biết điều ấy chưa?\n\nLão Tử thưa: Qua chỗ cố hương mà xuống xe, có phải nghĩa là không quên nơi quê cha đất tổ không?\n\n- Ừ phải đấy. Thế qua chỗ cây cao mà bước rảo chân, ngươi đã biết điều ấy chưa?\n\n- Qua chỗ cây cao mà bước rảo chân, có phải là kính những bậc già cả không?\n\n- Ừ phải đấy.\n\nThường Tung há miệng ra cho Lão Tử coi và hỏi rằng:\n\n- Lưỡi ta còn không?\n\nLão Tử thưa: Còn.\n\nThường Tung lại há miệng cho Lão Tử coi nữa và hỏi rằng:\n\n- Răng ta còn không?\n\nLão Tử thưa: Rụng hết cả.\n\n- Thế ngươi có rõ cái lí do ấy không?\n\n- Ôi! Lưỡi mà còn lại, có phải tại lưỡi mềm không? Răng mà rụng hết, có phải tại răng cứng không?\n\n- Ừ phải đấy. Việc đời đại để như thế cả. Ta không còn gì để nói cùng các ngươi nữa.","loi_ban_vi":"Câu chuyện mượn hình ảnh cái lưỡi mềm mại còn nguyên và hàm răng cứng rắn đã rụng để khuyên con người nên sống nhu hòa, khiêm nhường. Sự mềm dẻo, biết kính trọng người già, không quên cội nguồn chính là gốc rễ của đạo đức và là chìa khóa để trường tồn giữa cuộc đời.","giai_nghia":["常摐 (Thường Song): Một ẩn sĩ hoặc bậc thầy thời cổ, được cho là thầy của Lão Tử trong một số truyền thuyết.","老子 (Lão Tử): Người sáng lập ra Đạo giáo, tác giả của Đạo Đức Kinh, sống vào thời Xuân Thu.","过故乡而下车 (Quá cố hương nhi hạ xa): Hành động thể hiện sự tưởng nhớ và kính trọng đối với quê hương, nơi mình đã sinh ra và lớn lên.","过乔木而趋 (Quá kiều mộc nhi xu): Hành động thể hiện sự kính trọng đối với các bậc trưởng thượng, già cả trong xã hội.","舌存齿亡 (Thiệt tồn xỉ vong): Ẩn dụ cho sự mềm mỏng, nhu hòa thì trường tồn, còn cứng rắn, cường ngạnh thì dễ bị tổn thương, diệt vong."],"tags":["Đạo giáo","Triết lý sống","Ngụ ngôn","Lão Tử"]},{"id":149,"title_vi":"LƯỠI VẪN CÒN","title_zh_simp":"舌在","title_zh_trad":"舌在","title_pinyin":"Shé zài","title_han_viet":"THIỆT TẠI","title_en":"The Tongue Still Remains","source_book":"《史記·張儀列傳》","source_author":"Tư Mã Thiên","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"张仪已学而游说诸侯。尝从楚相饮，已而楚相亡璧，门下意张仪，曰：“仪贫无行，必此盗相君之璧。”共执张仪，掠笞数百，不服，释之。其妻曰：“嘻！子毋读书游说，安得此辱乎？”张仪谓其妻曰：“视吾舌尚在不？”其妻笑曰：“舌在也。”仪曰：“足矣。”","content_zh_trad":"張儀已學而遊說諸侯。嘗從楚相飲，已而楚相亡璧，門下意張儀，曰：「儀貧無行，必此盜相君之璧。」共執張儀，掠笞數百，不服，釋之。其妻曰：「嘻！子毋讀書遊說，安得此辱乎？」張儀謂其妻曰：「視吾舌尚在不？」其妻笑曰：「舌在也。」儀曰：「足矣。」","content_pinyin":"Zhāng Yí yǐ xué ér yóushuì zhūhóu. Cháng cóng Chǔ xiàng yǐn, yǐ ér Chǔ xiàng wáng bì, ménxià yì Zhāng Yí, yuē: “Yí pín wú xíng, bì cǐ dào xiàngjūn zhī bì.” Gòng zhí Zhāng Yí, lüè chī shù bǎi, bù fú, shì zhī. Qí qī yuē: “Xī! Zǐ wú dúshū yóushuì, ān dé cǐ rǔ hū?” Zhāng Yí wèi qí qī yuē: “Shì wú shé shàng zài bù?” Qí qī xiào yuē: “Shé zài yě.” Yí yuē: “Zú yǐ.”","content_han_viet":"Trương Nghi dĩ học nhi du thuyết chư hầu. Thường tòng Sở tương ẩm, dĩ nhi Sở tương vong bích, môn hạ ý Trương Nghi, viết: “Nghi bần vô hạnh, tất thử đạo tướng quân chi bích.” Cộng chấp Trương Nghi, lược si sổ bách, bất phục, thích chi. Kỳ thê viết: “Hi! Tử vô độc thư du thuyết, an đắc thử nhục hồ?” Trương Nghi vị kỳ thê viết: “Thị ngô thiệt thượng tại bất?” Kỳ thê tiếu viết: “Thiệt tại dã.” Nghi viết: “Túc hĩ.”","content_vi":"Trương Nghi lúc hàn vi thường hay hầu rượu tướng nước Sở.\n\nMột hôm, tướng nước Sở mất ngọc bích, môn hạ ai nấy đều ngờ cho Trương Nghi, và đánh đập Trương Nghi tàn nhẫn. Trương Nghi không phục tình. Lúc được tha trở về, vợ thấy thế bảo rằng:\n\n- Than ôi! Giá chàng học hành biết du thuyết, thì không đến nỗi nhục nhằn như thế này!\n\nTrương Nghi há mồm to, hỏi vợ rằng:\n\n- Nàng thử xem cái lưỡi của ta có còn không?\n\nVợ cười, nói: Lưỡi vẫn còn.\n\nTrương Nghi bảo: Thế thì được.\n\nRồi sau Trương Nghi quả nhiên thành ra một nhà du thuyết giỏi có tiếng thời bấy giờ.","loi_ban_vi":"Phàm người ta thường có bị sỉ nhục thì mới phẫn chí. Khi đang phẫn chí mà có ai khích cho một câu thì tất phải cố công, gắng sức làm cho rửa được cái nhục và nên công, nên việc mới nghe.\n\nTrương Nghi đây sở dĩ mà thành được một nhà du thuyết giỏi, tuy là tự tài mình làm nên, nhưng cũng vì có kẻ làm nhục, lại nhờ có vợ khuyến khích thêm cho nữa. Vậy nên ở đời những kẻ thù nghịch sỉ nhục mình thường có khi lại chính là kẻ giúp cho mình làm nên vậy.","giai_nghia":["Trương Nghi: Người nước Ngụy là một nhà du thuyết giỏi thời Chiến Quốc.","Trương Nghi (张仪): Nhà hùng biện, tung hoành gia nổi tiếng thời Chiến Quốc, người nước Ngụy, giúp nước Tần thực hiện sách lược 'liên hoành'.","Du thuyết (游说): Chỉ việc đi khắp các nước để thuyết phục vua chúa nghe theo chủ trương của mình.","Sở tương (楚相): Tể tướng nước Sở, chỉ lệnh doãn nước Sở. Theo Sử ký, người này là Chiêu Dương.","Vong bích (亡璧): Mất viên ngọc bích. Việc này dẫn đến nghi ngờ và đánh đập Trương Nghi.","Thiệt (舌): Cái lưỡi. Trương Nghi coi lưỡi là công cụ để du thuyết, lưỡi còn là còn hy vọng."],"tags":["Trương Nghi","Chiến Quốc","Du thuyết","Sử Ký","Nhẫn nhục","Chí khí"]},{"id":150,"title_vi":"KHÔNG CHỊU NHỤC","title_zh_simp":"不辱","title_zh_trad":"不辱","title_pinyin":"","title_han_viet":"","title_en":"Refusing Humiliation","source_book":"《呂氏春秋·離俗覽》","source_author":"Lã Bất Vi","source_period":"Tần Triều","content_zh_simp":"齐庄公之时，有士曰宾卑聚。梦有壮子，白缟之冠，丹绩之衯，东布之衣，新素履，墨剑室。从而叱之，唾其面。惕然而寤，徒梦也。终夜坐，不自快。明日，召其友而告之曰：“吾少好勇，年六十而无所挫辱。今夜辱，吾将索其形，期得之则可，不得将死之。”每朝，与其友俱立乎衢，三日不得，退而自刎。","content_zh_trad":"齊莊公之時，有士曰賓卑聚。夢有壯子，白縞之冠，丹績之衯，東布之衣，新素履，墨劍室。從而叱之，唾其面。惕然而寤，徒夢也。終夜坐，不自快。明日，召其友而告之曰：「吾少好勇，年六十而無所挫辱。今夜辱，吾將索其形，期得之則可，不得將死之。」每朝，與其友俱立乎衢，三日不得，退而自刎。","content_pinyin":"Qí Zhuānggōng zhī shí, yǒu shì yuē Bīn Bēijù. Mèng yǒu zhuàng zǐ, bái gǎo zhī guān, dān jī zhī fēn, dōng bù zhī yī, xīn sù lǚ, mò jiàn shì. Cóng ér chì zhī, tuò qí miàn. Tì rán ér wù, tú mèng yě. Zhōng yè zuò, bù zì kuài. Míngrì, zhào qí yǒu ér gào zhī yuē: “Wú shǎo hào yǒng, nián liùshí ér wú suǒ cuò rǔ. Jīn yè rǔ, wú jiāng suǒ qí xíng, qī dé zhī zé kě, bù dé jiāng sǐ zhī.” Měi cháo, yǔ qí yǒu jù lì hū qú, sān rì bù dé, tuì ér zì wěn.","content_han_viet":"Tề Trang Công chi thời, hữu sĩ viết Tân Ti Tụ. Mộng hữu tráng tử, bạch cảo chi quan, đan kê chi phân, đông bố chi y, tân tố lý, mặc kiếm thất. Tòng nhi sất chi, thóa kỳ diện. Dịch nhiên nhi ngộ, đồ mộng dã. Chung dạ tọa, bất tự khoái. Minh nhật, triệu kỳ hữu nhi cáo chi viết: “Ngô thiếu hảo dũng, niên lục thập nhi vô sở thóa nhục. Kim dạ nhục, ngô tương sách kỳ hình, kỳ đắc chi tắc khả, bất đắc tương tử chi.” Mỗi triêu, dữ kỳ hữu câu lập hồ cù, tam nhật bất đắc, thoái nhi tự vẫn.","content_vi":"Đời vua Trang Công nước Tề, có một chàng tên là Tân Ti Tụ đêm nằm thấy một người to lớn mặc quần gai, áo vải, đội mũ trắng, đi giày mới, đeo thanh gươm tự dung vào tận nhà mắng, rồi nhổ vào mặt.\n\nChàng ta giật mình, sực tỉnh dậy, tuy biết là chuyện chiêm bao chàng ta vẫn tức, ngồi suốt đêm, lấy làm bực dọc khó chịu lắm.\n\nSáng hôm sau, chàng ta mời một người bạn thân đến và nói rằng:\n\n- Bác ơi! Từ thuở bé đến giờ, tôi vẫn là người hiếu dũng, nay đã sáu mươi tuổi, chưa hề phải đứa nào tỏa nhục bao giờ. Thế mà đêm qua phải một đứa nó làm nhục. Tôi định tìm kỳ được đứa ấy để báo thù mới nghe. Nếu tôi tìmh thấy nó thì hay, nếu không tìm thấy thì tôi chết mất.\n\nRồi từ hôm đó cứ sáng nào chàng ta cũng cùng người bạn ra đứng ngoài đường cái để rình. Rình đã hai ba ngày mà không thấy đâu, chàng ta về nhà uất lên mà chết.\n\nNhư câu chuyện này mà ta cho là phải thì chưa chắc là phải. Tuy vậy, cứ xem một cái tâm không chịu nhục ở trong chuyện, thì đã có cái gì hơn được thế chưa!","loi_ban_vi":"Tác giả kể chuyện rồi bàn một câu ở dưới như thế cũng là đủ.\n\nQuả vậy, xem chuyện này, không cho là phải được, là vì tức ai chứ tức một người gặp trong lúc chiêm bao mơ ngủ thì là tức hão huyền, tức cái không đáng tức.\n\nNhưng tựu trung, câu chuyện lại có một điều thật đáng phục là chính thâm ý câu chuyện muốn nâng cao cái lòng biết nhục, biết lấy liêm sỉ làm trọng.\n\nÔi! Trong khi giấc ngủ mơ màng, bị người ta làm nhục còn không chịu được thì trong khi người thật tỉnh táo rõ ràng mà bị người ta làm nhục, thì đáng như thế nào?... Thế mà lạ thay có ở đời có lắm kẻ hoặc ham mê danh lợi, hoặc quen thói tôi đòi, chôn hết cả liêm sỉ, chịu hết mọi nỗi nhục nhằn đè nén không bút nào tả cho xiết được mà vẫn giữ hớn hở như không. Đối với những hạng không biết nhục, Tân Ti Tụ đây thực đáng là một cái gương soi sáng sâu vào đến tâm não họ vậy.","giai_nghia":["Tân Ti Tụ (宾卑聚): Một nhân vật được ghi chép trong sách, tên phiên âm Hán Việt là Tân Ti Tụ.","Tề Trang Công (齐庄公): Vua nước Tề thời Xuân Thu, trị vì từ năm 553 TCN đến 548 TCN.","Bạch cảo chi quan (白缟之冠): Mũ làm bằng lụa trắng thô, thường là đồ tang phục, tạo nên hình ảnh kỳ dị trong giấc mơ.","Thóa kỳ diện (唾其面): Nhổ nước bọt vào mặt, là hành động sỉ nhục tột cùng trong quan niệm thời xưa.","Tự vẫn (自刎): Tự cắt cổ mình để chết, hành động quyết liệt để giữ liêm sỉ."],"tags":["Lã Thị Xuân Thu","Tân Ti Tụ","Liêm sỉ","Khí tiết","Giấc mơ","Cổ nhân"]},{"id":151,"title_vi":"CÂU NÓI CỦA NGƯỜI ĐÁNH CÁ","title_zh_simp":"渔者言","title_zh_trad":"漁者言","title_pinyin":"Yú zhě yán","title_han_viet":"NGƯ GIẢ NGÔN","title_en":"The Words of a Fisherman","source_book":"《新序》","source_author":"刘向 (Lưu Hướng)","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"晋文公出猎，逐兽而误入泽中，迷道。见一渔者，谓曰：“我，君也。迷失道，若为我导之，吾厚赏若。”渔者曰：“臣愿献一言。”公曰：“出泽而后听。”渔者送公出泽，公曰：“子之言何如？”渔者对曰：“鸿鹄保河海，厌而徙之小泽，必有矰缴之忧。鼋鼍保深渊，厌而居之浅渚，必有罗网之忧。今君逐兽，至于此，何行之远也？”文公曰：“善。”乃顾左右，记渔者名。渔者曰：“君何以名为？君其尊天事地，敬社稷，固四国，慈爱万民，薄赋敛，轻租税，臣亦与焉。若君不敬社稷，不固四国，外失礼于诸侯，内逆民心，一国流亡，渔者虽得厚赐，不能独乐也。”遂辞不受，曰：“君亟归国，臣亦反吾渔所。”","content_zh_trad":"晉文公出獵，逐獸而誤入澤中，迷道。見一漁者，謂曰：“我，君也。迷失道，若為我導之，吾厚賞若。”漁者曰：“臣願獻一言。”公曰：“出澤而後聽。”漁者送公出澤，公曰：“子之言何如？”漁者對曰：“鴻鵠保河海，厭而徙之小澤，必有矰繳之憂。黿鼉保深淵，厭而居之淺渚，必有羅網之憂。今君逐獸，至於此，何行之遠也？”文公曰：“善。”乃顧左右，記漁者名。漁者曰：“君何以名為？君其尊天事地，敬社稷，固四國，慈愛萬民，薄賦斂，輕租稅，臣亦與焉。若君不敬社稷，不固四國，外失禮於諸侯，內逆民心，一國流亡，漁者雖得厚賜，不能獨樂也。”遂辭不受，曰：“君亟歸國，臣亦反吾漁所。”","content_pinyin":"Jìn Wén Gōng chū liè, zhú shòu ér wù rù zé zhōng, mí dào. Jiàn yī yú zhě, wèi yuē: “Wǒ, jūn yě. Mí shī dào, ruò wèi wǒ dǎo zhī, wú hòu shǎng ruò.” Yú zhě yuē: “Chén yuàn xiàn yī yán.” Gōng yuē: “Chū zé ér hòu tīng.” Yú zhě sòng gōng chū zé, gōng yuē: “Zǐ zhī yán hé rú?” Yú zhě duì yuē: “Hóng hú bǎo hé hǎi, yàn ér xǐ zhī xiǎo zé, bì yǒu zēng zhuó zhī yōu. Yuán tuó bǎo shēn yuān, yàn ér jū zhī qiǎn zhǔ, bì yǒu luó wǎng zhī yōu. Jīn jūn zhú shòu, zhì yú cǐ, hé xíng zhī yuǎn yě?” Wén Gōng yuē: “Shàn.” Nǎi gù zuǒ yòu, jì yú zhě míng. Yú zhě yuē: “Jūn hé yǐ míng wéi? Jūn qí zūn tiān shì dì, jìng shè jì, gù sì guó, cí ài wàn mín, báo fù liǎn, qīng zū shuì, chén yì yǔ yān. Ruò jūn bù jìng shè jì, bù gù sì guó, wài shī lǐ yú zhū hóu, nèi nì mín xīn, yī guó liú wáng, yú zhě suī dé hòu cì, bù néng dú lè yě.” Suì cí bù shòu, yuē: “Jūn jí guī guó, chén yì fǎn wú yú suǒ.”","content_han_viet":"Tấn Văn Công xuất liệp, trục thú nhi ngộ nhập trạch trung, mê đạo. Kiến nhất ngư giả, vị viết: “Ngã, quân dã. Mê thất đạo, nhược vi ngã đạo chi, ngô hậu thưởng nhược.” Ngư giả viết: “Thần nguyện hiến nhất ngôn.” Công viết: “Xuất trạch nhi hậu thính.” Ngư giả tống công xuất trạch, công viết: “Tử chi ngôn hà như?” Ngư giả đối viết: “Hồng hộc bảo hà hải, yếm nhi tỉ chi tiểu trạch, tất hữu tăng chước chi ưu. Nguyên đà bảo thâm uyên, yếm nhi cư chi thiển chử, tất hữu la võng chi ưu. Kim quân trục thú, chí vu thử, hà hành chi viễn dã?” Văn Công viết: “Thiện.” Nãi cố tả hữu, ký ngư giả danh. Ngư giả viết: “Quân hà dĩ danh vi? Quân kỳ tôn thiên sự địa, kính xã tắc, cố tứ quốc, từ ái vạn dân, bạc phú liễm, khinh tô thuế, thần diệc dữ yên. Nhược quân bất kính xã tắc, bất cố tứ quốc, ngoại thất lễ vu chư hầu, nội nghịch dân tâm, nhất quốc lưu vong, ngư giả tuy đắc hậu tứ, bất năng độc lạc dã.” Toại từ bất thụ, viết: “Quân cấp quy quốc, thần diệc phản ngô ngư sở.”","content_vi":"Vua Văn Công nước Tấn đi săn ham đuổi một con thú mải theo quá chân, thành lạc vào trong cái chầm lớn không biết lối ra.\n\nVua gặp một người đánh cá, bèn bảo rằng:\n\n- Ta là vua đây. Ta lạc đường, nhà nươi chỉ lối cho ta ra rồi ta hậu thưởng.\n\nNgười đánh cá nói: Bầy tôi muốn dâng nhà vua một câu.\n\nVua bảo: Cứ đưa ra khỏi chầm đã, rồi muốn nói gì thì hãy nói.\n\nKhi người đánh cá đưa vua ra khỏi chầm, vua phán rằng:\n\n- Nào câu gì nhà ngươi muốn nói với quả nhân lúc nãy thì nói nghe đi.\n\nNgười đánh cá thưa: Chim hồng hộc ở bờ sông bờ biển, chán sông biển mà vào đầm tất mắc phải dò bẫy. Thuồng luồng ba ba ở đáy vực sâu, chán vực sâu mà ra chỗ bãi nông, tất phải bị chài lưới. Nay nhà vua đi săn, sao quá chân vào đến tận đây như thế?\n\nVua Văn Công bảo: Người nói phải lắm.\n\nĐoạn ngoảnh lại truyền quan hầu ghi tên người đánh cá để sau ban thưởng .\n\nNgười đánh cá nói:\n\n- Nhà vua bảo ghi tên bầy tôi làm gì. Xin nhà vua cứ tôn kính thiên địa, xã tắc phòng giữ biên thùy, thương yêu muôn dân, đánh nhẹ thuế má, tự khắc là bầy tôi được hưởng ân huệ của nhà vua rồi. Nếu nhà vua chẳng tôn kính thiên địa, xã tắc chẳng phòng giữ biên thùy, chẳng chăm công việc, bên ngoài không khéo xử với các nước , bên trong mất cả lòng muôn dân, để đến nước mất dân khổ, thì dù bầy tôi có được hậu thưởng, cũng không thể sao giữ mà hưởng một mình được.\n\nNgười đánh cá cố từ, xong rồi lại nói:\n\n- Xin vua mau mau về nước, tôi đây cũng về chỗ kiếm cá của tôi thôi.\n\nTân Tự","loi_ban_vi":"Người đánh cá đây là người hiền muốn khuyên vua Văn Công hai điều là: không nên say mê chơi bời săn bắn quá độ mà có khi hại đến tính mạng, hết đạo làm vua cho dân được nhờ và nước khỏi mất.\n\nCòn người đánh cá từ chối nhận thưuởng nói cái lẽ như thế cũng là lo xa nghĩ sâu và phải lắm vậy. Quả là thế khi tổ chim đã đổ thì trong còn có cái trứng nào lành; nước đã bị phá tan hay xâm chiếm thì nhà toàn vẹn sao được để mình còn hòng riêng hưởng cuộc yên vui; đời được thái bình thì quý bằng bao nhiên ân thưởng, tâm không phiền lụy thì sung sường bằng bao nhiêu công danh.","giai_nghia":["Văn Công: vua giỏi nước Tấn về đời Xuân Thu","Tấn: nước to thời Xuân Thu ở vào tỉnh Sơn Tây ngày nay","晋文公 (Jìn Wén Gōng): Tấn Văn Công, tên là Trùng Nhĩ, một trong Ngũ Bá thời Xuân Thu, nổi tiếng là minh quân.","泽 (zé): Đầm lầy, nơi nước tụ lại.","鸿鹄 (hóng hú): Hồng hộc, loài chim lớn, ví với người có chí lớn.","矰缴 (zēng zhuó): Cung tên có dây để bắn chim.","鼋鼍 (yuán tuó): Con ba ba và con thuồng luồng (cá sấu).","社稷 (shè jì): Xã tắc, thần Đất và thần Nông, tượng trưng cho đất nước.","薄赋敛 (báo fù liǎn): Giảm nhẹ các loại thuế và tô."],"tags":["Khuyên răn","Đạo trị quốc","Khoan dung","Trí tuệ dân gian","Tấn Văn Công"]},{"id":152,"title_vi":"VUA TÔI BÀN VIỆC","title_zh_simp":"君问臣","title_zh_trad":"君問臣","title_pinyin":"Jūn wèn chén","title_han_viet":"QUÂN VẤN THẦN","title_en":"The Ruler and His Ministers Discuss Affairs","source_book":"《荀子》","source_author":"荀子 (Tuân Tử)","source_period":"Tiên Tần (thời Chiến Quốc)","content_zh_simp":"魏武侯谋事而当，群臣莫能逮，退朝而有喜色。吴起进曰：“亦尝有以楚庄王之语闻于君者乎？”武侯曰：“楚庄王之语何如？”吴起对曰：“楚庄王谋事而当，群臣莫能逮，退朝而有忧色。申公巫臣进问曰：‘王朝而有忧色，何也？’庄王曰：‘吾谋事而当，群臣莫能逮，是以忧也。其在中蘬之言也，曰：诸侯自为得师者王，得友者霸，得疑者存，自为谋而莫己若者亡。今以不谷之不肖，而群臣莫能逮，吾国几于亡乎！是以忧也。’楚庄王以忧，而君以喜。”武侯逡巡再拜曰：“天使夫子振寡人之过也。”","content_zh_trad":"魏武侯謀事而當，群臣莫能逮，退朝而有喜色。吳起進曰：“亦嘗有以楚莊王之語聞於君者乎？”武侯曰：“楚莊王之語何如？”吳起對曰：“楚莊王謀事而當，群臣莫能逮，退朝而有憂色。申公巫臣進問曰：‘王朝而有憂色，何也？’莊王曰：‘吾謀事而當，群臣莫能逮，是以憂也。其在中蘬之言也，曰：諸侯自為得師者王，得友者霸，得疑者存，自為謀而莫己若者亡。今以不穀之不肖，而群臣莫能逮，吾國幾於亡乎！是以憂也。’楚莊王以憂，而君以喜。”武侯逡巡再拜曰：“天使夫子振寡人之過也。”","content_pinyin":"Wèi Wǔ Hóu móu shì ér dāng, qún chén mò néng dài, tuì cháo ér yǒu xǐ sè. Wú Qǐ jìn yuē: “Yì cháng yǒu yǐ Chǔ Zhuāng Wáng zhī yǔ wén yú jūn zhě hū?” Wǔ Hóu yuē: “Chǔ Zhuāng Wáng zhī yǔ hé rú?” Wú Qǐ duì yuē: “Chǔ Zhuāng Wáng móu shì ér dāng, qún chén mò néng dài, tuì cháo ér yǒu yōu sè. Shēn Gōng Wū Chén jìn wèn yuē: ‘Wáng cháo ér yǒu yōu sè, hé yě?’ Zhuāng Wáng yuē: ‘Wú móu shì ér dāng, qún chén mò néng dài, shì yǐ yōu yě. Qí zài Zhōng Kuì zhī yán yě, yuē: Zhū hóu zì wèi dé shī zhě wáng, dé yǒu zhě bà, dé yí zhě cún, zì wèi móu ér mò jǐ ruò zhě wáng. Jīn yǐ bù gǔ zhī bù xiào, ér qún chén mò néng dài, wú guó jī yú wáng hū! Shì yǐ yōu yě.’ Chǔ Zhuāng Wáng yǐ yōu, ér jūn yǐ xǐ.” Wǔ Hóu qūn xún zài bài yuē: “Tiān shǐ fū zǐ zhèn guǎ rén zhī guò yě.”","content_han_viet":"Ngụy Vũ Hầu mưu sự nhi đáng, quần thần mạc năng đãi, thoái triều nhi hữu hỷ sắc. Ngô Khởi tiến viết: “Diệc thường hữu dĩ Sở Trang Vương chi ngữ văn vu quân giả hồ?” Vũ Hầu viết: “Sở Trang Vương chi ngữ hà như?” Ngô Khởi đối viết: “Sở Trang Vương mưu sự nhi đáng, quần thần mạc năng đãi, thoái triều nhi hữu ưu sắc. Thân Công Vu Thần tiến vấn viết: ‘Vương triều nhi hữu ưu sắc, hà dã?’ Trang Vương viết: ‘Ngô mưu sự nhi đáng, quần thần mạc năng đãi, thị dĩ ưu dã. Kỳ tại Trung Quy chi ngôn dã, viết: Chư hầu tự vị đắc sư giả vương, đắc hữu giả bá, đắc nghi giả tồn, tự vị mưu nhi mạc kỷ nhược giả vong. Kim dĩ bất cốc chi bất tiếu, nhi quần thần mạc năng đãi, ngô quốc kỹ vu vong hồ! Thị dĩ ưu dã.’ Sở Trang Vương dĩ ưu, nhi quân dĩ hỷ.” Vũ Hầu tuần tuần tái bái viết: “Thiên sử phu tử chấn quả nhân chi quá dã.”","content_vi":"Vũ Hầu nước Ngụy cùng với quần thần bàn việc, việc gì vua bàn cũng phải, quần thần không ai giỏi bằng:\n\nLúc lui chầu, Ngụy Hầu ra dáng hớn hở lắm.\n\nNgô Khởi bèn tiến lên nói:\n\nCận thần đã ai đem câu chuyện Sở Trang Vương nói cho nhà vua nghe chưa?\n\nVũ Hầu hỏi:\n\nCâu chuyện Sở Trang Vương thế nào?\n\nNgô khởi thưa:\n\nKhi Sở Trang Vương mà bàn việc phải hơn quần thần, thì lúc lui chầu lo lắm. Có người hỏi: Sao vua lại lo? - Sở Trang Vương nói: Ta làm việc mà quần thần không bằng được ta, cho nên ta lo. Cổ nhân có câu: “Các vua chư hầu, ai có thầy giỏi, thì làm được vương, ai có bạn giỏi thì làm được bá, ai có người quyết đoán cho mọi việc ngờ vực, thì còn nước, ai bàn việc không ai bằng mình thì mất nước”. Ta nghĩ ngu như ta mà quần thần không ai bằng thì nước ta có lẽ mất. Bởi thế ta lo...\n\nẤy cũng một việc giống nhau. Sở Trang Vương thì lo mà nhà vua thì mừng.\n\nVũ Hầu nghe nói áy náy vái tạ và nói rằng:\n\nTrời sai nhà thầy đến bảo cái lỗi cho ta.","loi_ban_vi":": Người làm chúa tể một nước tất là người tài giỏi hơn người, sáng công việc hơn người. Tuy vậy, khi đã dùng quần thần, là mong muốn cậy quần thần, cón có nhiều khi giúp được mình như người ngoài giúp nước cờ vậy. Nếu mà quần thần không có ai hơn mình cả, thì là bọn a dua ăn hại còn mong cậy gì được mà chẳng đáng lo. Nên lời Ngô Khởi nói đây rất là phải. Đã hay rằng người ta ở đời phải cầu ở mình hơn nhờ ở người, nhưng lắm lúc cũng phải có tả phụ hữu bậc mới lo toan được công việc lớn. Những bậc vua chúa cần phải có thầy giỏi, tôi hay là vì cái lẽ ấy.\n\nTruyện này cũng giống câu trong “Quốc Sách” có nói: “Đế giả cũng ở với thầy, vương giả cùng ở với bầy tôi, vua vong quốc chỉ cùng ở với hạng đầy tớ”.","giai_nghia":[":","Ngô Khởi: người nước Vệ thời Chiến quốc trước làm tướng vua nước Ngụy, sau làm tướng vua nước Sở, là một nhà dùng binh giỏi có tiếng.","魏武侯 (Wèi Wǔ Hóu): Ngụy Vũ Hầu, vua nước Ngụy thời Chiến Quốc.","吴起 (Wú Qǐ): Ngô Khởi, nhà quân sự và chính trị gia nổi tiếng thời Chiến Quốc.","楚庄王 (Chǔ Zhuāng Wáng): Sở Trang Vương, một trong Ngũ Bá thời Xuân Thu.","逮 (dài): Kịp, theo kịp, đạt tới.","不谷 (bù gǔ): Cách xưng hô khiêm tốn của vua chúa thời xưa, nghĩa là 'kẻ bất tài'.","逡巡 (qūn xún): Do dự, lưỡng lự, có vẻ áy náy.","中蘬 (Zhōng Kuī): Tên một cuốn sách cổ, có thể là tên người, được nhắc đến như một nguồn trí tuệ."],"tags":["Đạo trị quốc","Khiêm tốn","Cảnh tỉnh","Ngô Khởi","Sở Trang Vương"]},{"id":153,"title_vi":"KHÓ ĐƯỢC YẾT KIẾN","title_zh_simp":"难见楚王","title_zh_trad":"難見楚王","title_pinyin":"Nán jiàn Chǔ wáng","title_han_viet":"NAN KIẾN SỞ VƯƠNG","title_en":"Difficult to Gain an Audience","source_book":"《战国策》","source_author":"刘向","source_period":"西汉","content_zh_simp":"苏秦之楚，三日乃得见乎王。谈卒，辞而行。楚王曰：“寡人闻先生，若闻古人。今先生乃不远千里而临寡人，曾不肯留，愿闻其说。”对曰：“楚国之食贵于玉，薪贵于桂，谒者难得见如鬼，王难得见如天帝。今令臣食玉炊桂，因鬼见帝。”王曰：“先生就舍，寡人闻命矣。”","content_zh_trad":"蘇秦之楚，三日乃得見乎王。談卒，辭而行。楚王曰：“寡人聞先生，若聞古人。今先生乃不遠千里而臨寡人，曾不肯留，願聞其說。”對曰：“楚國之食貴於玉，薪貴於桂，謁者難得見如鬼，王難得見如天帝。今令臣食玉炊桂，因鬼見帝。”王曰：“先生就舍，寡人聞命矣。”","content_pinyin":"Sū Qín zhī Chǔ, sān rì nǎi dé jiàn hū wáng. Tán zú, cí ér xíng. Chǔ wáng yuē: “Guǎ rén wén xiānshēng, ruò wén gǔrén. Jīn xiānshēng nǎi bù yuǎn qiānlǐ ér lín guǎ rén, céng bù kěn liú, yuàn wén qí shuō.” Duì yuē: “Chǔ guó zhī shí guì yú yù, xīn guì yú guì, yè zhě nán dé jiàn rú guǐ, wáng nán dé jiàn rú tiāndì. Jīn lìng chén shí yù chuī guì, yīn guǐ jiàn dì.” Wáng yuē: “Xiānsheng jiù shè, guǎ rén wén mìng yǐ.”","content_han_viet":"Tô Tần chi Sở, tam nhật nãi đắc kiến hồ vương. Đàm tốt, từ nhi hành. Sở vương viết: “Quả nhân văn tiên sinh, nhược văn cổ nhân. Kim tiên sinh nãi bất viễn thiên lý nhi lâm quả nhân, tằng bất khẳng lưu, nguyện văn kỳ thuyết.” Đối viết: “Sở quốc chi thực quý vu ngọc, tân quý vu quế, yết giả nan đắc kiến như quỷ, vương nan đắc kiến như thiên đế. Kim lệnh thần thực ngọc xuy quế, nhân quỷ kiến đế.” Vương viết: “Tiên sinh tựu xá, quả nhân văn mệnh hĩ.”","content_vi":"Tô Tần sang nước Sở, chầu chực suốt ba ngày mới được yết kiến vua Sở.\n\nĐến khi được yết kiến, nói xong câu chuyện là xin cáo biệt ngay.\n\nVua bảo:\n\nQuả nhân nghe tiếng tiên sinh quý như nghe tiếng một bậc cổ nhân. Nay tiên sinh đã không quản xa xôi, đến chơi với quả nhân, lại không chịu ở lại là cớ làm sao?\n\nTô Tân thưa:\n\nTôi xem ra bên nước Sở ta đồ ăn đắt hơn ngọc, củi thổi đắt hơn quế, quan khó được trông thấy như ma, vua khó được yết kiến như trời. Nhà vua muốn bắt tôi ở lại ăn ngọc, thổi quế, nhờ ma để thấy trời sao?\n\nVua nói:\n\nXin mời tiên sinh cứ ở lại. Quả nhân nghe đã hiểu ra rồi.\n\nChiến Quốc sách","loi_ban_vi":": Lắm người có được chút quyền chức khiến cho người khác phải cầu đến mình thì tự làm ra khó khăn hình như không muốn cùng ai xúc tiếp nữa. Họ làm như thế, tưởng là nâng giá trị mình cho cao lên, có biết đâu lại là làm cho quyền chức mình kém vì vậy. Vì khi đã làm khó, ít cho người đến gần, tức là lấp đường không cho chân lý, không cho điều khuyết điểm của chức vụ mình đạt được đến mình nữa. Ôi! Như Tô Tần là bậc tài giỏi mà vua Sở làm cho khó yết kiến thì chỉ có phần thiệt cho vua, chớ hại gì cho Tô Tần.\n\nThế mới hay người chúa tể một quốc gia, lãnh đạo một dân tộc, cần phải tôn hiền hạ sĩ, trọng dụng nhân tài để đồng tâm hợp tác thì mới mong thành công được, nếu thông minh tự dụng thì chỉ hại cho dân cho nước mà thôi.","giai_nghia":["Tô Tân: Một nhà du thuyết giỏi thới Chiến Quốc đi nói sáu nước đồng minh để kháng cự nước Tần","苏秦 (Tô Tần): Nhà hùng biện nổi tiếng thời Chiến Quốc, người nước Lạc Dương, đại diện cho phái hợp tung.","楚王 (Sở Vương): Chỉ Sở Uy Vương hoặc Sở Hoài Vương, trị vì nước Sở thời Chiến Quốc.","食贵于玉，薪贵于桂 (đồ ăn đắt hơn ngọc, củi đắt hơn quế): Hình dung giá cả sinh hoạt ở nước Sở rất đắt đỏ.","谒者 (yết giả): Quan lại phụ trách việc tiếp đón khách, ở đây chỉ người truyền đạt, dẫn kiến.","因鬼见帝 (nhờ quỷ để gặp trời): Ý nói phải nhờ đến những kẻ khó gặp như quỷ mới được gặp vua như trời."],"tags":["Chiến Quốc sách","Tô Tần","Sở Vương","khó yết kiến","nhân tài","lãnh đạo"]},{"id":154,"title_vi":"KHÔNG PHỤC NƯỚC TẦN","title_zh_simp":"不帝秦","title_zh_trad":"不帝秦","title_pinyin":"Bù dì Qín","title_han_viet":"BẤT ĐẾ TẦN","title_en":"Refusing to Submit to Qin","source_book":"《战国策》","source_author":"Lưu Hướng (biên soạn)","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"秦攻魏。魏王恐，使辛垣衍说赵王，欲共尊秦为帝，以息兵。鲁仲连闻之，往见衍曰：“秦者，弃礼义而尚首功之国也。彼将肆然而为帝，则连有赴东海而死耳，不忍为之民也。”衍起，再拜曰：“吾乃今知先生为天下之士也。吾请去，不敢复言帝秦。”","content_zh_trad":"秦攻魏。魏王恐，使辛垣衍說趙王，欲共尊秦爲帝，以息兵。魯仲連聞之，往見衍曰：“秦者，棄禮義而尚首功之國也。彼將肆然而爲帝，則連有赴東海而死耳，不忍爲之民也。”衍起，再拜曰：“吾乃今知先生爲天下之士也。吾請去，不敢復言帝秦。”","content_pinyin":"Qín gōng Wèi. Wèi wáng kǒng, shǐ Xīn Yuányǎn shuì Zhào wáng, yù gòng zūn Qín wéi dì, yǐ xī bīng. Lǔ Zhònglián wén zhī, wǎng jiàn yǎn yuē: “Qín zhě, qì lǐyì ér shàng shǒu gōng zhī guó yě. Bǐ jiāng sì rán ér wéi dì, zé Lián yǒu fù Dōnghǎi ér sǐ ěr, bù rěn wéi zhī mín yě.” Yǎn qǐ, zài bài yuē: “Wú nǎi jīn zhī xiānshēng wéi tiānxià zhī shì yě. Wú qǐng qù, bù gǎn fù yán dì Qín.”","content_han_viet":"Tần công Ngụy. Ngụy vương khủng, sử Tân Viên Diễn thuyết Triệu vương, dục cộng tôn Tần vi đế, dĩ tức binh. Lỗ Trọng Liên văn chi, vãng kiến Diễn viết: “Tần giả, khí lễ nghĩa nhi thượng thủ công chi quốc dã. Bỉ tương tứ nhiên nhi vi đế, tắc Liên hữu phó Đông Hải nhi tử nhĩ, bất nhẫn vi chi dân dã.” Diễn khởi, tái bái viết: “Ngô nãi kim tri tiên sinh vi thiên hạ chi sĩ dã. Ngô thỉnh khứ, bất cảm phục ngôn đế Tần.”","content_vi":"Nước Tần đánh nước Ngụy.\n\nVua Ngụy sợ, sai Tân Viên Diễn sang nói với vua Triệu, ý muốn cùng tôn nước Tần lên làm đế để đỡ việc chiến tranh.\n\nLỗ Trọng Liên được tin ấy, đến bảo Diễn rằng:\n\nNước Tần là nước bỏ hết cả lễ nghĩa, chỉ chăm dùng võ lực chinh chiến, như thế mà tôn làm đế, thì thực là không còn ra sao nữa. Tần sau này mà thắng thế, có làm được đế, thì Liên đây đành bước ra biển đông mà chết chứ không chịu làm dân nước Tần.\n\nDiễn đứng dậy nói rằng:\n\nTôi nay mới biết tiên sinh là bậc thiên hạ sĩ. Từ nay tôi không dám nói tôn nước Tần làm đế nữa.\n\nChư thư","loi_ban_vi":":\n\nKhi thấy một nước mạnh hơn nước mình mà mình cần giao hiếu, thì cũng là thường tình, vì như thế tức là vừa giữ cho mình còn lại, vừa được thêm vây cánh nữa. Nhưng mình phải biết khi giao hiếu với nước tàn bạo mà chiều họ tức là như mình muốn xúi giục cho họ càng tàn bạo thêm lên. Điều ấy rất không nên vì như thế chẳng những không lợi gì cho mình mà lại thường nguy cho mình nữa. Họ đã tàn bạo, tất họ không để mình yên, mà dù cho họ có để mình yên nữa, thì cái trò tàn bạo không bền được lâu, chẳng bao lâu họ đổ thì mình tất cũng phải đổ theo.\n\nLỗ Trọng Liên nói trong bài đây, dù sau có phải tự đem thân ra ẩn biển Đông, thế nhà Tần quả cũng như lời Trọng Liên đã nói, không được bền lâu, chỉ qua hai đời trong vòng bồn mươi năm là mất.","giai_nghia":[":","Tân Viên Diễn: tướng quân nước Ngụy về thời Chiến Quốc.","Lỗ Trọng Liên: người nước Tề về thời Chiến Quốc, tính khẳng khái, cao thượng, thích vì người bài phân, giải nạn, vua Tề phong tước ông không nhận, khi Tần nhất thống, ông ra ẩn ở biển đông.","辛垣衍: Tân Viên Diễn, người nước Ngụy, được cử đi sứ","鲁仲连: Lỗ Trọng Liên, hiền sĩ nước Tề, nổi tiếng nghĩa khí","帝秦: tôn Tần làm đế"],"tags":["Chiến Quốc","Khí tiết","Ngoại giao"]},{"id":155,"title_vi":"CẬY NGƯỜI KHÔNG BẰNG CHẮC Ở MÌNH","title_zh_simp":"恃人不如自恃","title_zh_trad":"恃人不如自恃","title_pinyin":"Shì rén bù rú zì shì","title_han_viet":"THỊ NHÂN BẤT NHƯ TỰ THỊ","title_en":"Relying on Others Is Not as Good as Relying on Oneself","source_book":"《孟子》","source_author":"Mạnh Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"滕文公问曰：“滕，小国也，间于齐、楚。事齐乎？事楚乎？”孟子对曰：“是谋非吾所能及也。无已，则有一焉：凿斯池也，筑斯城也，与民守之，效死而民弗去，则是可为也。”","content_zh_trad":"滕文公問曰：「滕，小國也，間於齊、楚。事齊乎？事楚乎？」孟子對曰：「是謀非吾所能及也。無已，則有一焉：鑿斯池也，築斯城也，與民守之，效死而民弗去，則是可為也。」","content_pinyin":"Téng Wén Gōng wèn yuē: “Téng, xiǎo guó yě, jiān yú Qí, Chǔ. Shì Qí hū? Shì Chǔ hū?” Mèngzǐ duì yuē: “Shì móu fēi wú suǒ néng jí yě. Wú yǐ, zé yǒu yī yān: záo sī chí yě, zhù sī chéng yě, yǔ mín shǒu zhī, xiào sǐ ér mín fú qù, zé shì kě wèi yě.”","content_han_viet":"Đằng Văn Công vấn viết: “Đằng, tiểu quốc dã, gian ư Tề, Sở. Sự Tề hồ? Sự Sở hồ?” Mạnh Tử đối viết: “Thị mưu phi ngô sở năng cập dã. Vô dĩ, tắc hữu nhất yên: tạc tư trì dã, trúc tư thành dã, dữ dân thủ chi, hiệu tử nhi dân phất khứ, tắc thị khả vi dã.”","content_vi":"Văn Công nước Đằng hỏi thầy Mạnh Tử rằng:\n\nNước Đằng ta là một nước nhỏ ở vào khoảng giữa nước Tề và nước Sở là hai nước lớn. Kể phận thì phải chiểu cả hai nước, nhưng kể sức thì không thể chiều được cả. Chiều nước Tề chăng? Chiều nước Sở chăng? Ta thực không biết nên nương tựa vào nước để cho nước ta được yên ổn, thầy mưu tính hộ cho ta.\n\nThầy Mạnh Tử thưa:\n\nPhàm việc mà cứ trông cậy vào người thì không thể chắc được. Chiều Tề thì Sở giận, chiều Sở thì Tề giận; mưu ấy chúng tôi không thể nghĩ kịp. Xin nói chỉ có một cách là tự giữ lấy nước, đào hào cho sâu, đắp thành cho cao, cai trị một cách cố kết lòng dân, cùng dân giữ nước. Hoặc như có biến cố gì xảy ra, vua đã liều chết để giữ nước, thì chắc dân cũng liều chết để giữ nước, không thể bỏ vua. Thế là ta dùng cái lòng dân để giữ lấy đất nước, tự cường mà lo toan lấy việc nước. Còn chiều Tề hay chiều Sở thì tôi không thể quyết được.","loi_ban_vi":"Xử thế gian nan, chớ nên cầu cạnh ngoại lực mà nên tự lực tự cường. Việc nước cũng như việc người, chỉ có gốc rễ vững bền nơi mình, trên dưới đồng lòng, mới mong trường tồn trước biến cố. Cậy thế nương người, khác chi trứng chọi đá, chưa thấy lợi mà hại đã theo về.","giai_nghia":[":","Đằng : tên một nước nhỏ thời Chiến Quốc tức là huyện Đằng tỉnh Sơn Đông bây giờ.","滕文公 (Téng Wén Gōng): Vua nước Đằng, một nước nhỏ thời Chiến Quốc.","间于齐、楚 (jiān yú Qí, Chǔ): Nằm ở giữa hai nước lớn là Tề và Sở.","效死 (xiào sǐ): Liều chết để phục vụ, hiến dâng sinh mệnh.","凿斯池, 筑斯城 (záo sī chí, zhù sī chéng): Đào sâu hào, đắp cao thành, ý nói tự tăng cường phòng thủ."],"tags":["Tự lực","Chính trị","Mạnh Tử","An dân"]},{"id":156,"title_vi":"PHẨM TRẬT ÔNG QUAN, PHẨM GIÁ CON NGƯỜI","title_zh_simp":"爵禄一时，人品千古","title_zh_trad":"爵祿一時，人品千古","title_pinyin":"Jué lù yī shí, rén pǐn qiān gǔ","title_han_viet":"TƯỚC LỘC NHẤT THỜI, NHÂN PHẨM THIÊN CỔ","title_en":"Rank and Emolument Are but for a Time; Human Character Lasts for Eternity","source_book":"《祝子》","source_author":"Chúc Tử","source_period":"Minh Triều","content_zh_simp":"爵禄一时，品节千古。士君子见天外之天，知人外之人，达物外之物，思身后之身，则孰短孰长，孰存孰亡，自不惑于趋舍矣。","content_zh_trad":"爵祿一時，品節千古。士君子見天外之天，知人外之人，達物外之物，思身後之身，則孰短孰長，孰存孰亡，自不惑於趨舍矣。","content_pinyin":"Jué lù yī shí, pǐn jié qiān gǔ. Shì jūnzǐ jiàn tiān wài zhī tiān, zhī rén wài zhī rén, dá wù wài zhī wù, sī shēn hòu zhī shēn, zé shú duǎn shú cháng, shú cún shú wáng, zì bù huò yú qū shě yǐ.","content_han_viet":"Tước lộc nhất thời, phẩm tiết thiên cổ. Sĩ quân tử kiến thiên ngoại chi thiên, tri nhân ngoại chi nhân, đạt vật ngoại chi vật, tư thân hậu chi thân, tắc thục đoản thục trường, thục tồn thục vong, tự bất hoặc vu xu xá hĩ.","content_vi":"Phẩm trật ông quan là phẩm trật có một đời, phận có, khắc có. Phẩm giá con người là phẩm giá lưu truyền trăm đời, tự mình không cố gây dựng cho mình, thì không bao giờ có.\n\nSĩ quân tử ta trông thấy cái trời ở ngoài trời, biết rõ cái người ở trong người, hiểu thấu đến cái vật ngoài vật ở đời, nghĩ xa đến cái thân sau thân thiện tại, thì biết đằng nào ngắn, đằng nào dài, đằng nào còn, đằng nào mất, chắc không ham mê cái này mà quên bỏ cái kia.","loi_ban_vi":"Danh lợi phù hoa chỉ là thứ vui chóng tàn, đức hạnh thanh cao mới là gốc bền muôn thuở. Người quân tử nhìn xa trông rộng, biết phân biệt điều gì là tạm bợ, điều gì là vĩnh hằng để không phải đánh mất chính mình. Xưa nay, kẻ tham vinh hoa phú quý thường chuốc lấy nhục nhã, còn người giữ trọn khí tiết thì tiếng thơm còn mãi với non sông.","giai_nghia":["爵禄 (jué lù): Tước vị và bổng lộc, chỉ công danh, địa vị xã hội.","品节 (pǐn jié): Phẩm hạnh và khí tiết, chỉ giá trị đạo đức của con người.","天外之天 (tiān wài zhī tiān): Tầng trời cao hơn tầng trời, ý nói cảnh giới nhận thức cao xa hơn.","身后之身 (shēn hòu zhī shēn): Cái thân sau khi chết, tức là danh tiếng và sự nghiệp để lại cho hậu thế."],"tags":["Đạo đức","Nhân sinh quan","Danh lợi","Tu dưỡng"]},{"id":157,"title_vi":"BÀI TRÂM CỦA NGƯỜI LÀM QUAN","title_zh_simp":"仕箴","title_zh_trad":"仕箴","title_pinyin":"Shì zhēn","title_han_viet":"SĨ CHÂM","title_en":"Admonitions for Officials","source_book":"《蒿庵闲话》","source_author":"张尔岐","source_period":"明末清初","content_zh_simp":"士大夫当为身惜名，不当为身市名。学问器识，持守谨严，取与慎，威仪庄，是为惜名。互相标榜，阿谀权贵，作为诡异，模棱两可，是为市名。惜名者静而休，市名者躁而拙。士大夫当为子孙种福，不当为子孙求福。谨家法，崇俭朴，教之读书，授之以业，广积阴德，是为种福。广置田宅，交给权贵，与民争利，为子孙营求功名，是为求福。种福者淡而长，求福者浓而短。士大夫当为一家用财，不当为一家伤财。济宗党，广束修，救困厄，勤义举，是用财。靡衣饰，多声伎，恒燕会，聚宝玩，是伤财。用财者虽损而有余，伤财者虽余而不足。士大夫当为天下养身，不当为天下惜身。省嗜欲，减思虑，戒忿怒，节饮食，是养身。计利害，避劳苦，贪位慕禄，惟知顾家室，是惜身。养身者静而大，惜身者腴而小。","content_zh_trad":"士大夫當為身惜名，不當為身市名。學問器識，持守謹嚴，取與慎，威儀莊，是為惜名。互相標榜，阿諛權貴，作為詭異，模稜兩可，是為市名。惜名者靜而休，市名者躁而拙。士大夫當為子孫種福，不當為子孫求福。謹家法，崇儉樸，教之讀書，授之以業，廣積陰德，是為種福。廣置田宅，交給權貴，與民爭利，為子孫營求功名，是為求福。種福者淡而長，求福者濃而短。士大夫當為一家用財，不當為一家傷財。濟宗黨，廣束修，救困厄，勤義舉，是用財。靡衣飾，多聲伎，恆燕會，聚寶玩，是傷財。用財者雖損而有餘，傷財者雖餘而不足。士大夫當為天下養身，不當為天下惜身。省嗜欲，減思慮，戒忿怒，節飲食，是養身。計利害，避勞苦，貪位慕祿，惟知顧家室，是惜身。養身者靜而大，惜身者腴而小。","content_pinyin":"Shì dàfū dāng wèi shēn xī míng, bù dāng wèi shēn shì míng. Xuéwèn qìshí, chíshǒu jǐnyán, qǔ yǔ shèn, wēiyí zhuāng, shì wèi xī míng. Hùxiāng biāobǎng, ēyú quán guì, zuòwéi guǐyì, móléng liǎngkě, shì wèi shì míng. Xī míng zhě jìng ér xiū, shì míng zhě zào ér zhuō. Shì dàfū dāng wèi zǐsūn zhǒng fú, bù dāng wèi zǐsūn qiú fú. Jǐn jiāfǎ, chóng jiǎnpǔ, jiào zhī dúshū, shòu zhī yǐ yè, guǎng jī yīndé, shì wèi zhǒng fú. Guǎng zhì tiánzhái, jiāogěi quán guì, yǔ mín zhēng lì, wèi zǐsūn yíngqiú gōngmíng, shì wèi qiú fú. Zhǒng fú zhě dàn ér cháng, qiú fú zhě nóng ér duǎn. Shì dàfū dāng wèi yījiā yòng cái, bù dāng wèi yījiā shāng cái. Jì zōng dǎng, guǎng shùxiū, jiù kùn'è, qín yìjǔ, shì yòng cái. Mǐ yīshì, duō shēng jì, héng yàn huì, jù bǎo wán, shì shāng cái. Yòng cái zhě suī sǔn ér yǒuyú, shāng cái zhě suī yú ér bùzú. Shì dàfū dāng wèi tiānxià yǎng shēn, bù dāng wèi tiānxià xī shēn. Shěng shìyù, jiǎn sīlǜ, jiè fènnù, jié yǐnshí, shì yǎng shēn. Jì lìhài, bì láokǔ, tān wèi mù lù, wéi zhī gù jiāshì, shì xī shēn. Yǎng shēn zhě jìng ér dà, xī shēn zhě yú ér xiǎo.","content_han_viet":"Sĩ đại phu đương vị thân tích danh, bất đương vị thân thị danh. Học vấn khí thức, trì thủ cẩn nghiêm, thủ dữ thận, uy nghi trang, thị vị tích danh. Hỗ tương tiêu bảng, a dụ quyền quý, tác vi quỹ dị, mô lăng lưỡng khả, thị vị thị danh. Tích danh giả tĩnh nhi hưu, thị danh giả táo nhi chuyết. Sĩ đại phu đương vị tử tôn chủng phúc, bất đương vị tử tôn cầu phúc. Cẩn gia pháp, sùng kiệm phác, giáo chi độc thư, thụ chi dĩ nghệ, quảng tích âm đức, thị vị chủng phúc. Quảng trí điền trạch, giao cấp quyền quý, dữ dân tranh lợi, vị tử tôn doanh cầu công danh, thị vị cầu phúc. Chủng phúc giả đạm nhi trường, cầu phúc giả nùng nhi đoản. Sĩ đại phu đương vị nhất gia dụng tài, bất đương vị nhất gia thương tài. Tế tông đảng, quảng súc tu, cứu khốn ách, cần nghĩa cử, thị dụng tài. Mĩ y sức, đa thanh kĩ, hằng yến hội, tụ bảo ngoạn, thị thương tài. Dụng tài giả tuy tổn nhi hữu dư, thương tài giả tuy dư nhi bất túc. Sĩ đại phu đương vị thiên hạ dưỡng thân, bất đương vị thiên hạ tích thân. Tỉnh thị dục, giảm tư lự, giới phẫn nộ, tiết ẩm thực, thị dưỡng thân. Kế lợi hại, tị lao khổ, tham vị mộ lộc, duy tri cố gia thất, thị tích thân. Dưỡng thân giả tĩnh nhi đại, tích thân giả du nhi tiểu.","content_vi":"1. Sĩ đại phu nên vì đời mình mà tiếc danh, không nên vì đời mình mà mua danh.\n\nCó học thức, chuộng khí tiết, thủ dữ (lấy hay cho) phải cẩn thận, uy nghi phải trang trọng, ấy thế là tiếc danh.\n\nTâng bốc lẫn nhau, a dua những kẻ quyền quý, làm ra kiểu cách khác thường, lờ mờ hai mặt, ấy thế là mua danh.\n\nNgười tiếc danh thì yên lặng mà hay, kẻ mua danh thì rực rỡ mà dở.\n\n2. Sĩ, đại phu nên vì con cháu gây phúc, không nên vì con cháu cầu phúc.\n\nNghêm giữ phép nhà, chuộng sự tiết kiệm, chất phác, dạy cho chúng biết chữ, cho chúng có nghề, chứa nhiều âm đức, ấy thế là gây phúc.\n\nMua nhiều cửa nhà, ruộng đất, giao kết với những người quyền thế, tranh lợi nhỏ mọn với dân, mua công danh cho con cháu, ấy thế là cầu phúc.\n\nNgười gây phúc thì thanh đạm mà lâu dài, kẻ cầu phúc thì nồng nàn mà ngắn ngủi.\n\n3. Sĩ, đại phu nên vì một nhà mà dùng của, không nên vì một nhà mà hại của.\n\nGiúp cho họ hàng, làng nước, tiêu rộng rãi về việc học, cứu kẻ khốn cùng, chăm làm việc nghĩa, ấy thế là dùng của.\n\nĂn mặc hoang, xướng hát nhiều, yến hội luôn, tụ tập lắm đồ châu báu, ấy thế là hại của.\n\nNgười biết dùng của tuy thiệt mà vẫn có thừa, kẻ không biết dùng của thì tuy thừa mà vẫn thiếu.\n\n4. Sĩ, đại phu nên vì thiên hạ nuôi thân, không nên vì thiên hạ tiếc thân.\n\nBới thị dục, giảm lo phiền, ít phẫn nộ, tiếc ẩm thực ấy thế là nuôi thân.\n\nSo kè lợi hại, xa tránh khó nhọc, tham quyền cố vị chỉ chăm chăm việc vợ con, nhà cửa, ấy thế là tiếc thân.\n\nNgười nuôi thân thì im lặng mà to, kẻ tiếc thân thì thỏa thê mà nhỏ.\n\nTrượng Động Sơ","loi_ban_vi":": Bồn đoạn bài này dạy người làm quan muốn vì thân mình, vì con mình, vì nhà mình, vì thiên hạ nên làm thế nào là phải. Mỗi đoạn cân nhắc tách bạch lợi hại, rồi lại bày tỏ tinh tường sự kết quả của cả đôi đương hay dở, thực là xác đáng lắm. Ta tưởng bài trâm này chẳng những riêng cho người làm quan mà ai nấy đã có chút công danh của cải, muốn cho được yên vui sung sướng cũng nên ngầm đọc, hay viết ra mà treo luôn bên mình mà soi ngắm hắng ngày để cố mà thực hành, tưởng cũng nên lắm.","giai_nghia":[": Trâm: lời nói hay thể văn dùng để khuyên răn người ta.","Châm (箴): bài văn có tính chất răn dạy, khuyên bảo.","Sĩ đại phu (士大夫): tầng lớp trí thức, quan lại thời xưa.","Tích danh (惜名): quý trọng, giữ gìn danh dự của bản thân.","Thị danh (市名): mua danh, chuộc tiếng, tìm kiếm danh vọng hư ảo.","Âm đức (陰德): việc thiện làm trong âm thầm, không phô trương, tích lũy phúc đức cho đời sau.","Trương Nhĩ Kỳ (张尔岐): học giả sống vào cuối Minh đầu Thanh, tác phẩm chính là 《蒿庵闲话》."],"tags":["Đạo làm quan","Danh dự","Phúc đức","Tiết kiệm","Dưỡng sinh"]},{"id":158,"title_vi":"CƯỜI NGƯỜI TA KHÓC","title_zh_simp":"景公泣牛山","title_zh_trad":"景公泣牛山","title_pinyin":"Jǐng Gōng qì Niú Shān","title_han_viet":"CẢNH CÔNG KHẤP NGƯU SƠN","title_en":"Duke Jing Weeps at Ox Mountain","source_book":"《列子·力命》","source_author":"列御寇","source_period":"战国","content_zh_simp":"齐景公游于牛山，北临其国城而流涕曰：“美哉国乎！郁郁芊芊，若何滴滴去此国而死乎？使古无死者，寡人将去斯而之何？”史孔、梁丘据皆从而泣曰：“臣赖君之赐，疏食恶肉可得而食，驽马棱车可得而乘也，且犹不欲死，而况吾君乎！”晏子独笑于旁。景公雪涕而顾晏子曰：“寡人今日之游诚悲，孔与据皆从寡人而泣，子之独笑，何也？”晏子对曰：“使贤者常守之，则太公、桓公将常守之矣；使勇者而常守之，则灵公、庄公将常守之矣。数君者将守之，吾君方将被蓑笠而立乎畎亩之中，惟事之恤，何暇念死乎？则吾君又安得此位而立焉？以其迭处之迭去之，至于君也，而独为之流涕，是不仁也。见不仁之君，见谄谀之臣；臣见此二者，臣之所为独窃笑也。”景公惭焉，举觞自罚；罚二臣者各二觞焉。","content_zh_trad":"齊景公遊於牛山，北臨其國城而流涕曰：“美哉國乎！鬱鬱芊芊，若何滴滴去此國而死乎？使古無死者，寡人將去斯而之何？”史孔、梁丘據皆從而泣曰：“臣賴君之賜，疏食惡肉可得而食，駑馬稜車可得而乘也，且猶不欲死，而況吾君乎！”晏子獨笑於旁。景公雪涕而顧晏子曰：“寡人今日之遊誠悲，孔與據皆從寡人而泣，子之獨笑，何也？”晏子對曰：“使賢者常守之，則太公、桓公將常守之矣；使勇者而常守之，則靈公、莊公將常守之矣。數君者將守之，吾君方將被蓑笠而立乎畎畝之中，惟事之恤，何暇念死乎？則吾君又安得此位而立焉？以其迭處之迭去之，至於君也，而獨為之流涕，是不仁也。見不仁之君，見諂諛之臣；臣見此二者，臣之所為獨竊笑也。”景公慚焉，舉觴自罰；罰二臣者各二觴焉。","content_pinyin":"Qí Jǐng Gōng yóu yú Niú Shān, běi lín qí guó chéng ér liú tì yuē: “Měi zāi guó hū! Yùyù qiānqiān, ruòhé dīdī qù cǐ guó ér sǐ hū? Shǐ gǔ wú sǐ zhě, guǎrén jiāng qù sī ér zhī hé?” Shǐ Kǒng, Liángqiū Jù jiē cóng ér qì yuē: “Chén lài jūn zhī cì, shū shí è ròu kě dé ér shí, nú mǎ léng chē kě dé ér chéng yě, qiě yóu bù yù sǐ, ér kuàng wú jūn hū!” Yàn Zǐ dú xiào yú páng. Jǐng Gōng xuě tì ér gù Yàn Zǐ yuē: “Guǎrén jīnrì zhī yóu chéng bēi, Kǒng yǔ Jù jiē cóng guǎrén ér qì, zǐ zhī dú xiào, hé yě?” Yàn Zǐ duì yuē: “Shǐ xián zhě cháng shǒu zhī, zé Tài Gōng, Huán Gōng jiāng cháng shǒu zhī yǐ; shǐ yǒng zhě ér cháng shǒu zhī, zé Líng Gōng, Zhuāng Gōng jiāng cháng shǒu zhī yǐ. Shù jūn zhě jiāng shǒu zhī, wú jūn fāng jiāng bèi suō lì ér lì hū quǎnmǔ zhī zhōng, wéi shì zhī xù, hé xiá niàn sǐ hū? Zé wú jūn yòu ān dé cǐ wèi ér lì yān? Yǐ qí dié chù zhī dié qù zhī, zhì yú jūn yě, ér dú wèi zhī liú tì, shì bù rén yě. Jiàn bù rén zhī jūn, jiàn chǎn yú zhī chén; chén jiàn cǐ èr zhě, chén zhī suǒ wéi dú qiè xiào yě.” Jǐng Gōng cán yān, jǔ shāng zì fá; fá èr chén zhě gè èr shāng yān.","content_han_viet":"Tề Cảnh Công du vu Ngưu Sơn, bắc lâm kỳ quốc thành nhi lưu thế viết: “Mỹ tai quốc hồ! Uất uất thiên thiên, nhược hà đích đích khứ thử quốc nhi tử hồ? Sử cổ vô tử giả, quả nhân tương khứ tư nhi chi hà?” Sử Khổng, Lương Khâu Cứ giai tòng nhi khấp viết: “Thần lại quân chi tứ, sơ thực ác nhục khả đắc nhi thực, nô mã lăng xa khả đắc nhi thừa dã, thả do bất dục tử, nhi huống ngô quân hồ!” Án Tử độc tiếu vu bàng. Cảnh Công tuyết thế nhi cố Án Tử viết: “Quả nhân kim nhật chi du thành bi, Khổng dữ Cứ giai tòng quả nhân nhi khấp, tử chi độc tiếu, hà dã?” Án Tử đối viết: “Sử hiền giả thường thủ chi, tắc Thái Công, Hoàn Công tương thường thủ chi hĩ; sử dũng giả nhi thường thủ chi, tắc Linh Công, Trang Công tương thường thủ chi hĩ. Sổ quân giả tương thủ chi, ngô quân phương tương bị thoa lập nhi lập hồ khuyển mẫu chi trung, duy sự chi tuất, hà hà niệm tử hồ? Tắc ngô quân hựu an đắc thử vị nhi lập yên? Dĩ kỳ điệp xử chi điệp khứ chi, chí vu quân dã, nhi độc vi chi lưu thế, thị bất nhân dã. Kiến bất nhân chi quân, kiến siểm nịnh chi thần; thần kiến thử nhị giả, thần chi sở vi độc thiết tiếu dã.” Cảnh Công tàm yên, cử thương tự phạt; phạt nhị thần giả các nhị thương yên.","content_vi":"Cảnh Công nước Tề đi chơi núi Ngưu Sơn, trèo lên mặt thành, đứng ngắm trông rồi tràn nước mắt vừa khóc vừa nói:\n\n- Đẹp quá chừng là nước ta! Thật là sầm uất, thịnh vượng! Thế mà nỡ nào một tuổi một già bỏ nước này mà chết đi. Giả sử xưa nay, người ta cứ sống mãi, quả nhân quyết không bỏ nước Tề mà đi nơi khác.\n\nLã Sử Không, Lương Khưu Cứ thấy vua khóc cũng khóc và nói rằng:\n\n- Chúng tôi đội ơn vua có cơm rau mà ăn, có ngựa hèn, xe xấu mà cưỡi, cũng còn chẳng muốn chết, huống chi là nhà vua.\n\nMột mình Án Tử đứng bên cạnh cười.\n\nCảnh Công gạt nước mắt, ngoảnh lại hỏi Án Tử rằng:\n\n- Quả nhân hôm nay đi chơi thấy cảnh mà buồn. Không và Cứ đều theo quả nhân mà khóc, một mình nhà ngươi cười là cớ làm sao?\n\nÁn Tử thưa:\n\n- Nếu người giỏi mà giữ mãi được nước này thì Thái Công, Hoàn Công đã giữ mãi. Nếu người mạnh mà giữ được nước này, thì Linh Công, Trang Công đã giữ mãi. Mấy vua ấy mà giữ mãi thì vua nay chắc cũng mặc áo tơi, đội nón lá đứng giữa cánh đống lo việc làm ruộng, có được đâu chỗ này đứng, còn rỗi đâu mà lo đến cái chết. Chỉ vì hết đời này đến đời kia thay đổi mãi mới đến lượt nhà vua mà nhà vua lại than khóc thì thật là bất nhân. Nay tôi thấy vua bất nhân, lại thấy bầy tôi siểm nịnh nên tôi cười.\n\nCảnh Công nghe nói lấy làm thẹn, rót chén rượu tự phạt rồi phạt Không, Cứ mỗi người một chén.","loi_ban_vi":"Tham sinh là cái thói thường người đời. Nhưng cứ mong sống ở đời mãi, tiếc đời đến nỗi than thở khóc lóc như Cảnh Công đây cũng là tham quá.\n\nTrong vũ trụ, cái gì là có cái sinh mà không có diệt. Vậy đời người cũng phải chịu luật chung ấy, bé rồi lớn, lớn rồi già, già rồi chết, thấm thoắt có là bao.\n\nLẽ đó mà không hiểu, lại phải chả ngu lắm ư! Nên Án Tử cười Cảnh Công rất là phải lắm. Án Tử bác cả Sử Không và Lương Khưu Cứ lại là phải lắm nữa.\n\nThảm thương thay! Xưa nay những nước gặp phải vua ngu và bầy tôi a dua siểm nịnh!","giai_nghia":["Ngưu Sơn: tên núi ở huyện Lâm Chí, tỉnh Sơn Đông ngày nay","Lã Sử Không, Lương Khưu Cứ: cận thần của Cảnh Công","Án Tử: người nước Tề thời Xuân Thu, làm tướng vua Cảnh Công, ông là người kiệm phác, trung thành, giỏi việc chính sự có tiếng thời bấy giờ.","Thái Công, Hoàn Công, Linh Công, Trang Công: các bậc tiền quân của Cảnh Công","Tề Cảnh Công (齊景公): vua nước Tề thời Xuân Thu, trị vì từ năm 547 đến 490 TCN.","Ngưu Sơn (牛山): ngọn núi nằm ở phía nam kinh đô Lâm Tri của nước Tề.","Án Tử (晏子): tức Án Anh, danh tướng và chính trị gia nổi tiếng của nước Tề.","Sử Khổng (史孔) và Lương Khâu Cứ (梁丘據): hai đại phu nịnh thần của Tề Cảnh Công.","Thái Công (太公): tức Khương Tử Nha, người sáng lập nước Tề.","Hoàn Công (桓公): tức Tề Hoàn Công, vị vua bá chủ thời Xuân Thu.","Linh Công (靈公) và Trang Công (莊公): các vị vua trước của nước Tề.","Điệp xử điệp khứ (迭處迭去): lần lượt ở ngôi rồi lần lượt ra đi, chỉ sự thay đổi của các triều đại."],"tags":["Liệt Tử","Trí tuệ","Sự sống và cái chết","Châm biếm","Hiền tài"]},{"id":159,"title_vi":"HIẾU TỬ, TRUNG THẦN","title_zh_simp":"孝子忠臣","title_zh_trad":"孝子忠臣","title_pinyin":"Xiào zǐ zhōng chén","title_han_viet":"HIẾU TỬ, TRUNG THẦN","title_en":"A Filial Son and a Loyal Minister","source_book":"《漢書·王尊傳》","source_author":"班固","source_period":"东汉 (Đông Hán)","content_zh_simp":"王尊为益州刺史。先是，王阳为益州刺史，行部至邛郲九折阪，叹曰：“奉先人遗体，奈何数乘此险！”后以病去。及尊行部至其阪，问吏曰：“此非王阳所畏道邪？”吏对曰：“是。”尊叱其驭曰：“驱之！王阳为孝子，王尊为忠臣。”","content_zh_trad":"王尊為益州刺史。先是，王陽為益州刺史，行部至邛郲九折阪，嘆曰：「奉先人遺體，奈何數乘此險！」後以病去。及尊行部至其阪，問吏曰：「此非王陽所畏道邪？」吏對曰：「是。」尊叱其馭曰：「驅之！王陽為孝子，王尊為忠臣。」","content_pinyin":"Wáng Zūn wéi Yìzhōu cǐshǐ. Xiān shì, Wáng Yáng wéi Yìzhōu cǐshǐ, xíng bù zhì Qiónglái jiǔ zhé bǎn, tàn yuē: “Fèng xiānrén yítǐ, nài hé shù chéng cǐ xiǎn!” Hòu yǐ bìng qù. Jí Zūn xíng bù zhì qí bǎn, wèn lì yuē: “Cǐ fēi Wáng Yáng suǒ wèi dào xié?” Lì duì yuē: “Shì.” Zūn chì qí yù yuē: “Qū zhī! Wáng Yáng wéi xiào zǐ, Wáng Zūn wéi zhōng chén.”","content_han_viet":"Vương Tôn vi Ích Châu thứ sử. Tiên thị, Vương Dương vi Ích Châu thứ sử, hành bộ chí Kiung Lai cửu chiết phản, thán viết: “Phụng tiên nhân di thể, nại hà sác thặng thử hiểm!” Hậu dĩ bệnh khứ. Cập Tôn hành bộ chí kỳ phản, vấn lại viết: “Thử phi Vương Dương sở úy đạo da?” Lại đối viết: “Thị.” Tôn sất kỳ ngự viết: “Khu chi! Vương Dương vi hiếu tử, Vương Tôn vi trung thần.”","content_vi":"Vương Tôn được bổ làm Thứ sử châu Ích.\n\nQuan Thứ sử trước ở đây là Vương Dương, lúc đi kinh lược trong hàng châu, qua một đường núi rất cheo leo, than rằng:\n\n- Thân ta là thân của cha mẹ ta. Ta nỡ nào xông pha vào những nơi nguy hiểm này. Bèn quay lại, không đi rồi cáo bệnh về nhà.\n\nLúc Vương Tôn đến thay Vương Dương, đi tuần phòng, cũng phải qua con đường ấy, hỏi nha lại rằng:\n\n- Có phải con đường này là con đường quan Thứ sử trước sợ không dám đi không?\n\nNha lại thưa: Phải Vương Tông bảo xe cứ đi và nói rằng:\n\n- Vương Dương trước là người hiếu tử, Vương Tôn đây là người trung thần.","loi_ban_vi":"Đối với gia tộc, Hiếu là trọng; đối với quốc gia, Trung là quý. Người ta ở đời, đáng lẽ ai cũng phải cố giữ cho trọn cả Trung lẫn Hiếu. Nhưng khốn nỗi, có lắm cảnh ngộ khiến người ta khó mà giữ cho cả Trung lẫn Hiếu được lưỡng toàn; được Hiếu thì mất Trung, được Trung thì mất Hiếu.\n\nKể như bài này, Vương Dương vì gia tộc mà giữ thân cũng là phải, nhưng so với Vương Tôn thì Vương Tôn phải hơn. Vì cứ theo cái chủ nghĩa “ở đời thân ta không phải của riêng ta, lúc nhỏ là thân của cha mẹ lúc lớn là thân của quốc gia, lúc già là thân của thiên hạ, hậu thế trông mong vào đấy” thì lúc ta đã ra làm việc nước, chính là lúc thân ta thuộc về quốc gia, ta há lại còn tiếc mà không làm cho trọn vẹn nghĩa vụ của ta đối với quốc gia hay sao! Đã đem hết thân phụng sự tổ quốc, thì tổ quốc phải để trên hết, chính thế cũng là hiếu lắm, vì cha mẹ ta cũng kỳ vọng cho ta phải thế kia mà.","giai_nghia":["Thứ sử: chức quan cai trị một châu một quận đời cổ","Ích: tên một châu, tức là Tứ Xuyên đời nay","Kinh lược: đi xét qua việc trị an trong hạt mình cai trị","Nguy hiểm: cheo leo, không được yên ổn vững vàng","Cáo bệnh: có bệnh không làm được việc quan xin về nghỉ để chữa","Tuần phòng: đi tuần để phòng bị sự xảy ra","Nha lại: những người theo làm việc tại dinh các quan","Hiếu tử: người con ăn ở hết lòng với cha mẹ","Trung thần: bầy tôi hết lòng đem thân giúp vua, giúp nước","王尊 (Vương Tôn): Nhân vật chính, tự là Cống Sư (貢師), người đời Hán, nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, chính trực.","王陽 (Vương Dương): Quan Thứ sử trước của Ích Châu, nổi tiếng là người con hiếu thảo.","益州 (Ích Châu): Một châu lớn thời Hán, nay thuộc khu vực Tứ Xuyên, Trung Quốc.","九折阪 (Cửu chiết phản): Tên một con đường núi hiểm trở, quanh co gấp khúc nhiều lần, nay thuộc địa phận huyện Huỳnh Kinh, tỉnh Tứ Xuyên.","奉先人遗体 (Phụng tiên nhân di thể): Nghĩa là 'phụng dưỡng thân thể do tổ tiên, cha mẹ ban cho'. Quan niệm của người xưa cho rằng thân thể là do cha mẹ sinh ra, phải giữ gìn không để tổn hại, đó là biểu hiện của chữ Hiếu.","孝子 (Hiếu tử): Người con có hiếu.","忠臣 (Trung thần): Bề tôi trung thành với vua, tận tụy với nước."],"tags":["Hán Thư","Tiền Hán","Trung Hiếu","Lòng Trung","Đạo Hiếu","Nghĩa Vụ"]},{"id":160,"title_vi":"ĐỌC SÁCH CỔ","title_zh_simp":"轮扁斫轮","title_zh_trad":"輪扁斲輪","title_pinyin":"Lún Biǎn zhuó lún","title_han_viet":"LUÂN BIỂN TRÁC LUÂN","title_en":"The Wheelwright Bian Chisels a Wheel","source_book":"《莊子·天道》","source_author":"庄周 (Trang Chu)","source_period":"战国 (Chiến Quốc)","content_zh_simp":"桓公读书于堂上。轮扁斫轮于堂下，释椎凿而上，问桓公曰：“敢问，公之所读者何言邪？”公曰：“圣人之言也。”曰：“圣人在乎？”公曰：“已死矣。”曰：“然则君之所读者，古人之糟魄已夫！”桓公曰：“寡人读书，轮人安得议乎！有说则可，无说则死。”轮扁曰：“臣也以臣之事观之。斫轮，徐则甘而不固，疾则苦而不入。不徐不疾，得之于手而应于心，口不能言，有数存焉于其间。臣不能以喻臣之子，臣之子亦不能受之于臣，是以行年七十而老斫轮。古之人与其不可传也死矣，然则君之所读者，古人之糟魄已夫！”","content_zh_trad":"桓公讀書於堂上。輪扁斲輪於堂下，釋椎鑿而上，問桓公曰：「敢問，公之所讀者何言邪？」公曰：「聖人之言也。」曰：「聖人在乎？」公曰：「已死矣。」曰：「然則君之所讀者，古人之糟魄已夫！」桓公曰：「寡人讀書，輪人安得議乎！有說則可，無說則死。」輪扁曰：「臣也以臣之事觀之。斲輪，徐則甘而不固，疾則苦而不入。不徐不疾，得之於手而應於心，口不能言，有數存焉於其間。臣不能以喻臣之子，臣之子亦不能受之於臣，是以行年七十而老斲輪。古之人與其不可傳也死矣，然則君之所讀者，古人之糟魄已夫！」","content_pinyin":"Huán Gōng dúshū yú táng shàng. Lún Biǎn zhuó lún yú táng xià, shì chuí záo ér shàng, wèn Huán Gōng yuē: “Gǎn wèn, gōng zhī suǒ dú zhě hé yán xié?” Gōng yuē: “Shèngrén zhī yán yě.” Yuē: “Shèngrén zài hū?” Gōng yuē: “Yǐ sǐ yǐ.” Yuē: “Rán zé jūn zhī suǒ dú zhě, gǔrén zhī zāo pò yǐ fú!” Huán Gōng yuē: “Guǎrén dúshū, lún rén ān dé yì hū! Yǒu shuō zé kě, wú shuō zé sǐ.” Lún Biǎn yuē: “Chén yě yǐ chén zhī shì guān zhī. Zhuó lún, xú zé gān ér bù gù, jí zé kǔ ér bù rù. Bù xú bù jí, dé zhī yú shǒu ér yìng yú xīn, kǒu bù néng yán, yǒu shù cún yān yú qí jiān. Chén bù néng yǐ yù chén zhī zǐ, chén zhī zǐ yì bù néng shòu zhī yú chén, shì yǐ xíng nián qīshí ér lǎo zhuó lún. Gǔ zhī rén yǔ qí bù kě chuán yě sǐ yǐ, rán zé jūn zhī suǒ dú zhě, gǔrén zhī zāo pò yǐ fú!”","content_han_viet":"Hoàn Công độc thư vu đường thượng. Luân Biển trác luân vu đường hạ, thích chùy tạc nhi thướng, vấn Hoàn Công viết: “Cảm vấn, công chi sở độc giả hà ngôn da?” Công viết: “Thánh nhân chi ngôn dã.” Viết: “Thánh nhân tại hồ?” Công viết: “Dĩ tử hĩ.” Viết: “Nhiên tắc quân chi sở độc giả, cổ nhân chi tao phách dĩ phù!” Hoàn Công viết: “Quả nhân độc thư, luân nhân an đắc nghị hồ! Hữu thuyết tắc khả, vô thuyết tắc tử.” Luân Biển viết: “Thần dã dĩ thần chi sự quan chi. Trác luân, từ tắc cam nhi bất cố, tật tắc khổ nhi bất nhập. Bất từ bất tật, đắc chi vu thủ nhi ứng vu tâm, khẩu bất năng ngôn, hữu sổ tồn yên vu kỳ gian. Thần bất năng dĩ dụ thần chi tử, thần chi tử diệc bất năng thụ chi vu thần, thị dĩ hành niên thất thập nhi lão trác luân. Cổ chi nhân dữ kỳ bất khả truyền dã tử hĩ, nhiên tắc quân chi sở độc giả, cổ nhân chi tao phách dĩ phù!”","content_vi":"Vua Hoàn Công đọc sách ở nhà trên. Có người thợ mộc đang đẽo bánh xe ở nhà dưới, nghe tiếng đọc, bỏ chàng, **c chạy lên thưa vua rằng:\n\n- Cả dám hỏi nhà vua đọc những câu gì thế?\n\nHoàn Công nói: Những câu của Thánh nhân.\n\n- Thánh nhân hiện nay còn sống không?\n\n- Đã chết rồi.\n\n- Thế thì những câu nhà vua học chỉ là những tao phách của cổ nhân đấy thôi.\n\n- À anh thợ! Ta đang đọc sách, sao dám được nghị luận? Hễ nói có lý thì ta tha, không có lý thì ta bắt tội.\n\nNgười thợ mộc nói:\n\n- Tôi đây cứ lấy việc tôi làm mà suy xét, khi đẽo cái bánh xe, để rộng thì mộng cho vào dễ, nhưng không chặt; để hẹp thì mộng cho vào khó, và không ăn. Còn làm không rộng, không hẹp, vừa vặn đúng mực thì thật tự tâm tôi liệu mà nẩy ra tay tôi làm, như đã có cái phép nhất định, chớ miệng tôi không thể nói ra được. Cái khéo ấy tôi không có thể dạy được cho con tôi, con tôi cũng không thể học được tôi. Bởi thế tôi năm nay đã bảy mươi tuổi mà vẫn giữ nghề đẽo bánh xe.\n\nNgười đời cổ đã chết, thì cái hay của người đời cổ khó truyền lại được, tưởng cũng đã chết cả rồi. Thế thì những câu nhà vua học thật chỉ là những tao phách của cổ nhân mà thôi.\n\nVua cho người thợ mộc nói là phải.","loi_ban_vi":"Đọc sách cũng như xem người, xem người mà cứ câu nệ hình, sắc, danh, thanh thì không bao giờ biết rõ được “tình” người, mà có khi lại phải người ta làm cho ngu nữa. Ta học mà cứ bo bo ở ngôn ngữ, văn tự thì bao giờ biết hết được ý sách, vì cái hay nhiều khi miệng không thể nói ra được, bút không thể tả hết được. Ta đọc sách mà tâm ta không lĩnh hội được cái ý ở ngoài câu nói của cổ nhân, thì ta không thể tu kỷ, không thể trì nhân được, chẳng qua chỉ làm cho loạn cái tính của ta mà thôi. Những kẻ hay mượn bã giả của cổ nhân để buông ra những học thuyết dông dài làm ra sách vở để dạy đời, ta tưởng cũng lầm lắm.\n\nTrong bài này, ý Trang Tử cũng như ý Tuân Tử muốn phản kháng lại cái lỗi học của đời bấy giờ, chỉ biết lấy “cổ” làm cốt mà bỏ quên mất cái “kim” chỉ biết cho những thánh nhân như Nghiêu, Thuấn…tự đời nào là phải, chứ không cho người chính thời nay còn được địa vị nào nữa. Như thế không khỏi gọi là thiên vậy. Câu nói của người lao công này chính xác và thực tế lắm.\n\nNgười đi học chỉ chuộng hư văn, không có thực học tưởng cũng thẹn lắm thay!","giai_nghia":["Hoàn Công: vua giỏi nước Tề thời Xuân Thu","轮扁 (Luân Biển): Một người thợ đóng xe tên là Biển. 'Luân' (輪) nghĩa là bánh xe, 'Biển' (扁) là tên riêng.","桓公 (Hoàn Công): Chỉ Tề Hoàn Công (齊桓公), vua nước Tề thời Xuân Thu, một trong Ngũ Bá.","堂上 (Đường thượng): Trên nhà chính, nơi trang trọng. 堂下 (Đường hạ): Dưới nhà chính, nơi làm việc của người hầu, thợ thuyền.","糟魄 (Tao phách): Cũng viết là 糟粕 (tao bạc), nghĩa là bã rượu và cám, dùng để chỉ những thứ cặn bã, vô dụng, không phải là tinh túy.","斫轮 (Trác luân): Đẽo bánh xe. Đây là một nghề thủ công đòi hỏi kỹ thuật và kinh nghiệm cao.","得之于手而应于心 (Đắc chi vu thủ nhi ứng vu tâm): Đạt được ở tay mà ứng đáp ở lòng. Chỉ sự thành thạo đến mức tay và tâm hoàn toàn nhất quán, một kỹ năng điêu luyện khó diễn tả bằng lời."],"tags":["Trang Tử","Chiến Quốc","Triết Lý","Đạo Giáo","Học Thuật","Kinh Nghiệm","Ngụ Ngôn"]},{"id":161,"title_vi":"MẤT DÊ","title_zh_simp":"亡羊","title_zh_trad":"亡羊","title_pinyin":"Wáng Yáng","title_han_viet":"VONG DƯƠNG","title_en":"The Lost Sheep","source_book":"《列子·說符》","source_author":"列禦寇 (Liệt Ngự Khấu)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"杨子之邻人亡羊，既率其党，又请杨子之竖追之。杨子曰：“嘻！亡一羊，何追者之众？”邻人曰：“多歧路。”既反，问：“获羊乎？”曰：“亡之矣。”曰：“奚亡之？”曰：“歧路之中又有歧焉，吾不知所之，所以反也。”杨子戚然变容，不言者移时，不笑者竟日。门人怪之，请曰：“羊，贱畜，又非夫子之有，而损言笑者何哉？”杨子不答。门人不获所命。弟子孟孙阳出，以告心都子。心都子他日与孟孙阳偕入，而问曰：“昔有昆弟三人，游齐鲁之间，同师而学，进仁义之道而归。其父曰：‘仁义之道若何？’伯曰：‘仁义使我爱身而后名。’仲曰：‘仁义使我杀身以成名。’叔曰：‘仁义使我身名并全。’彼三术相反，而同出于儒。孰是孰非邪？”杨子曰：“人有滨河而居者，习于水，勇于泅，操舟鬻渡，利供百口。裹粮就学者成徒，而溺死者几半。本学泅，不学溺，而利害如此。若以为孰是孰非？”心都子嘿然而出。孟孙阳退，问曰：“昔人有言：知者不惑，仁者不忧，勇者不惧。今夫子之问，何谓也？”杨子曰：“吾尝闻之：大道以多歧亡羊，学者以多方丧生。学非本不同，非本不一，而末异若是。唯归同反一，为亡得丧。子长先生之门，习先生之道，而不达先生之况也，哀哉！","content_zh_trad":"楊子之鄰人亡羊，既率其黨，又請楊子之豎追之。楊子曰：“嘻！亡一羊，何追者之眾？”鄰人曰：“多歧路。”既反，問：“獲羊乎？”曰：“亡之矣。”曰：“奚亡之？”曰：“歧路之中又有歧焉，吾不知所之，所以反也。”楊子慼然變容，不言者移時，不笑者竟日。門人怪之，請曰：“羊，賤畜，又非夫子之有，而損言笑者何哉？”楊子不答。門人不獲所命。弟子孟孫陽出，以告心都子。心都子他日與孟孫陽偕入，而問曰：“昔有昆弟三人，游齊魯之間，同師而學，進仁義之道而歸。其父曰：‘仁義之道若何？’伯曰：‘仁義使我愛身而後名。’仲曰：‘仁義使我殺身以成名。’叔曰：‘仁義使我身名並全。’彼三術相反，而同出於儒。孰是孰非邪？”楊子曰：“人有濱河而居者，習於水，勇於泅，操舟鬻渡，利供百口。裹糧就學者成徒，而溺死者幾半。本學泅，不學溺，而利害如此。若以為孰是孰非？”心都子嘿然而出。孟孫陽退，問曰：“昔人有言：知者不惑，仁者不憂，勇者不懼。今夫子之問，何謂也？”楊子曰：“吾嘗聞之：大道以多歧亡羊，學者以多方喪生。學非本不同，非本不一，而末異若是。唯歸同反一，為亡得喪。子長先生之門，習先生之道，而不達先生之況也，哀哉！","content_pinyin":"Yáng zǐ zhī lín rén wáng yáng, jì lǜ qí dǎng, yòu qǐng Yáng zǐ zhī shù zhuī zhī. Yáng zǐ yuē: \"Xī! Wáng yī yáng, hé zhuī zhě zhī zhòng?\" Lín rén yuē: \"Duō qí lù.\" Jì fǎn, wèn: \"Huò yáng hū?\" Yuē: \"Wáng zhī yǐ.\" Yuē: \"Xī wáng zhī?\" Yuē: \"Qí lù zhī zhōng yòu yǒu qí yān, wú bù zhī suǒ zhī, suǒ yǐ fǎn yě.\" Yáng zǐ qī rán biàn róng, bù yán zhě yí shí, bù xiào zhě jìng rì. Mén rén guài zhī, qǐng yuē: \"Yáng, jiàn chù, yòu fēi fū zǐ zhī yǒu, ér sǔn yán xiào zhě hé zāi?\" Yáng zǐ bù dá. Mén rén bù huò suǒ mìng. Dì zǐ Mèng Sūn Yáng chū, yǐ gào Xīn Dōu zǐ. Xīn Dōu zǐ tā rì yǔ Mèng Sūn Yáng xié rù, ér wèn yuē: \"Xī yǒu kūn dì sān rén, yóu Qí Lǔ zhī jiān, tóng shī ér xué, jìn rén yì zhī dào ér guī. Qí fù yuē: 'Rén yì zhī dào ruò hé?' Bó yuē: 'Rén yì shǐ wǒ ài shēn ér hòu míng.' Zhòng yuē: 'Rén yì shǐ wǒ shā shēn yǐ chéng míng.' Shū yuē: 'Rén yì shǐ wǒ shēn míng bìng quán.' Bǐ sān shù xiāng fǎn, ér tóng chū yú Rú. Shú shì shú fēi xié?\" Yáng zǐ yuē: \"Rén yǒu bīn hé ér jū zhě, xí yú shuǐ, yǒng yú qiú, cāo zhōu yù dù, lì gōng bǎi kǒu. Guǒ liáng jiù xué zhě chéng tú, ér nì sǐ zhě jǐ bàn. Běn xué qiú, bù xué nì, ér lì hài rú cǐ. Ruò yǐ wéi shú shì shú fēi?\" Xīn Dōu zǐ mò rán ér chū. Mèng Sūn Yáng tuì, wèn yuē: \"Xī rén yǒu yán: zhī zhě bù huò, rén zhě bù yōu, yǒng zhě bù jù. Jīn fū zǐ zhī wèn, hé wèi yě?\" Yáng zǐ yuē: \"Wú cháng wén zhī: dà dào yǐ duō qí wáng yáng, xué zhě yǐ duō fāng sàng shēng. Xué fēi běn bù tóng, fēi běn bù yī, ér mò yì ruò shì. Wéi guī tóng fǎn yī, wèi wáng dé sàng. Zǐ cháng xiān shēng zhī mén, xí xiān shēng zhī dào, ér bù dá xiān shēng zhī kuàng yě, āi zāi!","content_han_viet":"Dương tử chi lân nhân vong dương, ký suất kỳ đảng, hựu thỉnh Dương tử chi thụ truy chi. Dương tử viết: “Hi! Vong nhất dương, hà truy giả chi chúng?” Lân nhân viết: “Đa kỳ lộ.” Ký phản, vấn: “Hoạch dương hồ?” Viết: “Vong chi hĩ.” Viết: “Hề vong chi?” Viết: “Kỳ lộ chi trung hựu hữu kỳ yên, ngô bất tri sở chi, sở dĩ phản dã.” Dương tử thích nhiên biến dung, bất ngôn giả di thời, bất tiếu giả cánh nhật. Môn nhân quái chi, thỉnh viết: “Dương, tiện súc, hựu phi phu tử chi hữu, nhi tổn ngôn tiếu giả hà tai?” Dương tử bất đáp. Môn nhân bất hoạch sở mệnh. Đệ tử Mạnh Tôn Dương xuất, dĩ cáo Tâm Đô tử. Tâm Đô tử tha nhật dữ Mạnh Tôn Dương giai nhập, nhi vấn viết: “Tích hữu huynh đệ tam nhân, du Tề Lỗ chi gian, đồng sư nhi học, tiến nhân nghĩa chi đạo nhi quy. Kỳ phụ viết: ‘Nhân nghĩa chi đạo nhược hà?’ Bá viết: ‘Nhân nghĩa sử ngã ái thân nhi hậu danh.’ Trọng viết: ‘Nhân nghĩa sử ngã sát thân dĩ thành danh.’ Thúc viết: ‘Nhân nghĩa sử ngã thân danh tịnh toàn.’ Bỉ tam thuật tương phản, nhi đồng xuất vu Nho. Thục thị thục phi tà?” Dương tử viết: “Nhân hữu tân hà nhi cư giả, tập vu thủy, dũng vu cầu, thao chu dục độ, lợi cung bách khẩu. Quả lương tựu học giả thành đồ, nhi nịch tử giả kỷ bán. Bổn học cầu, bất học nịch, nhi lợi hại như thử. Nhược dĩ vi thục thị thục phi?” Tâm Đô tử mặc nhiên nhi xuất. Mạnh Tôn Dương thoái, vấn viết: “Tích nhân hữu ngôn: trí giả bất hoặc, nhân giả bất ưu, dũng giả bất cụ. Kim phu tử chi vấn, hà vị dã?” Dương tử viết: “Ngô thường văn chi: đại đạo dĩ đa kỳ vong dương, học giả dĩ đa phương táng sinh. Học phi bổn bất đồng, phi bổn bất nhất, nhi mạt dị nhược thị. Duy quy đồng phản nhất, vi vong đắc táng. Tử trường tiên sinh chi môn, tập tiên sinh chi đạo, nhi bất đạt tiên sinh chi huống dã, ai tai!","content_vi":"Người láng giềng nhà Dương Chu mất một con dê, đã sai hết cả người nhà đi tìm, lại sang nói với Dương Chu mượn người nhà cho đi tìm hộ.\n\nDương Chu nói: Ôi! Sao có mất một con dê mà cho những bao nhiêu người đi tìm?\n\nNgười láng giềng đáp: Vì đường có lắm “ngã ba”.\n\nKhi các người đi tìm dê đã về, Dương Chu hỏi:\n\n- Có tìm thấy dê không?\n\nNgười láng giềng đáp:\n\n- Không\n\n- Sao lại không tìm thấy?\n\n- Tại đường đã lắm ngã ba, theo các ngã ba đi một chốc lại có nhiều ngã ba khác. Thành không biết đi vào đường nào để tìm thấy dê, phải chịu về không cả.\n\nẤy đường cái chỉ vì lắm ngã ba mà dê mất không tìm thấy. Người đi học cũng vậy, chỉ vì dễ mê muội mà mất cả lương tâm.","loi_ban_vi":"Người đi học mà không suy xét cho tinh, cái gì cũng tham muốn cả thì không bao giờ học cho thực đến nơi đến chốn được! Vì cái tâm con người có một, cái sức hoạt động của người cũng có hạn nên phân tán ra nhiều nơi, dùng sự hoạt động vào nhiều loại, tuy rằng học nhiều biết nhiều thật, nhưng chẳng qua chỉ hời hợt trên mặt, gọi là biết qua loa chút ít thôi. Sao cho bằng chỉ chuyên tâm học về một mặt nào, mà học cho đến cùng kỳ sự học, sự biết mới là chắc chắn sâu xa và có giá trị vậy. Sự học cũng như nhiều sự khác quí hồ tinh bất quí hồ đa.","giai_nghia":["Dương Chu: người thời Chiến Quốc, xướng lên học thuyết “vị ngã” trái với học thuyết “kiêm ái” của Khổng Tử.","Dương Tử (楊子): Tức Dương Chu (楊朱), triết gia thời Chiến Quốc, nổi tiếng với thuyết 'vị ngã' (爱己, yêu mình).","Vong dương (亡羊): Mất con dê. 'Vong' (亡) nghĩa là mất, trốn thoát.","Đa kỳ lộ (多歧路): Nhiều đường rẽ, nhiều ngã rẽ. 'Kỳ' (歧) là đường rẽ.","Thích nhiên biến dung (慼然變容): Vẻ mặt buồn bã, đổi sắc mặt. 'Thích' (慼) là buồn rầu.","Mạnh Tôn Dương (孟孫陽) và Tâm Đô tử (心都子): Là học trò của Dương Tử.","Đại đạo dĩ đa kỳ vong dương, học giả dĩ đa phương táng sinh (大道以多歧亡羊，學者以多方喪生): Đại đạo vì nhiều ngả mà mất dê, kẻ học vì nhiều phương hướng mà hại thân. Đây là câu kết luận quan trọng nhất của truyện, nêu lên bài học về sự chuyên nhất trong học thuật và cuộc sống."],"tags":["Liệt Tử","Dương Chu","Ngụ ngôn","Học thuật","Chuyên nhất","Đa nguyên","Triết lý"]},{"id":162,"title_vi":"THỰC HỌC","title_zh_simp":"实学","title_zh_trad":"實學","title_pinyin":"Shí Xué","title_han_viet":"THỰC HỌC","title_en":"Practical Learning","source_book":"《朱子語類》","source_author":"朱熹 (Chu Hy)","source_period":"Nam Tống","content_zh_simp":"天下万事，皆有个实理。做须是实做，不可慕虚名。天下万言，皆有个妙理。说须是实说，不可妄言。天下万物，皆有个至理。若不穷究此理，则见易差而至于昏惑。天下万人，皆有个处法。若不知所以处，则处易乖而至于厌憎。为学者，须是学做实事，学说实话，学处人伦物理。学只是学这个。无处非学，无时非学，无念非学。须是学得彻，不可学得半上落下。须是学得成，不可学得自足自满。如此，方可谓之学者。","content_zh_trad":"天下萬事，皆有箇實理。做須是實做，不可慕虛名。天下萬言，皆有箇妙理。說須是實說，不可妄言。天下萬物，皆有箇至理。若不窮究此理，則見易差而至於昏惑。天下萬人，皆有箇處法。若不知所以處，則處易乖而至於厭憎。為學者，須是學做實事，學說實話，學處人倫物理。學只是學這箇。無處非學，無時非學，無念非學。須是學得徹，不可學得半上落下。須是學得成，不可學得自足自滿。如此，方可謂之學者。","content_pinyin":"Tiānxià wànshì, jiē yǒu gè shí lǐ. Zuò xū shì shí zuò, bùkě mù xūmíng. Tiānxià wàn yán, jiē yǒu gè miào lǐ. Shuō xū shì shí shuō, bùkě wàng yán. Tiānxià wànwù, jiē yǒu gè zhì lǐ. Ruò bù qióngjiū cǐ lǐ, zé jiàn yì chà ér zhì yú hūnhuò. Tiānxià wàn rén, jiē yǒu gè chù fǎ. Ruò bù zhī suǒyǐ chù, zé chù yì guāi ér zhì yú yàn zēng. Wéi xué zhě, xū shì xué zuò shí shì, xué shuō shíhuà, xué chù rénlún wùlǐ. Xué zhǐshì xué zhège. Wú chù fēi xué, wú shí fēi xué, wú niàn fēi xué. Xū shì xué dé chè, bùkě xué dé bàn shàng luò xià. Xū shì xué dé chéng, bùkě xué dé zìzú zìmǎn. Rúcǐ, fāng kě wèi zhī xué zhě.","content_han_viet":"Thiên hạ vạn sự, giai hữu cá thực lý. Tố tu thị thực tố, bất khả mộ hư danh. Thiên hạ vạn ngôn, giai hữu cá diệu lý. Thuyết tu thị thực thuyết, bất khả vọng ngôn. Thiên hạ vạn vật, giai hữu cá chí lý. Nhược bất cùng cứu thử lý, tắc kiến dị sai nhi chí vu hôn hoặc. Thiên hạ vạn nhân, giai hữu cá xử pháp. Nhược bất tri sở dĩ xử, tắc xử dị quai nhi chí vu yếm tăng. Vi học giả, tu thị học tố thực sự, học thuyết thực thoại, học xử nhân luân vật lý. Học chỉ thị học giá cá. Vô xứ phi học, vô thời phi học, vô niệm phi học. Tu thị học đắc triệt, bất khả học đắc bán thượng lạc hạ. Tu thị học đắc thành, bất khả học đắc tự túc tự mãn. Như thử, phương khả vị chi học giả.","content_vi":"Hết thảy mọi việc, việc gì cũng có tình hình thực sự. Làm thì làm thực sự, chớ vụ hư danh.\n\nHết thảy câu nói, câu gì cũng có điểm mầu nhiệm. Nói thì nói cho ra nói, chớ vọng ngôn.\n\nHết thảy mọi vật, mỗi vật có cái lý rất phải. Nếu không hiểu rõ lý ấy, thì nhận xét dễ sai lầm mà thành mê muội.\n\nHết thảy mọi người, mỗi người ta có một cách để cư xử đối phó, nếu không biết xử thì dễ sinh ra bất hòa, rồi chán ghét nhau.\n\nNgười đi học cần cái gì, chỉ cần học làm cho có sự thật, học nói cho khỏi vọng ngôn, học xử với mọi người cho phải…Học chỉ học thế thôi. Không chỗ nào không phải là chỗ học, không lúc nào không phải là lúc học, không tâm niệm nào không phải là tâm niệm để học. Cố học cho được hiểu trọn vẹn, chớ hiểu dở dang, cố học cho kỳ được, học cho đến nơi đến chốn, chớ có tự mãn tự túc. Thế mới đáng gọi là người học giả.\n\nKhuyết Danh","loi_ban_vi":"Thực học là lối học thực tế, học cho mở mang trí thức, học cho dầy dặn năng lực, để thành tài để ra người, để làm người hữu dụng: Nhỏ thì hữu dụng cho xã hội, to thì hữu dụng cho quốc gia, cho thiên hạ.\n\nThực học trái người với lối học hư văn là lối tục học, phù hoa khinh bạc, lòe đời nịnh đời, chỉ tổ tự hại và hại tha, tuyệt không có gì là hữu dụng cả.\n\nThế cho nên người đi học thì nhiều, người hữu dụng thì ít; đời mới than phiền: “hiếm nhân tài!”.","giai_nghia":["Thực lý (實理): Cái lý thực tế, chân thực của sự vật, hiện tượng.","Vọng ngôn (妄言): Nói bậy, nói không đúng sự thật, nói càn.","Chí lý (至理): Đạo lý tột cùng, sâu xa nhất.","Xử pháp (處法): Phương pháp, cách thức đối nhân xử thế.","Hôn hoặc (昏惑): Mê muội, không sáng suốt.","Yếm tăng (厭憎): Chán ghét, căm ghét.","Học giả (學者): Người đi học, người nghiên cứu học vấn."],"tags":["Chu Hy","Tống Nho","Thực học","Tu dưỡng","Triết lý giáo dục","Chân thực"]},{"id":163,"title_vi":"ĐÂY MỚI THẬT LÀ THẦY","title_zh_simp":"此方真师","title_zh_trad":"此方真師","title_pinyin":"Cǐ fāng zhēn shī","title_han_viet":"THỬ PHƯƠNG CHÂN SƯ","title_en":"This Is the True Teacher","source_book":"《魏書·徐遵明傳》","source_author":"Ngụy Thư (Ngụy Thâu)","source_period":"Bắc Tề","content_zh_simp":"徐遵明，华阴人，身长八尺，幼孤，好学。年十七，随毛灵和诣山东，从王聪受学。期年辞归。后游燕赵，复师事张吾贵。吾贵门徒甚众。遵明用心数月，乃私谓其友曰：“吾师名重当世，然义理未贯。凡所讲说，多不惬吾心。吾欲更求师。”遂与田猛略同赴范阳，受业于孙买德。然居一年，复欲去。猛略谓遵明曰：“君年少从师，每不终业，今兹去彼，复往何所？千里负笈，恐难有成。”遵明曰：“吾今方知真师所在。”猛略问：“何在？”遵明指心曰：“此即是也。”自尔遵明独学，覃思竭虑，六年不出户。倦则鼓琴以自娱。后为大儒。","content_zh_trad":"徐遵明，華陰人，身長八尺，幼孤，好學。年十七，隨毛靈和詣山東，從王聰受學。期年辭歸。後游燕趙，復師事張吾貴。吾貴門徒甚眾。遵明用心數月，乃私謂其友曰：「吾師名重當世，然義理未貫。凡所講說，多不愜吾心。吾欲更求師。」遂與田猛略同赴范陽，受業於孫買德。然居一年，復欲去。猛略謂遵明曰：「君年少從師，每不終業，今茲去彼，復往何所？千里負笈，恐難有成。」遵明曰：「吾今方知真師所在。」猛略問：「何在？」遵明指心曰：「此即是也。」自爾遵明獨學，覃思竭慮，六年不出戶。倦則鼓琴以自娛。後為大儒。","content_pinyin":"Xú Zūnmíng, Huáyīn rén, shēn cháng bā chǐ, yòu gū, hào xué. Nián shíqī, suí Máo Línghé yì Shāndōng, cóng Wáng Cōng shòu xué. Jī nián cí guī. Hòu yóu Yān Zhào, fù shī shì Zhāng Wúguì. Wúguì méntú shèn zhòng. Zūnmíng yòngxīn shù yuè, nǎi sī wèi qí yǒu yuē: “Wú shī míng zhòng dāngshì, rán yìlǐ wèi guàn. Fán suǒ jiǎngshuō, duō bù qiè wú xīn. Wú yù gèng qiú shī.” Suì yǔ Tián Měnglüè tóng fù Fànyáng, shòuyè yú Sūn Mǎidé. Rán jū yī nián, fù yù qù. Měnglüè wèi Zūnmíng yuē: “Jūn niánshào cóng shī, měi bù zhōng yè, jīn zī qù bǐ, fù wǎng hé suǒ? Qiānlǐ fù jí, kǒng nán yǒu chéng.” Zūnmíng yuē: “Wú jīn fāng zhī zhēn shī suǒzài.” Měnglüè wèn: “Hé zài?” Zūnmíng zhǐ xīn yuē: “Cǐ jí shì yě.” Zì ěr Zūnmíng dú xué, tán sī jié lǜ, liù nián bù chū hù. Juàn zé gǔ qín yǐ zì yú. Hòu wèi dà rú.","content_han_viet":"Từ Tuân Minh, Hoa Âm nhân, thân trường bát xích, ấu cô, hiếu học. Niên thập thất, tuỳ Mao Linh Hoà nghệ Sơn Đông, tòng Vương Thông thụ học. Kỳ niên từ quy. Hậu du Yên, Triệu, phục sư sự Trương Ngô Quý. Ngô Quý môn đồ thậm chúng. Tuân Minh dụng tâm sổ nguyệt, nãi tư vị kỳ hữu viết: “Ngô sư danh trọng đương thế, nhiên nghĩa lý vị quán. Phàm sở giảng thuyết, đa bất khiếp ngô tâm. Ngô dục cánh cầu sư.” Toại dữ Điền Mãnh Lược đồng phó Phạm Dương, thụ nghiệp vu Tôn Mãi Đức. Nhiên cư nhất niên, phục dục khứ. Mãnh Lược vị Tuân Minh viết: “Quân niên thiếu tòng sư, mỗi bất chung nghiệp, kim tư khứ bỉ, phục vãng hà sở? Thiên lý phụ cấp, khủng nan hữu thành.” Tuân Minh viết: “Ngô kim phương tri chân sư sở tại.” Mãnh Lược vấn: “Hà tại?” Tuân Minh chỉ tâm viết: “Thử tức thị dã.” Tự nhĩ Tuân Minh độc học, đàm tư kiệt lự, lục niên bất xuất hộ. Quyện tắc cổ cầm dĩ tự ngu. Hậu vi đại nho.","content_vi":"Từ Tuân Minh, người ở Hoa Âm, thân thể to lớn, mồ côi từ thuở nhỏ, tính hiếu học, mười bảy tuổi theo Mao Linh Hòa sang học Vương Thông ở Sơn Đông. Học một năm thì từ biệt. Rồi sang Yên, Triệu lại học ông Trương Ngô Quý. Học trò ông Ngô Quý rất đông. Tuân Minh dụng tâm học vài tháng sau nói chuyện riêng với bạn học rằng:\n\n- Thầy ta đây danh tiếng lẫy lừng, song nghĩa lý không được quán triệt.\n\nPhàm những câu ngoài giảng thuyết, phần nhiều nghe chẳng được thỏa tâm ta. Ta muốn tìm thầy khác.\n\nRồi bèn cùng Điền Mãnh Lược sang Phạm Dương thụ nghiệp ông Tôn Mãi Đức. Nhưng học vừa được một năm, lại muốn bỏ đi, Lược bảo Tuân Minh rằng:\n\n- Anh tuổi còn trẻ, theo thầy học hành, chẳng chịu chuyên học một thầy, cứ nay thầy này, mai thầy khác, nay đến tìm, mai bỏ đi, nghìn dặm xa xôi, sách vở mang cắp, học hành như vậy sợ không thành được.\n\nTuân Minh nói: Ta nay mới biết chỗ ở của ông thầy đích thật là ông thầy.\n\nMãnh Lược hỏi: Ở đâu?\n\nTuân Minh chỉ vào “tâm” nói: Đây, chính ở chỗ này.\n\nRồi tự bấy giờ Tuân Minh học lấy một mình, hết sức suy nghĩ, sáu năm không ra khỏi nhà. Khi mỏi mệt thường đàn địch để di dưỡng tình hình. Sau thành một bậc đại nho.","loi_ban_vi":"Học cần phải có thầy, cần phải có sách, đó là lẽ thường, ai đi học cũng khó vượt được hai điểm ấy. Song khi học đã cao, nhất là về mặt tâm học, bảo muốn tìm cho được thực có thấy giỏi để thụ nghiệp, không phải là dễ. Bấy giờ tất nhiên phải như Từ Tuân Minh đây, lấy “tâm” làm thầy là hơn cả. Vì cội rễ muôn nghìn điều phải, điều lành đều do ở tâm. Đem tâm chính trực trị tâm gian tà, đem tâm trung hậu trị tâm bạc ác, đem tâm cần lao trị tâm lười biếng...\n\nHọc thế nào cho tâm được thư thái, tâm được yêu thỏa, tâm được quang minh như gương sáng trong, nước im lặng, ngoại vật lại chẳng loạn được tâm, ngoại vật đi chẳng lưu lại ở tâm thế mới gọi là có tâm học vậy.","giai_nghia":["Từ Tuân Minh: một bậc đại nho thời Hậu Ngụy Mao Linh Hòa, Vương Thông, Trương Ngô Quý, Điền Mãnh Lược, Tôn","Mãi Đức: cũng là mấy bực đại nho thời bấy giờ.","Chú thích 1: Hoa Âm (華陰) - nay thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc.","Chú thích 2: Yên, Triệu (燕趙) - chỉ vùng đất thuộc các nước Yên và Triệu thời Chiến Quốc, nay thuộc Hà Bắc, Sơn Tây.","Chú thích 3: Đàn địch (彈琴) - gảy đàn, ở đây chỉ việc dùng âm nhạc để thư giãn tinh thần.","Chú thích 4: Đại nho (大儒) - bậc học giả Nho học lớn, có uy tín và kiến thức uyên thâm."],"tags":["Tâm học","Tự học","Cầu học","Nho giáo"]},{"id":164,"title_vi":"BỎ QUÊN CON SINH","title_zh_simp":"忘牲","title_zh_trad":"忘牲","title_pinyin":"Wàng shēng","title_han_viet":"VONG SINH","title_en":"Forgetting the Sacrificial Animal","source_book":"《家語》","source_author":"Vương Túc (giả thác Khổng Tử)","source_period":"Ngụy Tấn","content_zh_simp":"公索氏将祭，而忘其牲。孔子闻之，曰：“公索氏不及二年，必亡。”后一年，而公索氏果亡。门人问曰：“昔公索氏将祭，而忘其牲，夫子曰：‘不及二年，必亡。’今果亡，敢问何故？”孔子曰：“祭者，孝子所以竭意尽慎也。将祭而忘其牲，则其余所遗忘者多矣。若此而不亡，未之有也。”","content_zh_trad":"公索氏將祭，而忘其牲。孔子聞之，曰：「公索氏不及二年，必亡。」後一年，而公索氏果亡。門人問曰：「昔公索氏將祭，而忘其牲，夫子曰：『不及二年，必亡。』今果亡，敢問何故？」孔子曰：「祭者，孝子所以竭意盡慎也。將祭而忘其牲，則其餘所遺忘者多矣。若此而不亡，未之有也。」","content_pinyin":"Gōngsuǒ shì jiāng jì, ér wàng qí shēng. Kǒngzǐ wén zhī, yuē: “Gōngsuǒ shì bù jí èr nián, bì wáng.” Hòu yī nián, ér Gōngsuǒ shì guǒ wáng. Ménrén wèn yuē: “Xī Gōngsuǒ shì jiāng jì, ér wàng qí shēng, fūzǐ yuē: ‘Bù jí èr nián, bì wáng.’ Jīn guǒ wáng, gǎn wèn hé gù?” Kǒngzǐ yuē: “Jì zhě, xiào zǐ suǒyǐ jié yì jìn shèn yě. Jiāng jì ér wàng qí shēng, zé qí yú suǒ yíwàng zhě duō yǐ. Ruò cǐ ér bù wáng, wèi zhī yǒu yě.”","content_han_viet":"Công Sách thị tương tế, nhi vong kỳ sinh. Khổng Tử văn chi, viết: “Công Sách thị bất cập nhị niên, tất vong.” Hậu nhất niên, nhi Công Sách thị quả vong. Môn nhân vấn viết: “Tích Công Sách thị tương tế, nhi vong kỳ sinh, phu tử viết: ‘Bất cập nhị niên, tất vong.’ Kim quả vong, cảm vấn hà cố?” Khổng Tử viết: “Tế giả, hiếu tử sở dĩ kiệt ý tận thận dã. Tương tế nhi vong kỳ sinh, tắc kỳ dư sở di vong giả đa hĩ. Nhược thử nhi bất vong, vị chi hữu dã.”","content_vi":"Họ Công Sách sắp tế. Trong các lễ vật bỏ quên không đặt con sinh. Đức Khổng Tử nghe thấy chuyện nói rằng:\n\nTrong hai năm nữa, họ Công Sách thế nào cũng mất quan.\n\nNăn sau, họ Công Sách quả nhiên mất quan thật.\n\nMôn nhân hỏi rằng:\n\nTrước họ Công Sách sắp tế bỏ quên con sinh mà thầy nói trong hai năm nữa thì mất quan, nay sự quả nhiên. Dám hỏi vì lẽ gì mà thầy biết trước như vậy?\n\nĐức Khổng Tử nói:\n\nViệc tế là việc người con có hiếu tỏ hết lòng thương nhớ cha mẹ mà lúc sắp tế, bỏ quên con sinh thì các công việc khác bỏ quên, bỏ sót chắc nhiều lắm. Như thế mà không mất quan thì không có lý.","loi_ban_vi":"Việc tế lễ là nơi con người bày tỏ lòng thành kính và sự trọn vẹn đối với tổ tiên. Một kẻ sơ suất ngay cả trong việc trọng đại như vậy, thì sự cẩu thả, thiếu trách nhiệm đã ăn sâu vào bản chất, khó lòng giữ vững được chức phận của mình. Cho nên, người quân tử xưa nay luôn xem trọng sự cẩn thận trong từng chi tiết nhỏ, bởi lẽ nó phản ánh phẩm hạnh và tiền đồ của một con người.","giai_nghia":[": Công Sách: học trò một ông quan đời Xuân Thu.","Lời bàn: Việc tế lễ là việc rất thận trọng, tức là việc giao tế thần minh. Chỉ có người tận tâm và tận thành thì mới cảm cách được, con sinh là lễ vất rất thiết yếu, mà đến lúc tế, lại bỏ quên cả con sinh thì sự sơ suất không phải là nhỏ vậy. Người như thế không thành tâm, công việc như thế là công việc không chu đáo. Xét một sự mà suy ra muôn sự. Đức Khổng Tử suy xét mà biết, há có phải là tiên tri đâu. Nhưng suy xét chắc chắn mà phán đoán trúng việc thì có khác gì tiên tri.","Chú thích 1: Con sinh (牲) - con vật dùng để tế lễ, thường là trâu, bò, lợn, dê...","Chú thích 2: Gia Ngữ (家語) - tức Khổng Tử Gia Ngữ, sách ghi chép về lời nói và việc làm của Khổng Tử, do Vương Túc đời Ngụy biên soạn.","Chú thích 3: Mất quan (亡) - ở đây có nghĩa là mất chức quan, suy vong, hoặc có thể hiểu là mất nước, mất nhà."],"tags":["Lễ giáo","Khổng Tử","Suy suy đoán","Cẩn thận"]},{"id":165,"title_vi":"CHỌN NGƯỜI RỒI SAU HÃY GÂY DỰNG","title_zh_simp":"先择而后树","title_zh_trad":"先擇而後樹","title_pinyin":"xiān zé ér hòu shù","title_han_viet":"TIÊN TRẠCH NHI HẬU THỤ","title_en":"Choose Before You Cultivate","source_book":"《韩诗外传》","source_author":"韩婴","source_period":"西汉","content_zh_simp":"阳虎为卫将，得罪，逃之赵，见简子曰：“自今以来，吾不复树人矣。”简子曰：“何谓也？”虎曰：“臣居卫，树廷臣之半，树宫臣之半，树边吏之半。今廷臣之半，宫臣之半，边吏之半，皆以臣为怨，故不复树人矣。”简子曰：“噫！子之言误矣。夫树桃李者，夏得休息，秋得食焉；树蒺藜者，夏不得休息，秋得其刺焉。今子之所树者，蒺藜也。非子之过欤？故君子先择而后树也。”","content_zh_trad":"陽虎為衛將，得罪，逃之趙，見簡子曰：“自今以來，吾不復樹人矣。”簡子曰：“何謂也？”虎曰：“臣居衛，樹廷臣之半，樹宮臣之半，樹邊吏之半。今廷臣之半，宮臣之半，邊吏之半，皆以臣為怨，故不復樹人矣。”簡子曰：“噫！子之言誤矣。夫樹桃李者，夏得休息，秋得食焉；樹蒺藜者，夏不得休息，秋得其刺焉。今子之所樹者，蒺藜也。非子之過歟？故君子先擇而後樹也。”","content_pinyin":"Yáng Hǔ wéi Wèi jiàng, dé zuì, táo zhī Zhào, jiàn Jiǎnzǐ yuē: “Zì jīn yǐ lái, wú bù fù shù rén yǐ.” Jiǎnzǐ yuē: “Hé wèi yě?” Hǔ yuē: “Chén jū Wèi, shù tíng chén zhī bàn, shù gōng chén zhī bàn, shù biān lì zhī bàn. Jīn tíng chén zhī bàn, gōng chén zhī bàn, biān lì zhī bàn, jiē yǐ chén wéi yuàn, gù bù fù shù rén yǐ.” Jiǎnzǐ yuē: “Yī! Zǐ zhī yán wù yǐ. Fū shù táo lǐ zhě, xià dé xiūxi, qiū dé shí yān; shù jí lí zhě, xià bù dé xiūxi, qiū dé qí cì yān. Jīn zǐ zhī suǒ shù zhě, jí lí yě. Fēi zǐ zhī guò yú? Gù jūnzǐ xiān zé ér hòu shù yě.”","content_han_viet":"Dương Hổ vi Vệ tướng, đắc tội, đào chi Triệu, kiến Giản Tử viết: “Tự kim dĩ lai, ngô bất phục thụ nhân hĩ.” Giản Tử viết: “Hà vị dã?” Hổ viết: “Thần cư Vệ, thụ đình thần chi bán, thụ cung thần chi bán, thụ biên lại chi bán. Kim đình thần chi bán, cung thần chi bán, biên lại chi bán, giai dĩ thần vi oán, cố bất phục thụ nhân hĩ.” Giản Tử viết: “Y! Tử chi ngôn ngộ hĩ. Phù thụ đào lý giả, hạ đắc hưu tức, thu đắc thực yên; thụ tật lê giả, hạ bất đắc hưu tức, thu đắc kỳ thứ yên. Kim tử chi sở thụ giả, tật lê dã. Phi tử chi quá dư? Cố quân tử tiên trạch nhi hậu thụ dã.”","content_vi":"Dương Hổ làm tướng nước Vệ, phải tội, chạy trốn sang nước Tần, vào yết kiến Triệu Giản Tử nói rằng:\n\nTự nay trở đi, ta nhất quyết không gây dựng cho ai nữa.\n\nTriệu Giản Tử hỏi:\n\nVì cớ gì mà ông lại nói thế?\n\nDương Hổ nói:\n\nKhi tôi ở nước tôi, các quan hầu cận nhà vua, tôi gây dựng cho quá nửa, các quan ở triều đình, tôi cũng gây dựng cho quá nửa, đến cả các quan ở biên thùy tôi cũng gây dựng cho nữa. Thế mà bây giờ các quan hầu cận nhà vua thì gièm pha tôi, các quan triều đình thì đem pháp luật trị tôi, các quan biên thùy thì dùng binh khí hiếp tôi. Thế cho nên từ nay trở đi, tôi nhất quyết không gây dựng cho ai nữa.\n\nTriệu Giản Tử bảo:\n\nÔng nói câu ấy thì lầm. Ai trồng cây đào, cây mận thì mùa hè được bóng mát nghỉ, mùa thu được quả ngon ăn. Ai trồng cây tật lê, thì mùa hè bóng mát không có, mùa thu chỉ được những chông gai. Cứ như vậy, thì có phải là tại do cây mình trồng lúc trước không? Nay ông sở dĩ đến nỗi thế, là vì ông gây dựng toàn cho những kẻ không ra gì cả. Cho nên người quân tử phải chọn người trước, rồi sau mới gây dựng.","loi_ban_vi":": Dương Hổ gây dựng cho người ta, mà về sau lại bị người ta quay lại hại mình, thật chẳng khác nào nuôi ong tay áo, nuôi hổ để chịu vạ lây, đáng tức giận lắm thay. Cho nên Hổ phàn nàn với Triệu Giản Tử và có ý như thề rằng, thôi từ nay không làm ơn cho ai nữa, vì loài người đã bội bạc lại còn thêm độc ác. Triệu Giản Tử bác đi mà giảng giải thế, là có ý quy cái tội cho Dương Hổ, tức là tội đại thần mà tham lam, mà ưa nịnh, chỉ thích gây dựng cho tiểu nhân để lo bè đảng thì khi thất thế, phải chịu lấy cái vạ của tiểu nhân.\n\nCó người nói: làm ân mà phải chọn người trước kể cũng hẹp hòi lắm.\n\nNhưng làm ơn là một việc, vì tổ quốc mà chọn người gây dựng cho người để giúp nước giúp dân là một việc. Như kéo bè kéo đảng, gây dựng cho cả kẻ gian ác có địa vị, có quyền thế để chúng làm mưa làm gió gieo vạ cho nhân dan thì không những không được báo ơn mà còn hại đến thân đắc tội với tổ quốc nữa.","giai_nghia":[":","Dương Hồ: tức là Dương Hóa, người nước Lỗ thời Xuân Thu, làm quan nước Lỗ là người quyền thần chuyên chính.","Vệ: tên một nước nhở thời Xuân Thu ở vào một phần tình Trực Lệ ngày nay.","Tấn: tên một nước lớn đời xuân thu, ở vào tỉnh Sơn Tây ngày nay.","Triệu Giản Tử: một danh thần nhà Triệu đời Xuân Thu.","阳虎: tên người, tướng nước Vệ, sau chạy sang nước Tấn.","简子: Triệu Giản Tử, đại phu nước Tấn.","树人: gây dựng, bồi dưỡng người.","桃李: đào lý, chỉ người tốt.","蒺藜: tật lê, cây gai, chỉ kẻ xấu."],"tags":["Dương Hổ","Triệu Giản Tử","chọn người","gây dựng"]},{"id":166,"title_vi":"CƠ TÂM","title_zh_simp":"机心","title_zh_trad":"機心","title_pinyin":"jī xīn","title_han_viet":"CƠ TÂM","title_en":"The Machine Mind","source_book":"《庄子》","source_author":"庄周","source_period":"战国","content_zh_simp":"子贡南游于楚，反于晋，过汉阴，见一丈人方将为圃畦，凿隧而入井，抱瓮而出灌，搰搰然用力甚多而见功寡。子贡曰：“有械于此，一日浸百畦，用力甚寡而见功多，夫子不欲乎？”为圃者仰而视之曰：“奈何？”曰：“凿木为机，后重前轻，挈水若抽，数如泆汤，其名为槔。”为圃者忿然作色而笑曰：“吾闻之吾师，有机械者必有机事，有机事者必有机心。机心存于胸中，则纯白不备；纯白不备，则神生不定；神生不定者，道之所不载也。吾非不知，羞而不为也。”","content_zh_trad":"子貢南遊於楚，反於晉，過漢陰，見一丈人方將為圃畦，鑿隧而入井，抱甕而出灌，搰搰然用力甚多而見功寡。子貢曰：“有械於此，一日浸百畦，用力甚寡而見功多，夫子不欲乎？”為圃者仰而視之曰：“奈何？”曰：“鑿木為機，後重前輕，挈水若抽，數如泆湯，其名為槔。”為圃者忿然作色而笑曰：“吾聞之吾師，有機械者必有機事，有機事者必有心機。心機存於胸中，則純白不備；純白不備，則神生不定；神生不定者，道之所不載也。吾非不知，羞而不為也。”","content_pinyin":"Zǐgòng nán yóu yú Chǔ, fǎn yú Jìn, guò Hànyīn, jiàn yī zhàngrén fāng jiāng wéi pǔ qí, záo suì ér rù jǐng, bào wèng ér chū guàn, hūhū rán yònglì shèn duō ér jiàn gōng guǎ. Zǐgòng yuē: “Yǒu xiè yú cǐ, yī rì jìn bǎi qí, yònglì shén guǎ ér jiàn gōng duō, fūzǐ bù yù hū?” Wéi pǔ zhě yǎng ér shì zhī yuē: “Nài hé?” Yuē: “Záo mù wéi jī, hòu zhòng qián qīng, qiè shuǐ ruò chōu, shù rú yì tāng, qí míng wéi gāo.” Wéi pǔ zhě fèn rán zuòsè ér xiào yuē: “Wú wén zhī wú shī, yǒu jīxiè zhě bì yǒu jīshì, yǒu jīshì zhě bì yǒu jīxīn. Jīxīn cún yú xiōngzhōng, zé chúnbái bù bèi; chúnbái bù bèi, zé shén shēng bù dìng; shén shēng bù dìng zhě, dào zhī suǒ bù zài yě. Wú fēi bù zhī, xiū ér bù wéi yě.”","content_han_viet":"Tử Cống nam du vu Sở, phản vu Tấn, quá Hán Âm, kiến nhất trượng nhân phương tương vi phố huề, tạc toại nhi nhập tỉnh, bão ông nhi xuất quán, hốt hốt nhiên dụng lực thậm đa nhi kiến công quả. Tử Cống viết: “Hữu giới vu thử, nhất nhật tẩm bách huề, dụng lực thậm quả nhi kiến công đa, phu tử bất dục hồ?” Vi phố giả ngưỡng nhi thị chi viết: “Nại hà?” Viết: “Tạc mộc vi cơ, hậu trọng tiền khinh, khiết thủy nhược trừu, sác như dật thang, kỳ danh vi cao.” Vi phố giả phẫn nhiên tác sắc nhi tiếu viết: “Ngô văn chi ngô sư, hữu cơ giới giả tất hữu cơ sự, hữu cơ sự giả tất hữu cơ tâm. Cơ tâm tồn vu hung trung, tắc thuần bạch bất bị; thuần bạch bất bị, tắc thần sinh bất định; thần sinh bất định giả, đạo chi sở bất tải dã. Ngô phi bất tri, tu nhi bất vi dã.”","content_vi":"Thầy Tử Cống đi qua đất Hán Âm thấy một ông lão làm vườn đang xuống giếng gánh từng thùng nước, đem lên tưới rau.\n\nThầy Tử Cống nói:\n\nKia có cái máy một ngày tưới được hàng trăm khu đất, sức dùng ít mà công hiệu nhiều. Cái máy ấy đằng sau nặng, đằng trước nhẹ, đem nước lên rất dễ và tên gọi là “máy lấy nước”.\n\nÔng lão làm vườn nói:\n\nMáy tức là cơ giới, kẻ có cơ giới tất có cơ sự, kẻ có cơ sự tất có cơ tâm. Ta đây có phải không biết cái máy ấy đâu, chỉ nghĩ xấu hổ mà không muốn dùng vậy.","loi_ban_vi":"Lời bàn: Ông lão làm vườn từ chối dùng máy móc vì sợ sinh lòng cơ xảo, đánh mất sự thuần phác. Điều đó dạy ta rằng đừng vì lợi ích trước mắt mà đánh mất bản tính chân thật, hãy giữ tâm hồn thanh tịnh, thuận theo tự nhiên.","giai_nghia":[":","Tử Cống: học trò Đức Khổng Tử giỏi về khoa ngôn ngữ","Hàn Âm : tên đất hiện ở vào phủ Hưng An tỉnh Thiểm Tây bây giờ.","子贡: Tử Cống, học trò Khổng Tử.","汉阴: Hán Âm, tên đất.","丈人: ông lão.","圃畦: vườn rau.","槔: cái đòn gánh nước (máy lấy nước).","机心: lòng cơ xảo, mưu mẹo."],"tags":["Tử Cống","Trang Tử","cơ tâm","thuần phác"]},{"id":167,"title_vi":"KHÔNG ĐỢI TRÔNG CŨNG BIẾT","title_zh_simp":"不待见而知","title_zh_trad":"不待見而知","title_pinyin":"Bù dài jiàn ér zhī","title_han_viet":"BẤT ĐÃI KIẾN NHI TRI","title_en":"Knowing Without Seeing","source_book":"《隨唐嘉話》","source_author":"Lưu Thục (劉餗)","source_period":"Đường","content_zh_simp":"许敬宗性傲，见人辄忘。或讥其不聪。敬宗曰：'此由人难记。若遇何、刘、沈、谢，暗中摸索，亦可识之。'","content_zh_trad":"許敬宗性傲，見人輒忘。或譏其不聰。敬宗曰：'此由人難記。若遇何、劉、沈、謝，暗中摸索，亦可識之。'","content_pinyin":"Xǔ Jìngzōng xìng ào, jiàn rén zhé wàng. Huò jī qí bù cōng. Jìngzōng yuē: 'Cǐ yóu rén nán jì. Ruò yù Hé, Liú, Shěn, Xiè, àn zhōng mō suǒ, yì kě shí zhī.'","content_han_viet":"Hứa Kính Tôn tính ngạo, kiến nhân triếp vong. Hoặc cơ kỳ bất thông. Kính Tôn viết: 'Thử do nhân nan ký. Nhược ngộ Hà, Lưu, Thẩm, Tạ, ám trung mạc sách, diệc khả thức chi.'","content_vi":"Hứa Kính Tôn có tính kiêu ngạo khinh người, tiếp ai xong, nhiều khi quên ngay, sau người ta có đến, lại không rõ là ai nữa.\n\nHoặc có kẻ chê Kinh Tôn là người không được thông minh.\n\nKính Tôn nói:\n\nCái đó là tự người ta làm cho ta khó nhớ đấy thôi. Ví bằng ta gặp được những bậc tài giỏi như Hà, Lưu, Thẩm, Tạ, thì dù sờ trong xó tối, ta cũng có thể biết mà nhớ ra được.\n\nTùy Đường Nhai Thoại","loi_ban_vi":":\n\nKiêu ngạo là thói xấu, đến nỗi người ta có câu: “Ai mà kiêu ngạo là kẻ sắp đi đến bước cuối cùng”.Vậy người ta dù có thông minh tài giỏi cao quý đến đâu cũng không nên kiêu ngạo. Hứa Kính Tôn đây văn chương đã giỏi, quan chức lại to, giao tiếp nhiều người, nhớ sao cho xiết, mà chằng quên. Nên ta cũng chưa thể cho cái quên ấy là thực khinh người. Xem ngay như câu nói của Hứa Kính Tôn, thì ta lại có thể cho là người biết người và có bụng trọng những người tài giỏi.\n\nVà chăng ở đời, cái thói khinh người tuy không nên có, nhưng cái cách phân biệt người đáng trọng, kẻ nên khinh không nên rằng không có. Câu cổ:\n\n“Tố nhân bất khả hữu ngạo thái, nhiên bất khả vô ngạo cốt” (Làm người không nên có cái dáng khinh ngạo, nhưng cũng không nên không có cái cốt khinh ngạo) cũng ám hợp với câu của người Pháp:\n\n“Il ne f’aut pá mepsriser, mais il faut savoir dédaignef”.","giai_nghia":[": Hứa Kính Tôn: người đời nhà Đường, đỗ tú tài, văn chương giỏi, làm quan đến Tể tướng.","Hà, Lưu, Thẩm, Tạ: Chỉ các danh sĩ thời Nam Bắc triều như Hà Tuấn, Lưu Hiếu Xước, Thẩm Ước, Tạ Hiểu.","Ám trung mạc sách: Trong bóng tối mò mẫm, ví với việc nhận biết người tài mà không cần thấy mặt."],"tags":["Kiêu ngạo","Trí nhớ","Tài năng","Đạo đức"]},{"id":168,"title_vi":"KHINH NGƯỜI","title_zh_simp":"轻人","title_zh_trad":"輕人","title_pinyin":"Qīng rén","title_han_viet":"KHINH NHÂN","title_en":"Despising Others","source_book":"《諸子》","source_author":"Khuyết danh","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"子击逢田子方于道，下车伏谒。子方不为礼。子击怒，谓子方曰：'富贵者骄人乎？贫贱者骄人乎？'子方曰：'贫贱者骄人，富贵者安敢骄人！人主骄人而亡其国，大夫骄人而亡其家。贫贱者若不得志，则纳履而去，安往而不得贫贱哉！'子击乃谢之。","content_zh_trad":"子擊逢田子方於道，下車伏謁。子方不為禮。子擊怒，謂子方曰：'富貴者驕人乎？貧賤者驕人乎？'子方曰：'貧賤者驕人，富貴者安敢驕人！人主驕人而亡其國，大夫驕人而亡其家。貧賤者若不得志，則納履而去，安往而不得貧賤哉！'子擊乃謝之。","content_pinyin":"Zǐ Jī féng Tián Zǐfāng yú dào, xià chē fú yè. Zǐfāng bù wéi lǐ. Zǐ Jī nù, wèi Zǐfāng yuē: 'Fùguì zhě jiāo rén hū? Pínjiàn zhě jiāo rén hū?' Zǐfāng yuē: 'Pínjiàn zhě jiāo rén, fùguì zhě ān gǎn jiāo rén! Rénzhǔ jiāo rén ér wáng qí guó, dàfū jiāo rén ér wáng qí jiā. Pínjiàn zhě ruò bù dézhì, zé nà lǚ ér qù, ān wǎng ér bùdé pínjiàn zāi!' Zǐ Jī nǎi xiè zhī.","content_han_viet":"Tử Kích phùng Điền Tử Phương vu đạo, hạ xa phục yết. Tử Phương bất vi lễ. Tử Kích nộ, vị Tử Phương viết: 'Phú quý giả kiêu nhân hồ? Bần tiện giả kiêu nhân hồ?' Tử Phương viết: 'Bần tiện giả kiêu nhân, phú quý giả an cảm kiêu nhân! Nhân chủ kiêu nhân nhi vong kỳ quốc, đại phu kiêu nhân nhi vong kỳ gia. Bần tiện giả nhược bất đắc chí, tắc nạp lý nhi khứ, an vãng nhi bất đắc bần tiện tai!' Tử Kích nãi tạ chi.","content_vi":"Tử Kích là một bậc quyền quý, gặp Điền Tử Phương là một hàn sĩ ở giữa đường, liền xuống xe chào. Tử Phương làm lơ không đáp lại.\n\nTử Kích giận, hỏi Tử Phương rằng:\n\nKẻ phú quý hay khinh người đã đành, kẻ bần tiện có khinh người được không?\n\nTử Phương nói:\n\nKẻ bần tiện mới có thể khinh người, kẻ phú quý sao dám khinh người. Vua nếu mà khinh người thì mất nước, quan nếu mà khinh người thì mất chức.\n\nCòn kẻ có học thức, xử cảnh bần tiện, đi đến đâu mà lời nói vua quan không dùng, việc làm vua quan không theo, thì xỏ chân vào giày, đi ngay lập tức, đến chỗ nào chẳng được bần tiện, còn có lo sợ gì mà không dám khinh người?\n\nTử Kích nghe ra, bèn xin lỗi Tử Phương.\n\nChư Thư","loi_ban_vi":": Tử Kích muốn lấy quyền thế, mà khinh người, Tử Phương muốn lấy học thức mà khinh người. Đến cùng, thì học thức khinh nổi được quyền thế. Mời hay ở đời nào cũng vậy, phú quý không bao giờ bằng được học thức. Có lẽ Tử Phương đây muốn chữa cái bệnh cho người quyền thế quá kiêu căng đời bấy giờ, cho nên nói những câu quá khích như thế. Ta cũng không nên quên cái tính phục thiện của Tử Kích đáng trọng và đáng yêu. Nay ta cứ bình tĩnh mà nói: Khinh người tức là “kiêu” mà chữ kiêu là cái nguồn gốc làm bại hoại cả đức tính. Phú quý chẳng nên kiêu , thì bần tiện dẫu kiêu có kiêu được, cũng không lấy gì làm phải. Kẻ sử sĩ đời Chiến Quốc phải coi phong khí nó chuyển đi, cho nên thường hay mắc phải cái thế kiêu như Tử Kích đây, không thoát khỏi tục, cũng là đáng tiếc. Người có học thức mà kiêu, là hạng người khinh thế ngạo vật, coi đời như không quan thiết gì đến mình. Ôi! Đã gọi là học thức mà có tính kiêu, thì vô bổ cho đời, đời có ngưới ấy cũng như không vậy.","giai_nghia":[":","Tử Kích: một nhà quyền thế đời Chiến Quốc.","Bậc quyền quý: người có uy quyền thế lực thiên ha phải kinh sợ.","Điền Tử Phương: người nước Ngụy về đời Chiến Quốc có tiếng là bậc hiền nhân.","Tử Kích: Tức Ngụy Văn Hầu con là Ngụy Kích, thời Chiến Quốc.","Điền Tử Phương: Hiền sĩ nước Ngụy, học trò của Tử Hạ.","Nạp lý: Xỏ giày, ý nói ra đi ngay."],"tags":["Kiêu ngạo","Phú quý","Học thức","Đạo đức"]},{"id":169,"title_vi":"HAI CÔ VỢ LẼ NGƯỜI NHÀ TRỌ","title_zh_simp":"逆旅二妾","title_zh_trad":"逆旅二妾","title_pinyin":"Nì lǚ èr qiè","title_han_viet":"NGHỊCH LỮ NHỊ THIẾP","title_en":"The Two Concubines of the Innkeeper","source_book":"《莊子》","source_author":"Trang Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"阳子之宋，宿于逆旅。逆旅人有妾二人，其一人美，其一人恶。恶者贵而美者贱。阳子问其故，逆旅小子对曰：“其美者自美，吾不知其美也；其恶者自恶，吾不知其恶也。”阳子曰：“弟子记之！行贤而去自贤之行，安往而不爱哉！”","content_zh_trad":"陽子之宋，宿於逆旅。逆旅人有妾二人，其一人美，其一人惡。惡者貴而美者賤。陽子問其故，逆旅小子對曰：「其美者自美，吾不知其美也；其惡者自惡，吾不知其惡也。」陽子曰：「弟子記之！行賢而去自賢之行，安往而不愛哉！」","content_pinyin":"Yáng zǐ zhī Sòng, sù yú nì lǚ. Nì lǚ rén yǒu qiè èr rén, qí yī rén měi, qí yī rén è. È zhě guì ér měi zhě jiàn. Yáng zǐ wèn qí gù, nì lǚ xiǎo zǐ duì yuē: “Qí měi zhě zì měi, wú bù zhī qí měi yě; qí è zhě zì è, wú bù zhī qí è yě.” Yáng zǐ yuē: “Dì zǐ jì zhī! Xíng xián ér qù zì xián zhī xíng, ān wǎng ér bù ài zāi!”","content_han_viet":"Dương Tử chi Tống, túc vu nghịch lữ. Nghịch lữ nhân hữu thiếp nhị nhân, kỳ nhất nhân mỹ, kỳ nhất nhân ác. Ác giả quý nhi mỹ giả tiện. Dương Tử vấn kỳ cố, nghịch lữ tiểu tử đối viết: “Kỳ mỹ giả tự mỹ, ngô bất tri kỳ mỹ dã; kỳ ác giả tự ác, ngô bất tri kỳ ác dã.” Dương Tử viết: “Đệ tử ký chi! Hành hiền nhi khứ tự hiền chi hành, an vãng nhi bất ái tai!”","content_vi":"Dương Chu sang nước Tống, đến ở trọ một nhà kia.\n\nNgười chủ nhà trọ, có hai người thiếp, một người đẹp, một người xấu.\n\nDương Chu thấy trong nhà ai cũng quý người thiếp xấu mà khinh người thiếp đẹp, lấy làm lạ bèn hỏi dò thằng trẻ con trong nhà trọ thì nó trả lời rằng:\n\nNgười thiếp đẹp tự lên là đẹp mà mất đẹp, tôi chẳng biết cái đẹp của họ nữa, người thiếp xấu tự biết là xấu mà quên xấu, tôi chẳng biết cái xấu của họ nữa.\n\nDương Chu gọi học trò ra bảo:\n\nCác con nhớ lấy câu ấy. Người ta giỏi mà bỏ được cái nết “tự cho mình là giỏi: thì đi đến đâu ai cũng chẳng tôn trọng, chẳng thân yêu.","loi_ban_vi":": Đàn bà đẹp mà tự cậy mình lên đẹp, thì người ngoài chỉ thấy cái bộ khoe khoang đáng ghét chớ không thấy còn gì là vẻ đẹp dáng yêu nữa.\n\nĐàn bà xấu, tự thẹn mình là xấu, thì chỉ thấy cái nết dịu dàng đáng thương, không còn thấy cái gì xấu xí đáng ghét nữa. Đấy người đẹp mà bị khinh, người xấu mà được quý là tại thế.\n\nÔi! Đẹp chỉ vì tên đẹp mà mất đẹp, xấu chỉ vì biết xấu mà quên xấu, thế thì những người giỏi mà tính tự lên là giỏi, thì sinh thời nào, đi đến đâu cũng không mong thiên hạ yêu kính được. Vì như thế tức là kiêu mà kiêu thì không ai chịu được, sự khiếm nhã bao giờ vẫn là hơn vì thiên đạo, ích khiêm lưu khiêm, quỷ thân phúc khiêm, nhân đạo hiếu khiêm. Khiêm hay biết là dường nào! Dương Chu lấy câu chuyện ấy ra dạy học trò rất là phải lắm.","giai_nghia":[":","Dương Chu: người đời Chiến Quốc xướng lên cái thuyết “Vị ngã”","Tống: nước chư hầu thời Xuân Thu sau phải nước Tề lấy mất, ở vào địa phận tỉnh Hà Nam bây giờ","Thiếp: vợ lẽ, cô hầu.","逆旅 (nghịch lữ): nhà trọ, quán trọ.","自美 (tự mỹ): tự cho mình là đẹp, tự khen mình.","自恶 (tự ác): tự biết mình xấu, tự thấy mình xấu.","行贤而去自贤之行 (hành hiền nhi khứ tự hiền chi hành): làm điều tốt mà bỏ cái tính tự cho mình là tốt."],"tags":["Đạo Đức","Khiêm Tốn","Tu Dưỡng","Trang Tử"]},{"id":170,"title_vi":"BA ĐIỀU PHẢI NGHĨ","title_zh_simp":"三思","title_zh_trad":"三思","title_pinyin":"Sān sī","title_han_viet":"TAM TƯ","title_en":"Three Things to Consider","source_book":"《孔子家語》","source_author":"Khổng Tử","source_period":"Xuân Thu","content_zh_simp":"孔子曰：“君子有三思，不可不察也。少而不学，长无能也；老而不教，死莫之思也；有而不施，穷莫之救也。故君子少思其长，则务学；老思其死，则务教；有思其穷，则务施。”","content_zh_trad":"孔子曰：「君子有三思，不可不察也。少而不學，長無能也；老而不教，死莫之思也；有而不施，窮莫之救也。故君子少思其長，則務學；老思其死，則務教；有思其窮，則務施。」","content_pinyin":"Kǒngzǐ yuē: “Jūnzǐ yǒu sān sī, bù kě bù chá yě. Shào ér bù xué, zhǎng wú néng yě; lǎo ér bù jiào, sǐ mò zhī sī yě; yǒu ér bù shī, qióng mò zhī jiù yě. Gù jūnzǐ shào sī qí zhǎng, zé wù xué; lǎo sī qí sǐ, zé wù jiào; yǒu sī qí qióng, zé wù shī.”","content_han_viet":"Khổng Tử viết: “Quân tử hữu tam tư, bất khả bất sát dã. Thiếu nhi bất học, trưởng vô năng dã; lão nhi bất giáo, tử mạc chi tư dã; hữu nhi bất thí, cùng mạc chi cứu dã. Cố quân tử thiếu tư kỳ trưởng, tắc vụ học; lão tư kỳ tử, tắc vụ giáo; hữu tư kỳ cùng, tắc vụ thí.”","content_vi":"Đức Khổng Tử nói:\n\n- Người quân tử có ba điều phải nghĩ, ta chẳng nên chẳng xét đến:\n\n1) Lúc nhỏ nếu mà chẳng học, thì đến lúc lớn ngu dốt không làm được việc gì.\n\n2) Lúc già yếu mà không đem những điều mình biết để dạy người, thì sau đến lúc chết chẳng ai thương tiếc.\n\n3) Lúc giàu có nếu mà chẳng bố thí, thì đến lúc khốn cùng chẳng ai cứu giúp.\n\nCho nên người quân tử lúc nhỏ nghĩ đến lúc lớn thì chăm học, lúc già nghĩ đến lúc chết thì chăm dạy, lúc có nghĩ đến lúc không thì chăm cứu giúp người nghèo khổ.","loi_ban_vi":"Lúc nhỏ mà nghĩ đến lúc lớn, lúc già mà nghĩ đến lúc chết, đang giàu mà nghĩ đến nỗi nghèo khổ, ba điều lo xa. Phàm người ta có chịu trông xa như thế mà là biết phòng bị những cái ưu hoạn trước khi nó xảy ra vậy. Đức Khổng Tử còn có nói:\n\n“Người ta không nghĩ xa tất có sự ưu hoạn gần”, cũng là có có nghĩa dự phòng như lời nói trong bài này vậy. (Câu chữ Hán là: Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu).","giai_nghia":["三思 (tam tư): ba điều suy nghĩ, ba điều phải lo xa.","少而不学，长无能也 (thiếu nhi bất học, trưởng vô năng dã): trẻ mà không học thì lớn không có tài năng.","老而不教，死莫之思也 (lão nhi bất giáo, tử mạc chi tư dã): già mà không dạy người thì chết không ai nhớ đến.","有而不施，穷莫之救也 (hữu nhi bất thí, cùng mạc chi cứu dã): giàu mà không bố thí thì lúc cùng khốn không ai cứu giúp."],"tags":["Khổng Tử","Giáo Dục","Tu Dưỡng","Lo Xa"]},{"id":171,"title_vi":"LO, VUI","title_zh_simp":"忧乐","title_zh_trad":"憂樂","title_pinyin":"Yōu lè","title_han_viet":"ƯU LẠC","title_en":"Worry and Joy","source_book":"《说苑》","source_author":"刘向","source_period":"西汉","content_zh_simp":"子路问孔子曰：“君子亦有忧乎？”孔子曰：“君子修其身，未得时，则乐其意；既得之，又乐其治。是以有终身之乐，无一日之忧。小人则不然，其未得也，患弗得之；既得之，又恐失之。是以有终身之忧，无一日之乐也。”","content_zh_trad":"子路問孔子曰：“君子亦有憂乎？”孔子曰：“君子修其身，未得時，則樂其意；既得之，又樂其治。是以有終身之樂，無一日之憂。小人則不然，其未得也，患弗得之；既得之，又恐失之。是以有終身之憂，無一日之樂也。”","content_pinyin":"Zǐlù wèn Kǒngzǐ yuē: “Jūnzǐ yì yǒu yōu hū?” Kǒngzǐ yuē: “Jūnzǐ xiū qí shēn, wèi dé shí, zé lè qí yì; jì dé zhī, yòu lè qí zhì. Shì yǐ yǒu zhōngshēn zhī lè, wú yī rì zhī yōu. Xiǎorén zé bù rán, qí wèi dé yě, huàn fú dé zhī; jì dé zhī, yòu kǒng shī zhī. Shì yǐ yǒu zhōngshēn zhī yōu, wú yī rì zhī lè yě.”","content_han_viet":"Tử Lộ vấn Khổng Tử viết: “Quân tử diệc hữu ưu hồ?” Khổng Tử viết: “Quân tử tu kỳ thân, vị đắc thời, tắc lạc kỳ ý; ký đắc chi, hựu lạc kỳ trị. Thị dĩ hữu chung thân chi lạc, vô nhất nhật chi ưu. Tiểu nhân tắc bất nhiên, kỳ vị đắc dã, hoạn phất đắc chi; ký đắc chi, hựu khủng thất chi. Thị dĩ hữu chung thân chi ưu, vô nhất nhật chi lạc dã.”","content_vi":"Thầy Tử Lộ hỏi Đức Khổng Tử rằng:\n\n- Người quân tử cũng lo sợ ư?\n\nĐức Khổng Tử nói:\n\n- Người quân tử chỉ cốt suy nghĩ định liệu công việc của mình, lúc chưa làm được thì vui rằng mình có ý định làm, lúc làm được thì lại vui rằng mình có trí làm được việc. Thế nên người quân tử có cái vui thú suốt đời, không có cái lo sợ một ngày nào cả.\n\nKẻ tiểu nhân thì không thế, lúc chưa làm được việc thì lo sợ rằng không được, lúc đã làm được việc thì lo sợ lỡ hỏng mất. Thế nên kẻ tiểu nhân có cái lo sợ suốt đời, không có cái vui thú nào cả.","loi_ban_vi":"Quân tử vui vì đạo, tiểu nhân lo vì lợi. Vui vì đạo thì tâm thường thái hòa, lo vì lợi thì lòng luôn bất an. Cho nên người xưa lấy đức làm vui, chứ không lấy của làm vui.","giai_nghia":["子路: Tử Lộ, tên thật là Trọng Do, học trò của Khổng Tử.","君子: quân tử, người có đức hạnh và tài năng.","小人: tiểu nhân, người tầm thường, ích kỷ."],"tags":["Khổng Tử","Quân tử","Lạc quan","Lo âu"]},{"id":172,"title_vi":"THẤY LỢI NGHĨ ĐẾN HẠI","title_zh_simp":"见利思害","title_zh_trad":"見利思害","title_pinyin":"Jiàn lì sī hài","title_han_viet":"KIẾN LỢI TƯ HẠI","title_en":"Seeing Profit, Think of Harm","source_book":"《列子》","source_author":"列御寇","source_period":"战国","content_zh_simp":"子列子穷，容貌有饥色。客有言之于郑子阳者曰：“列御寇，盖有道之士也，居君之国而穷，君无乃为不好士乎？”郑子阳即令官遗之粟数十秉。子列子出见使者，再拜而辞。使者去，子列子入，其妻望之而拊心曰：“妾闻为有道者之妻子，皆得佚乐。今有饥色，君过而遗先生食，先生又弗受也。岂非命哉！”子列子笑谓之曰：“君非自知我也。以人之言而遗我粟，至其罪我也，又且以人之言，此吾所以不受也。且受人之养，不死其难，不义；死其难，则死无道也，岂义哉？”其后民果作难而杀子阳。","content_zh_trad":"子列子窮，容貌有飢色。客有言之於鄭子陽者曰：“列禦寇，蓋有道之士也，居君之國而窮，君無乃為不好士乎？”鄭子陽即令官遺之粟數十秉。子列子出見使者，再拜而辭。使者去，子列子入，其妻望之而拊心曰：“妾聞為有道者之妻子，皆得佚樂。今有飢色，君過而遺先生食，先生又弗受也。豈非命哉！”子列子笑謂之曰：“君非自知我也。以人之言而遺我粟，至其罪我也，又且以人之言，此吾所以不受也。且受人之養，不死其難，不義；死其難，則死無道也，豈義哉？”其後民果作難而殺子陽。","content_pinyin":"Zǐ Lièzǐ qióng, róngmào yǒu jī sè. Kè yǒu yán zhī yú Zhèng Zǐyáng zhě yuē: “Liè Yùkòu, gài yǒu dào zhī shì yě, jū jūn zhī guó ér qióng, jūn wú nǎi wèi bù hǎo shì hū?” Zhèng Zǐyáng jí lìng guān wèi zhī sù shù shí bǐng. Zǐ Lièzǐ chū jiàn shǐzhě, zài bài ér cí. Shǐzhě qù, Zǐ Lièzǐ rù, qí qī wàng zhī ér fǔ xīn yuē: “Qiè wén wèi yǒu dào zhě zhī qīzǐ, jiē dé yì lè. Jīn yǒu jī sè, jūn guò ér wèi xiānshēng shí, xiānshēng yòu fú shòu yě. Qǐ fēi mìng zāi!” Zǐ Lièzǐ xiào wèi zhī yuē: “Jūn fēi zì zhī wǒ yě. Yǐ rén zhī yán ér wèi wǒ sù, zhì qí zuì wǒ yě, yòu qiě yǐ rén zhī yán, cǐ wú suǒyǐ bù shòu yě. Qiě shòu rén zhī yǎng, bù sǐ qí nán, bù yì; sǐ qí nán, zé sǐ wú dào yě, qǐ yì zāi?” Qí hòu mín guǒ zuò nán ér shā Zǐyáng.","content_han_viet":"Tử Liệt Tử cùng, dung mạo hữu cơ sắc. Khách hữu ngôn chi vu Trịnh Tử Dương giả viết: “Liệt Ngự Khấu, cái hữu đạo chi sĩ dã, cư quân chi quốc nhi cùng, quân vô nãi vi bất hiếu sĩ hồ?” Trịnh Tử Dương tức lệnh quan vị chi túc sổ thập bỉnh. Tử Liệt Tử xuất kiến sứ giả, tái bái nhi từ. Sứ giả khứ, Tử Liệt Tử nhập, kỳ thê vọng chi nhi phủ tâm viết: “Thiếp văn vi hữu đạo giả chi thê tử, giai đắc dật lạc. Kim hữu cơ sắc, quân quá nhi vị tiên sinh thực, tiên sinh hựu phất thụ dã. Khởi phi mệnh tai!” Tử Liệt Tử tiếu vị chi viết: “Quân phi tự tri ngã dã. Dĩ nhân chi ngôn nhi vị ngã túc, chí kỳ tội ngã dã, hựu thả dĩ nhân chi ngôn, thử ngô sở dĩ bất thụ dã. Thả thụ nhân chi dưỡng, bất tử kỳ nạn, bất nghĩa; tử kỳ nạn, tắc tử vô đạo dã, khởi nghĩa tai?” Kỳ hậu dân quả tác nạn nhi sát Tử Dương.","content_vi":"Liệt Tử nghèo khổ, có khi đói khát không có gì mà ăn uống.\n\nCó người nói với vua Tử Dương nước Trịnh rằng:\n\n- Liệt Tử là một người cao thượng, nay ở nước vua mà phải bần cùng, thì hóa ra nhà vua không biết quí trọng người giỏi ư?\n\nTử Dương nghe nói, sai sứ giả đưa cho Liệt Tử vài mươi xe thóc.\n\nLiệt Tử ra yết kiến sứ giả, vái hai vái, xin từ không nhận.\n\nSứ giả đi, Liệt Tử vào nhà trong. Vợ ngóng trông bực tức, tự đập vào ngực mà nói rằng:\n\n- Thiếp nghe vợ con những bậc đạo đức cao thượng đều được an nhàn vui vẻ, nay vợ con tiên sinh túng đói, vua đưa cho tiên sinh thóc gạo, tiên sinh lại từ. Thế chẳng phải là số mệnh xui ra vậy hay sao?\n\nLiệt Tử cười, bảo vợ rằng: Vua mà biết ta không phải là tự chính vua biết ta, tại nghe có người nói mới biết ta. Vua nghe người nói mới biết ta mà cho ta thóc, thì lúc bắt tội ta, tất vua cũng lại nghe người nói mà thôi. Vì thế mà ta không nhận thóc. Vả chăng chịu bổng lộc của người hoặc khi người mắc hoạn nạn, không liều giúp người là bất nghĩa. Mà nếu liều chết giúp kẻ vô đạo thì lại còn gọi là nghĩa thế nàp được.\n\nTử Dương sau quả bị nạn chết.","loi_ban_vi":"Đương lúc túng đói, gặp được vua chúa quý trọng, lại cho vài mươi xe thóc, người ta được thế chắc lấy làm vinh hạnh sung sướng, mà còn lên mặt với đời là khác. Liệt Tử đây khác hẳn, vái sứ giả hai vái, nói xin từ. Thái độ khiêm nhã thật đáng trọng! Xin từ mà không lộ vẻ tự ái, tự cao, không có một lời nghị luận đến thời sự, thậm chí phải vợ con giày vò mà Liệt Tử vẫn thản nhiên, chỉ ôn tồn nói qua mấy câu “ăn ở phải biết lui biết tới, biết ân biết nghĩa”. Người sao sáng suốt khôn ngoan mà như ngu dại, thật đáng phục lắm thay! Vì không thế không sống còn được ở đời loạn. Liệt Tử đây phần biết người hay dở, phần hiểu việc sâu xa. Thật là bực “minh triết bảo thân” vậy.\n\n(Câu chữ Hán là: Đã không ngoan lại sáng suốt để bảo toàn tấm thân.) Ở đời sẵn có máu tham, thấy của tối mắt, đỏ đâu bâu đấy, sống chết mặc bay, đó là bệnh thông thường. Anh em chúng ta như muốn tránh bệnh ấy, tưởng nên học Liệt Tử biết rõ nghĩa lợi, hiểu đường lui tới mới là hơn.","giai_nghia":["Trịnh: tên một nước nhỏ thời Xuân Thu, thuộc về tỉnh Hà Nam bây giờ","Sứ giả: người thay mặt và nhận lời người trên để đi nói hay làm một việc gì đó với ai","Yết kiến: đi chào người trên","Số mệnh: những sự hay dở, được hỏng của đời thường hình như định sẵn sự trời, không phải sức người làm nổi","Vô đạo: ăn ở không theo lẽ phải","列子: Liệt Tử, tên thật là Liệt Ngự Khấu, triết gia Đạo giáo.","郑子阳: Trịnh Tử Dương, tể tướng nước Trịnh.","秉: bỉnh, đơn vị đo lường thời cổ, một bỉnh tương đương 16 hộc."],"tags":["Liệt Tử","Trí tuệ","Thấy lợi nghĩ hại","Tiết tháo"]},{"id":173,"title_vi":"THỦY CHUNG VỚI VỢ","title_zh_simp":"与妻始终","title_zh_trad":"與妻始終","title_pinyin":"Yǔ qī shǐzhōng","title_han_viet":"DỮ THÊ THỦY CHUNG","title_en":"Faithful to His Wife","source_book":"《晏子春秋》","source_author":"晏婴","source_period":"春秋","content_zh_simp":"景公有爱女，请嫁于晏子。公乃往燕晏子之家，饮酒，酣，公见其妻曰：“此子之内子耶？”晏子对曰：“然，是也。”公曰：“嘻！亦老且恶矣。寡人有女少且姣，请以满夫子之宫。”晏子违席而对曰：“乃此则老且恶，婴与之居故矣，故及其少且姣也。且人固以壮托乎老，姣托乎恶。彼尝托，而婴受之矣。今君虽有赐，可以使婴倍其托乎？”再拜，辞。","content_zh_trad":"景公有愛女，請嫁於晏子。公乃往燕晏子之家，飲酒，酣，公見其妻曰：“此子之內子耶？”晏子對曰：“然，是也。”公曰：“嘻！亦老且惡矣。寡人有女少且姣，請以滿夫子之宮。”晏子違席而對曰：“乃此則老且惡，嬰與之居故矣，故及其少且姣也。且人固以壯托乎老，姣托乎惡。彼嘗托，而嬰受之矣。今君雖有賜，可以使嬰倍其托乎？”再拜，辭。","content_pinyin":"Jǐng gōng yǒu ài nǚ, qǐng jià yú Yànzǐ. Gōng nǎi wǎng yàn Yànzǐ zhī jiā, yǐn jiǔ, hān, gōng jiàn qí qī yuē: “Cǐ zǐ zhī nèizǐ yé?” Yànzǐ duì yuē: “Rán, shì yě.” Gōng yuē: “Xī! Yì lǎo qiě è yǐ. Guǎrén yǒu nǚ shǎo qiě jiāo, qǐng yǐ mǎn fūzǐ zhī gōng.” Yànzǐ wéi xí ér duì yuē: “Nǎi cǐ zé lǎo qiě è, Yīng yǔ zhī jū gù yǐ, gù jí qí shǎo qiě jiāo yě. Qiě rén gù yǐ zhuàng tuō hū lǎo, jiāo tuō hū è. Bǐ cháng tuō, ér Yīng shòu zhī yǐ. Jīn jūn suī yǒu cì, kěyǐ shǐ Yīng bèi qí tuō hū?” Zài bài, cí.","content_han_viet":"Cảnh Công hữu ái nữ, thỉnh giá vu Án Tử. Công nãi vãng yến Án Tử chi gia, ẩm tửu, hàm, Công kiến kỳ thê viết: “Thử tử chi nội tử da?” Án Tử đối viết: “Nhiên, thị dã.” Công viết: “Hi! Diệc lão thả ác hĩ. Quả nhân hữu nữ thiếu thả kiều, thỉnh dĩ mãn phu tử chi cung.” Án Tử vi tịch nhi đối viết: “Nãi thử tắc lão thả ác, Anh dữ chi cư cố hĩ, cố cập kỳ thiếu thả kiều dã. Thả nhân cố dĩ tráng thác hồ lão, kiều thác hồ ác. Bỉ thường thác, nhi Anh thụ chi hĩ. Kim quân tuy hữu tứ, khả dĩ sử Anh bội kỳ thác hồ?” Tái bái, từ.","content_vi":"Vua Cảnh Công có cô con gái yêu, muốn gả cho Án Tử. Một hôm vua đến ăn tiệc nhà Án Tử, thấy vợ Án Tử hỏi:\n\n- Phu nhân đấy phải không?\n\nÁn Tử thưa: Vâng, phải đấy.\n\nVua nói: Ôi! Người trông vừa già vừa xấu! Quả nhân có đứa con gái trẻ và đẹp, muốn cho về hầu, khanh nghĩ sao?\n\nÁn Tử đứng dậy thưa rằng: Nội tử tôi nay thật già và xấu; nhưng lấy tôi và cùng tôi ăn ở đã lâu, kể từ lúc còn trẻ và đẹp. Xưa nay đàn bà lấy chồng lúc trẻ cốt để nhờ cậy lúc già, lúc đẹp lấy cốt để nhờ cậy lúc xấu. Nội tử tôi thường nhờ cậy tôi mà tôi cũng đã nhận sự nhờ cậy ấy. Nay nhà vua tuy muốn ban ơn, chắc cũng không nỡ để cho tôi ăn ở bội bạc với những điều nội tử tôi đã nhờ cậy tôi bấy lâu nay.\n\nNói đoạn Án Tử lạy hai lạy, xin từ không lấy.","loi_ban_vi":"Vợ chồng là bạn trăm năm đã phải duyên phải lứa lấy nhau từ lúc còn trẻ, kính yêu nhau thì đến lúc già ai lại có nỡ phụ nhau. Ngán thay thói đời giàu hay quên bạn, sang hay quên vợ. Lắm kẻ lúc còn hàn vi vợ nuôi cho ăn học, một mai được chút tiền của, chức tước đã phụ ngay vợ cũ mà kiếm vợ mới, hoặc kiếm vào chỗ giàu, hoặc kiếm vào chỗ sang, hoặc kiếm người trẻ tuổi xinh đẹp hơn. Những kẻ như thế dù viện lẽ gì, tổng chi cũng là phụ bạc cả.\n\nNào đã mấy người được như Án Tử đây: gặp cảnh giàu sang như nhà vua, trẻ đẹp như công chúa, lại như muốn lấy uy quyền bức bách mình, mà mình nhất định cố từ. Ông là người ăn ở thủy chung với vợ tấm cám thật!\n\nBạn quần thoa đọc truyện này cũng nên ngẫm nghĩ, chớ nên tham lam tài danh mà lấy những kẻ đã đem lòng phụ vợ tào khang. Vì rằng người vợ xưa, nuốt được nghèo khổ, chịu được đắng cay ở với họ đã đã bao lâu mà họ còn phụ, thì họ lấy ta hoặc vì lợi chăng, hoặc vì thế chăng, hoặc vì sắc chăng, một khi lợi kém, thế hết, sắc suy, thì cái tình vợ chồng lúc bấy giờ lại hóa ra ngay cảnh người dưng nước lã.","giai_nghia":["Cảnh Công: vua hiền nước Tề thời Xuân Thu","Án Tử: tức là Án Anh, làm tướng đời vua Cảnh Công, ông là người trung thành, tiết kiệm có tiếng thời bấy giờ","Nội tử: tiếng để gọi vợ cả mình. Tiếng cổ dùng để gọi vợ các quan to.","Khanh: tiếng vua gọi một bậc quan to hay một vị đại thần","晏子 (Yànzǐ): tức Án Anh (晏婴), tên tự Trọng (仲), thụy Bình (平), người nước Tề thời Xuân Thu, làm quan đến chức Tướng quốc, nổi tiếng là người trung cần, tiết kiệm.","内子 (nèizǐ): vợ, thê tử.","违席 (wéi xí): rời khỏi chỗ ngồi, đứng dậy để tỏ lòng cung kính.","倍 (bèi): thông với '背', có nghĩa là phản bội, trái lại."],"tags":["Đạo đức","Hôn nhân","Thủy chung","Án Tử"]},{"id":174,"title_vi":"ĐÁNG SỢ GÌ HƠN CẢ","title_zh_simp":"所畏者何","title_zh_trad":"所畏者何","title_pinyin":"Suǒ wèi zhě hé","title_han_viet":"SỞ ÚY GIẢ HÀ","title_en":"What Is Most Feared","source_book":"《阅微草堂笔记》","source_author":"纪昀","source_period":"清代","content_zh_simp":"有书室为狐所据，白昼与人对语，不见形。其言甚有理致，多所规戒。一日，有客数人同集，或言狐畏人，或言人畏狐，相与争论。狐忽言曰：“君等所言，皆非也。狐之畏人，犹人之畏狐也。但人不知狐之畏人，而狐知人之畏狐，故狐常胜人耳。”众问：“然则狐之所畏者何？”狐曰：“狐之所畏者，狐也。”众愕然。狐曰：“同气者相忌，同类者相残。人之所以畏狐者，以其异类也。若同类，则无所用其畏矣。且狐之媚人，必先幻形，若见真狐，则反为所制。故狐畏狐也。”众皆服其言。","content_zh_trad":"有書室為狐所據，白晝與人對語，不見形。其言甚有理致，多所規戒。一日，有客數人同集，或言狐畏人，或言人畏狐，相與爭論。狐忽言曰：“君等所言，皆非也。狐之畏人，猶人之畏狐也。但人不知狐之畏人，而狐知人之畏狐，故狐常勝人耳。”眾問：“然則狐之所畏者何？”狐曰：“狐之所畏者，狐也。”眾愕然。狐曰：“同氣者相忌，同類者相殘。人之所以畏狐者，以其異類也。若同類，則無所用其畏矣。且狐之媚人，必先幻形，若見真狐，則反為所制。故狐畏狐也。”眾皆服其言。","content_pinyin":"Yǒu shūshì wéi hú suǒ jù, báizhòu yǔ rén duì yǔ, bù jiàn xíng. Qí yán shén yǒu lǐzhì, duō suǒ guījiè. Yī rì, yǒu kè shù rén tóng jí, huò yán hú wèi rén, huò yán rén wèi hú, xiāng yǔ zhēnglùn. Hú hū yán yuē: “Jūn děng suǒ yán, jiē fēi yě. Hú zhī wèi rén, yóu rén zhī wèi hú yě. Dàn rén bù zhī hú zhī wèi rén, ér hú zhī rén zhī wèi hú, gù hú cháng shèng rén ěr.” Zhòng wèn: “Ránzé hú zhī suǒ wèi zhě hé?” Hú yuē: “Hú zhī suǒ wèi zhě, hú yě.” Zhòng èrán. Hú yuē: “Tóng qì zhě xiāng jì, tónglèi zhě xiāng cán. Rén zhī suǒyǐ wèi hú zhě, yǐ qí yìlèi yě. Ruò tónglèi, zé wú suǒ yòng qí wèi yǐ. Qiě hú zhī mèi rén, bì xiān huàn xíng, ruò jiàn zhēn hú, zé fǎn wéi suǒ zhì. Gù hú wèi hú yě.” Zhòng jiē fú qí yán.","content_han_viet":"Hữu thư thất vi hồ sở cứ, bạch trú dữ nhân đối ngữ, bất kiến hình. Kỳ ngôn thậm hữu lý trí, đa sở quy giới. Nhất nhật, hữu khách sổ nhân đồng tập, hoặc ngôn hồ úy nhân, hoặc ngôn nhân úy hồ, tương dữ tranh luận. Hồ hốt ngôn viết: “Quân đẳng sở ngôn, giai phi dã. Hồ chi úy nhân, do nhân chi úy hồ dã. Đãn nhân bất tri hồ chi úy nhân, nhi hồ tri nhân chi úy hồ, cố hồ thường thắng nhân nhĩ.” Chúng vấn: “Nhiên tắc hồ chi sở úy giả hà?” Hồ viết: “Hồ chi sở úy giả, hồ dã.” Chúng ngạc nhiên. Hồ viết: “Đồng khí giả tương kỵ, đồng loại giả tương tàn. Nhân chi sở dĩ úy hồ giả, dĩ kỳ dị loại dã. Nhược đồng loại, tắc vô sở dụng kỳ úy hĩ. Thả hồ chi mị nhân, tất tiên huyễn hình, nhược kiến chân hồ, tắc phản vi sở chế. Cố hồ úy hồ dã.” Chúng giai phục kỳ ngôn.","content_vi":"Tại lầu sách nhà kia, có con hồ tinh không hiện hình ra bao giờ, nhưng vẫn thường hay trò chuyện. Chuyện nói rất lí thú, ai nghe cũng phải phục.\n\nMột hôm tân khách họp đông, có con hát mời rượu ước với nhau rằng:\n\n“Ai sợ gì thì cứ phải nói, mà nói vô lý thì phải phạt rượu”\n\nBấy giờ cử tọa lần lượt nói, nào sợ người học rộng, nào sợ người nhà giàu, nào sợ người quan to, nào sợ người nịnh giỏi, nào sợ người khiêm tốn quá, sợ người lễ phép câu nệ quá, nào sợ người thận trọng ít nói, sợ người hay nói nửa chừng… Sau cùng hỏi đến hồ tinh thì hồ tinh đáp: Ta chỉ sợ hồ tinh.\n\nAi nấy đều cười bảo rằng: Người ta sợ hồ tinh mới phải, anh là đồng loại can gì mà sợ? Phạt anh một chén rượu.\n\nHồ tinh cười nói: Thiên ha duy có đồng loại là sợ nhau. Con cùng cha mới tranh gia sản; gái cùng chồng mới hay ghen tuông; kẻ tranh quyền nhau tất là quan lại đồng triều; kẻ tranh lợi nhau tất là lái buôn một chỗ. Bức nhau thì trở ngại nhau, trở ngại nhau thì huynh loát nhau. Nay lại còn người bắn con trĩ thì dùng con trĩ làm mồi, không dùng con gà, con ngỗng; người săn hươu thì dùng con hươu làm mồi không dùng con dê, con lợn. Phàm những việc phản gián đều là phải dùng đồng loại cả. Cứ thế mà suy thì tài nào mà hồ chẳng sợ hồ?\n\nCử tọa đều cho câu nói của hồ tinh là xác đáng.\n\nDuyệt Vi","loi_ban_vi":"Loài yếu sợ loài khỏe, kẻ dại sợ kẻ khôn, như chó sợ hùm, mường mọi sợ người văn minh hoặc vẫn có. Những cái sợ ấy là cái sợ họa hoằn. Chớ cái sợ kẻ đồng loại, kẻ đồng nghiệp mới là cái sợ thường luôn có, cái sợ thực đáng sợ luôn vậy. Người phải sợ người hơn sợ hùm beo, sư tử, kẻ đồng loại, người đồng nghiệp phải sợ nhau hơn là sợ người ngoài? Tại sao? - Tại chỉ có cùng nhau một loài, cùng nhau một nghề mới cạnh tranh, đá chọi lẫn nhau. Mà đã cạnh tranh, tất hay dòm dỏ nhau, tìm cách hại lẫn nhau để cầu lợi cho mình, thậm chí tàn sát nhau đến chôn sống hàng vạn quân, giết chết hàng triệu người mà vẫn không chán. Thảm thương thay! Người hại người!","giai_nghia":["狐 (hú): con cáo, ở đây chỉ hồ tinh, yêu quái do cáo tu luyện thành.","书室 (shūshì): phòng sách, thư phòng.","规戒 (guījiè): khuyên răn, răn dạy.","同气 (tóngqì): cùng một hơi thở, chỉ cùng loài, cùng phe."],"tags":["Ngụ ngôn","Triết lý","Cạnh tranh","Hồ ly"]},{"id":175,"title_vi":"CHỈ BIẾT CÓ MÌNH","title_zh_simp":"惟知有己","title_zh_trad":"惟知有己","title_pinyin":"Wéi zhī yǒu jǐ","title_han_viet":"DUY TRI HỮU KỶ","title_en":"Only Knowing Oneself","source_book":"《菜根譚》","source_author":"洪應明","source_period":"明代","content_zh_simp":"人之所以犯万干罪过者，惟知有己耳。惟知有己，则千方百計，欲己之富，欲己之貴，欲己之生，欲己之樂，欲己之安，欲己之壽，而人之貧賤、危苦、顛覆、死亡，一切不顧。由是生意不屬，天理斷絕，雖具人形，實與禽獸無異。若能克去己私，心量廣大，公明正大，富貴貧賤、憂樂死生，皆與人同，則生意貫徹，人人各得其所，天理完固。是謂己與萬物為一體也。","content_zh_trad":"人之所以犯萬千罪過者，惟知有己耳。惟知有己，則千方百計，欲己之富，欲己之貴，欲己之生，欲己之樂，欲己之安，欲己之壽，而人之貧賤、危苦、顛覆、死亡，一切不顧。由是生意不屬，天理斷絕，雖具人形，實與禽獸無異。若能克去己私，心量廣大，公明正大，富貴貧賤、憂樂死生，皆與人同，則生意貫徹，人人各得其所，天理完固。是謂己與萬物為一體也。","content_pinyin":"Rén zhī suǒ yǐ fàn wàn qiān zuì guò zhě, wéi zhī yǒu jǐ ěr. Wéi zhī yǒu jǐ, zé qiān fāng bǎi jì, yù jǐ zhī fù, yù jǐ zhī guì, yù jǐ zhī shēng, yù jǐ zhī lè, yù jǐ zhī ān, yù jǐ zhī shòu, ér rén zhī pín jiàn, wēi kǔ, diān fù, sǐ wáng, yī qiè bù gù. Yóu shì shēng yì bù shǔ, tiān lǐ duàn jué, suī jù rén xíng, shí yǔ qín shòu wú yì. Ruò néng kè qù jǐ sī, xīn liàng guǎng dà, gōng míng zhèng dà, fù guì pín jiàn, yōu lè sǐ shēng, jiē yǔ rén tóng, zé shēng yì guàn chè, rén rén gè dé qí suǒ, tiān lǐ wán gù. Shì wèi jǐ yǔ wàn wù wéi yī tǐ yě.","content_han_viet":"Nhân chi sở dĩ phạm vạn thiên tội quá giả, duy tri hữu kỷ nhĩ. Duy tri hữu kỷ, tắc thiên phương bách kế, dục kỷ chi phú, dục kỷ chi quý, dục kỷ chi sinh, dục kỷ chi lạc, dục kỷ chi an, dục kỷ chi thọ, nhi nhân chi bần tiện, nguy khổ, điên phúc, tử vong, nhất thiết bất cố. Do thị sinh ý bất thuộc, thiên lý đoạn tuyệt, tuy cụ nhân hình, thực dữ cầm thú vô dị. Nhược năng khắc khứ kỷ tư, tâm lượng quảng đại, công minh chính đại, phú quý bần tiện, ưu lạc tử sinh, giai dữ nhân đồng, tắc sinh ý quán triệt, nhân nhân các đắc kỳ sở, thiên lý hoàn cố. Thị vị kỷ dữ vạn vật vi nhất thể dã.","content_vi":"Người ta sở dĩ đến nỗi phạm phải muôn nghìn tội lỗi là chỉ vì cái bệnh “chỉ biết có mình”. Vì cớ mình chỉ biết có mình, mình mới suy tính thiên phương bách kế, chỉ muốn cho mình giàu, chỉ muốn cho mình sang, chỉ muốn cho mình sống, chỉ muốn cho mình vui, chỉ muốn cho mình yên, chỉ muốn cho mình thọ, còn người ta nghèo hèn, nguy khổ, lụn bại, chết chóc, nhất thiết là chẳng nghĩ gì đến cả. Bởi thế mà sinh ý chẳng liên can, thiên ý đến tuyệt duyệt, tuy có hình người, kỳ thực không khác gì cầm thú.\n\nVí bằng trừ bỏ cái bệnh “chỉ biết có mình” tâm địa rộng rãi, công minh, giàu sang, nghèo hèn, vui khổ, sống chết đều cùng chung với cả loài người thì sinh ý quán triệt, ai nấy được hả lòng mà thiên lý giữ được trọn vẹn. Thế là thân ta cùng với muôn vật là nhất thể vậy.\n\nTiết Huyên","loi_ban_vi":"Kẻ chỉ biết có mình thì lòng hẹp hòi, trí tối tăm, tuy có hình người mà đã mất hết tính trời. Muốn nên người, phải mở rộng lòng thương, đem cái tâm của mình mà suy ra cái tâm của người, cùng chung vui buồn, sống chết với thiên hạ, thì mới mong giữ được đạo làm người.","giai_nghia":["惟知有己: chỉ biết có mình, ích kỷ.","生意: sinh ý, chỉ sự sống còn và phát triển của vạn vật.","天理: thiên lý, lẽ trời, đạo lý tự nhiên.","克去己私: khắc phục lòng ích kỷ của mình."],"tags":["ích kỷ","đạo đức","nhân sinh","tu thân"]},{"id":176,"title_vi":"THỞ DÀI","title_zh_simp":"長嘆","title_zh_trad":"長嘆","title_pinyin":"Cháng tàn","title_han_viet":"TRƯỜNG THÁN","title_en":"Sighing Deeply","source_book":"《海樵子》","source_author":"王崇慶","source_period":"明代","content_zh_simp":"海樵子居常嘆息。門人問曰：先生何嘆之甚也？曰：吾願天下之人相親相愛，干戈盡偃；吾願君子進而小人退；吾願夫婦各安其分，教化明；吾願人民保命營生，歲歲豐樂；吾願人人知道，不負古聖賢之志。願之而不得，是以嘆也。","content_zh_trad":"海樵子居常嘆息。門人問曰：先生何嘆之甚也？曰：吾願天下之人相親相愛，干戈盡偃；吾願君子進而小人退；吾願夫婦各安其分，教化明；吾願人民保命營生，歲歲豐樂；吾願人人知道，不負古聖賢之志。願之而不得，是以嘆也。","content_pinyin":"Hǎi qiáo zǐ jū cháng tàn xī. Mén rén wèn yuē: Xiān shēng hé tàn zhī shèn yě? Yuē: Wú yuàn tiān xià zhī rén xiāng qīn xiāng ài, gān gē jǐn yǎn; wú yuàn jūn zǐ jìn ér xiǎo rén tuì; wú yuàn fū fù gè ān qí fēn, jiào huà míng; wú yuàn rén mín bǎo mìng yíng shēng, suì suì fēng lè; wú yuàn rén rén zhī dào, bù fù gǔ shèng xián zhī zhì. Yuàn zhī ér bù dé, shì yǐ tàn yě.","content_han_viet":"Hải Tiều Tử cư thường thán tức. Môn nhân vấn viết: Tiên sinh hà thán chi thậm dã? Viết: Ngô nguyện thiên hạ chi nhân tương thân tương ái, can qua tận yển; ngô nguyện quân tử tiến nhi tiểu nhân thoái; ngô nguyện phu phụ các an kỳ phận, giáo hóa minh; ngô nguyện nhân dân bảo mệnh dinh sinh, tuế tuế phong lạc; ngô nguyện nhân nhân tri đạo, bất phụ cổ thánh hiền chi chí. Nguyện chi nhi bất đắc, thị dĩ thán dã.","content_vi":"Ông Hải Tiều Tử lúc thư công việc, thường hay thở dài.\n\nMôn nhân hỏi:\n\nTiên sinh hay thở dài như vậy là cớ làm sao?\n\nÔng nói:\n\nTa ước gì các nước trên mặt đất thân yêu nhau để cho bao nhiêu binh cách phải xếp bỏ cả một chỗ.\n\nTa ước gì người quân tử lại tiến dẫn quân tử để cho bao nhiêu quân tiểu nhân phải lui về hết sạch.\n\nTa ước gì những trai có vợ, gái có chồng ai nấy đều yên phận để cho giáo hóa được rõ ràng.\n\nTa ước gì nhân dân biết giữ gìn tính mệnh mà chăm làm ăn để cho hàng năm được mùa sung sướng.\n\nTa ước gì ai ai cũng biết con đường phải mà noi theo để không phụ cái chí Thánh hiền thời cổ.\n\nTa ước mãi mà chưa được, nên ta mới thở dài.","loi_ban_vi":": Các nước mà tàn bạo sát phạt lẫn nhau để tranh giành, cướp đất của nhau. Những quân gian ác mà cầm quyền giữ chính để cho những bậc hiền tài phải vùi dập. Nam nữ mà dâm ô mất hết liêm sỉ, làm cho phong hóa suy đồi. Nhân dân mà ngu dốt, lười biếng để đến nỗi phải đói rách. Học thuật mà sai lầm để đến nỗi đi vào con đường không hay. Cuộc hòa bình, sự kén nhân tài, nền phong hóa, việc dân sinh, sự giáo dục của loài người mà đồi bại đến nỗi như thế thì còn gì mà không khiến cho người ta phải chán ngán, phiến bực cho đời nữa! Ôi! Năm câu ước của Hải Tiều Tử đây bao giờ mới thành, để cho ông cùng cả bao nhiêu người có chút quan niệm đến quốc kế dân sinh, giáo hóa phong tục, không đến nỗi phải cất tiếng lên mà thở dài nữa?","giai_nghia":[":","Hải Tiều Tử: tức Vương Sùng Khánh người đời nhà Minh đỗ Tiến sĩ, là quan đến Lại bộ thượng thư là một nhà trước thuật có tiếng bấy giờ.","海樵子: Hải Tiều Tử, hiệu của tác giả.","干戈: can qua, chỉ chiến tranh.","偃: yển, ngừng, dừng lại.","君子進而小人退: quân tử tiến lên, tiểu nhân lùi lại, ý nói người hiền được dùng, kẻ xấu bị loại."],"tags":["ước vọng","hòa bình","nhân sinh","xã hội"]},{"id":177,"title_vi":"THẰNG ĐIÊN","title_zh_simp":"狂人","title_zh_trad":"狂人","title_pinyin":"Kuáng rén","title_han_viet":"CUỒNG NHÂN","title_en":"The Madman","source_book":"《傳習錄》","source_author":"Vương Dương Minh","source_period":"Nhà Minh","content_zh_simp":"狂人者，其病發時，顛倒狂亂，不避水火，觸冒荊棘，欣欣然有喜色，歌詠自得，自以為是。及遇良醫，藥石所及，病漸愈而神漸清。親戚故舊，為述其病時之狀，則蹙額而苦之；為述其藥後之效，則欣然有喜色，而恨遇醫之晚也。夫狂病之可治者，猶如此。若夫病入膏肓，不可救藥，則非惟不納藥石，反詈醫者為亂其常性也。","content_zh_trad":"狂人者，其病發時，顛倒狂亂，不避水火，觸冒荊棘，欣欣然有喜色，歌詠自得，自以為是。及遇良醫，藥石所及，病漸愈而神漸清。親戚故舊，為述其病時之狀，則蹙額而苦之；為述其藥後之效，則欣然有喜色，而恨遇醫之晚也。夫狂病之可治者，猶如此。若夫病入膏肓，不可救藥，則非惟不納藥石，反詈醫者為亂其常性也。","content_pinyin":"Kuáng rén zhě, qí bìng fā shí, diān dǎo kuáng luàn, bù bì shuǐ huǒ, chù mào jīng jí, xīn xīn rán yǒu xǐ sè, gē yǒng zì dé, zì yǐ wéi shì. Jí yù liáng yī, yào shí suǒ jí, bìng jiàn yù ér shén jiàn qīng. Qīn qī gù jiù, wèi shù qí bìng shí zhī zhuàng, zé cù é ér kǔ zhī; wèi shù qí yào hòu zhī xiào, zé xīn rán yǒu xǐ sè, ér hèn yù yī zhī wǎn yě. Fū kuáng bìng zhī kě zhì zhě, yóu rú cǐ. Ruò fū bìng rù gāo huāng, bù kě jiù yào, zé fēi wéi bù nà yào shí, fǎn lì yī zhě wéi luàn qí cháng xìng yě.","content_han_viet":"Cuồng nhân giả, kỳ bệnh phát thời, điên đảo cuồng loạn, bất tị thủy hỏa, xúc mạo kinh cức, hân hân nhiên hữu hỷ sắc, ca vịnh tự đắc, tự dĩ vi thị. Cập ngộ lương y, dược thạch sở cập, bệnh tiệm dũ nhi thần tiệm thanh. Thân thích cố cựu, vị thuật kỳ bệnh thời chi trạng, tắc súc ngạch nhi khổ chi; vị thuật kỳ dược hậu chi hiệu, tắc hân nhiên hữu hỷ sắc, nhi hận ngộ y chi vãn dã. Phù cuồng bệnh chi khả trị giả, do như thử. Nhược phù bệnh nhập cao hoang, bất khả cứu dược, tắc phi duy bất nạp dược thạch, phản lệ y giả vi loạn kỳ thường tính dã.","content_vi":"Các anh có trông thấy người phải bệnh điên bao giờ không?\n\nĐương lúc hôn mê rồ dại, người điên lăn xuống nước dẫm lên lửa, đâm vào chông gai, mặt hớn hở miệng nghêu ngao, vẫn tự tin cho mình là phải.\n\nĐến khi gặp thầy thuốc hay, hết cách chạy chữa, người điên khỏi dần và tỉnh lại.Bà con kể lại chuyện người ấy lắm lúc đang có bệnh điên, thì người ấy rùng mình lấy làm khổ. Bà con kể lại chuyện người ấy lúc uống thuốc tỉnh dần, thì người ấy vui vẻ lấy làm mừng và ân hận gặp thầy, gặp thuốc muộn quá.\n\nẤy người phải bệnh điên vừa còn chữa được thì như thế. Chớ nếu là người phải bệnh điên nặng không thể chữa được, thì người ấy không những không chịu phục thuốc lại còn mắng thầy thuốc làm cho mất tính thường của mình nữa.","loi_ban_vi":": Bệnh điên nói trong bài đây tức là lòng tự dục nó làm cho con người mê lú như điên cuồng không còn biết phải trái là gì nữa. Nếu người mắc bệnh tư dục còn nhẹ, may nhờ có người dạy bảo cho, thì còn có thể hối ngộ sửa nết lại mà sửa dần tính xấu đi được. Nhưng nếu là người mắc bệnh tư dục nặng quá hoặc có ai muốn giáo hóa cho, thì người ấy chẳng những không hối ngộ sửa nết lại được mà lại còn trách oán cả người giáo hóa, bảo người ấy là làm mình mất cả tính thường đi. Ôi! Đáng sợ lắm thay! Lương tâm mất đi một vài phần, thì còn có thể cứu được, chớ lương tâm mà đã táng tận, thì còn gì là người mong hóa đi được nữa. Cho nên ta phải cố giữ lấy lương tâm. Chớ bảo một cái lỗi nhỏ có phạm vào cũng không can chi. Cái nết đã quen đi rồi, thì khác nào như xuống dốc chỉ có phần lăn xuống, thụt sa lầy, chỉ có phần thụt xuống, chớ không tài nào lăn trở lại hay ngoi lên được nữa.","giai_nghia":["Chú thích 1: 'Cuồng nhân' chỉ người mắc bệnh điên, ở đây ẩn dụ cho người bị tư dục che lấp lương tâm.","Chú thích 2: 'Cao hoang' (膏肓) là vùng ngực và tim, chỉ bệnh nặng khó chữa, ý nói tư dục đã ăn sâu không thể cứu vãn."],"tags":["tự dục","lương tâm","giáo hóa","bệnh điên"]},{"id":178,"title_vi":"NGƯỜI XUẤT TỤC","title_zh_simp":"出世者","title_zh_trad":"出世者","title_pinyin":"Chū shì zhě","title_han_viet":"XUẤT THẾ GIẢ","title_en":"The Transcendent One","source_book":"《抱朴子》","source_author":"Cát Hồng","source_period":"Đông Tấn","content_zh_simp":"雷霆不能細其聲以協鐘磬之和；日月不能曲其光以通幽隱之隙；江河不能斂其流以順涉者之欲；高山不能縮其巔以適攀者之便。故大車不能縮其輪以適狹路，高士不能屈其節以同流俗。","content_zh_trad":"雷霆不能細其聲以協鐘磬之和；日月不能曲其光以通幽隱之隙；江河不能斂其流以順涉者之欲；高山不能縮其巔以適攀者之便。故大車不能縮其輪以適狹路，高士不能屈其節以同流俗。","content_pinyin":"Léi tíng bù néng xì qí shēng yǐ xié zhōng qìng zhī hé; rì yuè bù néng qū qí guāng yǐ tōng yōu yǐn zhī xì; jiāng hé bù néng liǎn qí liú yǐ shùn shè zhě zhī yù; gāo shān bù néng suō qí diān yǐ shì pān zhě zhī biàn. Gù dà chē bù néng suō qí lún yǐ shì xiá lù, gāo shì bù néng qū qí jié yǐ tóng liú sú.","content_han_viet":"Lôi đình bất năng tế kỳ thanh dĩ hiệp chung khánh chi hòa; nhật nguyệt bất năng khúc kỳ quang dĩ thông u ẩn chi khích; giang hà bất năng liễm kỳ lưu dĩ thuận thiệp giả chi dục; cao sơn bất năng súc kỳ điên dĩ thích phàn giả chi tiện. Cố đại xa bất năng súc kỳ luân dĩ thích hiệp lộ, cao sĩ bất năng khuất kỳ tiết dĩ đồng lưu tục.","content_vi":"Tiếng sấm, tiếng sét không làm thế nào cho nhỏ được tiếng để hòa với tiếng chuông tiếng khánh. Mặt trời, mặt trăng không làm thế nào cho cong được ánh sáng để thấu đến ngõ hẻm, hang cùng. Sông to không làm thế nào mà thu bờ hẹp lại để vừa ý kẻ muốn lội qua. Núi cao không làm thế nào mà rút được ngọn thấp xuống để chiều lòng kẻ muốn trèo chơi.\n\nCho nên, cũng như cái xe to không thể thu nhỏ bánh để tạm đi qua đường hẹp, người cao sĩ không chịu khuất khúc để hòa đồng với thế lực.","loi_ban_vi":": Chính ý bài này cốt tỏ rõ thế nào là một người cao sĩ xuất tục.\n\nNhưng tác giả không định nghĩa người xuất tục là gì, tác giả tìm mấy sự ở ngoài mà ví vào người, khiến cho ta đọc hiểu rõ ngay, tục với xuất tục đại để khác nhau như thế nào. Tiếng sấm vời tiếng chuông, ánh sáng mặt trời với ngõ hẻm, sông to với người muốn lội, núi cao với người muốn trèo, xe bánh rộng với đường hẹp, khác nhau xa làm sao, không đon được nhau thế nào, thì người xuất tục khác người tục và không hòa đồng với người tục cũng như thế.","giai_nghia":[": Bão Phác Tử: tức ông Cát Hồng, người đời nhà Tấn, có làm pho sách nhan là Bão Phác Tử, vừa nói về thần tiên vừa nói về chính trị.","Chú thích 1: 'Xuất thế giả' (出世者) chỉ người thoát tục, sống cao khiết không màng danh lợi.","Chú thích 2: 'Lưu tục' (流俗) nghĩa là thói đời, tục lụy."],"tags":["xuất thế","cao sĩ","khí tiết","ẩn dật"]},{"id":179,"title_vi":"VỢ THẦY KIỆN","title_zh_simp":"讼师之妻","title_zh_trad":"訟師之妻","title_pinyin":"Sòngshī zhī qī","title_han_viet":"TỤNG SƯ CHI THÊ","title_en":"The Litigator's Wife","source_book":"《古學精華》","source_author":"Nguyễn Văn Ngọc & Trần Lê Nhân","source_period":"Nguyễn dynasty (20th century)","content_zh_simp":"有讼师，善刀笔。每为人作状，欲罗织多人，而思虑未深，言辞未密，则默坐构思。常戒家人，有客来，勿通，虽妻亦避居别室。其妻素与邻人目挑心许，以无隙可乘，窥伺逾年，未得亲近。至是知其故，每值讼师构思，则往絮语，故扰之，使怒而逐，避之他所。由是妻与邻人得常往来，积数年，人无知者。后讼师以构思过度死。妻有孕，夫家讼之。官究其私通之由，妻不能隐，尽吐其实。官抚案叹曰：“讼师笔巧，天巧更胜！”","content_zh_trad":"有訟師，善刀筆。每為人作狀，欲羅織多人，而思慮未深，言辭未密，則默坐構思。常戒家人，有客來，勿通，雖妻亦避居別室。其妻素與鄰人目挑心許，以無隙可乘，窺伺逾年，未得親近。至是知其故，每值訟師構思，則往絮語，故擾之，使怒而逐，避之他所。由是妻與鄰人得常往來，積數年，人無知者。後訟師以構思過度死。妻有孕，夫家訟之。官究其私通之由，妻不能隱，盡吐其實。官撫案嘆曰：“訟師筆巧，天巧更勝！”","content_pinyin":"Yǒu sòngshī, shàn dāobǐ. Měi wéi rén zuò zhuàng, yù luózhī duō rén, ér sīlǜ wèi shēn, yáncí wèi mì, zé mòzuò gòusī. Cháng jiè jiārén, yǒu kè lái, wù tōng, suī qī yì bì jū bié shì. Qí qī sù yǔ línrén mù tiǎo xīn xǔ, yǐ wú xì kě chéng, kuīsì yú nián, wèi dé qīnjìn. Zhì shì zhī qí gù, měi zhí sòngshī gòusī, zé wǎng xùyǔ, gù rǎo zhī, shǐ nù ér zhú, bì zhī tā suǒ. Yóu shì qī yǔ línrén dé cháng wǎnglái, jī shù nián, rén wú zhī zhě. Hòu sòngshī yǐ gòusī guòdù sǐ. Qī yǒu yùn, fūjiā sòng zhī. Guān jiū qí sītōng zhī yóu, qī bù néng yǐn, jǐn tǔ qí shí. Guān fǔ àn tàn yuē: “Sòngshī bǐ qiǎo, tiān qiǎo gèng shèng!”","content_han_viet":"Hữu tụng sư, thiện đao bút. Mỗi vị nhân tác trạng, dục la chức đa nhân, nhi tư lự vị thâm, ngôn từ vị mật, tắc mặc tọa cấu tứ. Thường giới gia nhân, hữu khách lai, vật thông, tuy thê diệc tị cư biệt thất. Kỳ thê tố dữ lân nhân mục khiêu tâm hứa, dĩ vô khích khả thừa, khuy tứ du niên, vị đắc thân cận. Chí thị tri kỳ cố, mỗi trị tụng sư cấu tứ, tắc vãng nhứ ngữ, cố nhiễu chi, sử nộ nhi trục, tị chi tha sở. Do thị thê dữ lân nhân đắc thường vãng lai, tích sổ niên, nhân vô tri giả. Hậu tụng sư dĩ cấu tứ quá độ tử. Thê hữu dựng, phu gia tụng chi. Quan cứu kỳ tư thông chi do, thê bất năng ẩn, tận đồ kỳ thực. Quan phủ án thán viết: “Tụng sư bút xảo, thiên xảo cánh thắng!”","content_vi":"Có một người thầy kiện rất giỏi. Mỗi khi thảo đơn kiện cho ai, định buộc tội gạt lỗi cho nhiều người mà ý nghĩ chưa được sâu sắc, lời nói chưa được chặt chẽ, thì cứ ngồi yên một chỗ để cấu tứ. Những lúc ấy, thường dặn người nhà, có khách hỏi, không được cho vào, cả đến vợ cũng phải lánh xa ở một buồng khác.\n\nVợ người thầy kiện trước kia vẫn đã cùng người láng giềng đầu mày cuối mắt chỉ vì không dịp, không chỗ cho nên dòm dỏ đã hơn một năm, mà chưa được thân cận với nhau. Bây giờ biết thế, mỗi khi gặp người thầy kiện cấu tứ thì người vợ bèn lại chuyện trò quấy rối để phải mắng, phải đuổi tránh đi chỗ khác.\n\nThành vì thế mà người vợ với người láng giềng được bao nhiêu cơ hội đi lại với nhau luôn, kể hàng bao nhiêu năm mà không ai biết.\n\nSau người thầy kiện vì cấu tứ mãi mà chết. Người vợ chửa hoang phải nhà chồng kiện.\n\nQuan sát xét căn do việc đi lại với ai. Người vợ thầy kiện phải thú thực.\n\nQuan vỗ bàn, thở dài nói:\n\nNgòi bút của người thầy kiện đã khéo, ai ngờ cơ trời còn khéo hơn!\n\nDuyệt Vi","loi_ban_vi":": Thầy kiện tức là luật sư. Luật sư là người hơn ai hết, hiểu thấu các tinh túy của luật pháp, nếu rõ nỗi u ẩn của nhân dân. Chính phủ nhờ có luật sư mà thêm sáng việc, quần chúng nhờ có luật sư mà đỡ hàm oan. Vậy làm thầy kiện mà gỡ tội cho kẻ oan, đáng trọng biết bao nhiêu, thì buộc tội cho người ngay hay bênh vực kẻ gian ác, đáng khinh bấy nhiêu. Người thầy kiện nói trong bài này là một tay giảo hoạt chắc đã nhiều lần, lấy lý mà thắt người ngay vào tội ghê gớm lắm. Bởi vậy tác giả mới thuật lại chuyện này, nói người thầy kiện vừa tự hại mình, lại để cho vợ phản mình, có ý dạy người tuy khôn khéo đến đâu, cũng không lọt được vành Tạo vật. Tạo vật thường vẫn ghét người xảo, bao giờ cũng bắt sẵn cái cân để cân lại cho công bằng.\n\nNhiều khi muốn hại người, người chẳng thấy đâu, lại chỉ thấy cái hại nó quay ngay vào chính mình trước.","giai_nghia":["讼师 (sòngshī): người chuyên viết đơn kiện, luật sư thời xưa.","刀笔 (dāobǐ): ngòi bút sắc như dao, chỉ nghề viết đơn kiện.","罗织 (luózhī): dựng chuyện, bịa đặt tội cho người khác.","目挑心许 (mù tiǎo xīn xǔ): đưa tình bằng mắt, trong lòng đã ưng thuận.","构思 (gòusī): suy nghĩ, cấu tứ, sắp xếp ý tứ."],"tags":["Trí tuệ","Đạo đức","Luật sư","Báo ứng","Cổ học tinh hoa"]},{"id":180,"title_vi":"ÁC NGẦM","title_zh_simp":"阴恶","title_zh_trad":"陰惡","title_pinyin":"Yīn è","title_han_viet":"ÂM ÁC","title_en":"Hidden Malice","source_book":"《韓非子》","source_author":"Hàn Phi Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"魏王遗荆王美人，荆王甚悦之。夫人郑袖知王悦爱之也，亦悦爱之，甚于王。美人所欲为，郑袖必为之备。王曰：“夫人知我爱新人也，其悦爱之甚于寡人，此孝子之所以养亲，忠臣之所以事君也。”夫人知王不以己为妒也，因谓新人曰：“王甚爱子，然恶子之鼻。子见王，常掩鼻，则王长幸子矣。”新人从之，每见王，常掩鼻。王谓夫人曰：“新人见寡人常掩鼻，何也？”夫人曰：“不知也。”王强问之，对曰：“顷尝言恶闻王臭。”王怒曰：“劓之！”夫人先诫御者曰：“王适有言，必亟从命。”御者遂揄刀而劓美人。","content_zh_trad":"魏王遺荊王美人，荊王甚悅之。夫人鄭袖知王悅愛之也，亦悅愛之，甚於王。美人所欲為，鄭袖必為之備。王曰：“夫人知我愛新人也，其悅愛之甚於寡人，此孝子之所以養親，忠臣之所以事君也。”夫人知王不以己為妒也，因謂新人曰：“王甚愛子，然惡子之鼻。子見王，常掩鼻，則王長幸子矣。”新人從之，每見王，常掩鼻。王謂夫人曰：“新人見寡人常掩鼻，何也？”夫人曰：“不知也。”王強問之，對曰：“頃嘗言惡聞王臭。”王怒曰：“劓之！”夫人先誡御者曰：“王適有言，必亟從命。”御者遂揄刀而劓美人。","content_pinyin":"Wèi wáng yí Jīng wáng měirén, Jīng wáng shèn yuè zhī. Fūrén Zhèng Xiù zhī wáng yuè ài zhī yě, yì yuè ài zhī, shèn yú wáng. Měirén suǒ yù wéi, Zhèng Xiù bì wèi zhī bèi. Wáng yuē: “Fūrén zhī wǒ ài xīnrén yě, qí yuè ài zhī shèn yú guǎrén, cǐ xiàozǐ zhī suǒyǐ yǎng qīn, zhōngchén zhī suǒyǐ shì jūn yě.” Fūrén zhī wáng bù yǐ jǐ wéi dù yě, yīn wèi xīnrén yuē: “Wáng shén ài zǐ, rán wù zǐ zhī bí. Zǐ jiàn wáng, cháng yǎn bí, zé wáng cháng xìng zǐ yǐ.” Xīnrén cóng zhī, měi jiàn wáng, cháng yǎn bí. Wáng wèi fūrén yuē: “Xīnrén jiàn guǎrén cháng yǎn bí, hé yě?” Fūrén yuē: “Bù zhī yě.” Wáng qiǎng wèn zhī, duì yuē: “Qǐng cháng yán wù wén wáng chòu.” Wáng nù yuē: “Yì zhī!” Fūrén xiān jiè yùzhě yuē: “Wáng shì yǒu yán, bì jí cóng mìng.” Yùzhě suì yú dāo ér yì měirén.","content_han_viet":"Ngụy vương di Kinh vương mỹ nhân, Kinh vương thậm duyệt chi. Phu nhân Trịnh Tụ tri vương duyệt ái chi dã, diệc duyệt ái chi, thậm vu vương. Mỹ nhân sở dục vi, Trịnh Tụ tất vi chi bị. Vương viết: “Phu nhân tri ngã ái tân nhân dã, kỳ duyệt ái chi thậm vu quả nhân, thử hiếu tử chi sở dĩ dưỡng thân, trung thần chi sở dĩ sự quân dã.” Phu nhân tri vương bất dĩ kỷ vi đố dã, nhân vị tân nhân viết: “Vương thậm ái tử, nhiên ác tử chi tị. Tử kiến vương, thường yểm tị, tắc vương trường hạnh tử hĩ.” Tân nhân tòng chi, mỗi kiến vương, thường yểm tị. Vương vị phu nhân viết: “Tân nhân kiến quả nhân thường yểm tị, hà dã?” Phu nhân viết: “Bất tri dã.” Vương cưỡng vấn chi, đối viết: “Khoảnh thường ngôn ác văn vương xú.” Vương nộ viết: “Nghị chi!” Phu nhân tiên giới ngự giả viết: “Vương thích hữu ngôn, tất cấp tòng mệnh.” Ngự giả toại du đao nhi nghị mỹ nhân.","content_vi":"Vua Ngụy đem một người con gái đẹp dâng vua Kinh. Vua Kinh lấy làm thích và yêu lắm.\n\nPhu nhân là Trịnh Tụ biết thế, chính mình cũng yêu mến người con gái, có khi lại yêu mến hơn vua. Người con gái ấy muốn ăn mặc, chơi bời gì, phu nhân cũng đều sắm sửa cho đủ cả.\n\nVua khen:\n\nPhu nhân biết ta yêu mến tân nhân, mà đem lòng yêu mến tân nhân quá ta thật có khác nào như người con có hiếu thờ cha mẹ người bầy tôi trung thờ vua vậy.\n\nPhu nhân đã chắc bụng vua không ngờ mình là người ghen, nhân dịp mới bảo tân nhân rằng:\n\nVua yêu mến nhà ngươi lắm, nhưng ghét cái mũi ngươi. Giá từ nay, hễ ngươi trông thầy vua, ngươi cứ che lấy cái mũi đi, thì vua yêu mến được mãi đấy.\n\nTân nhân theo lời, từ đó mỗi khi trông thấy vua, là che mũi lại.\n\nVua thấy thế, bảo phu nhân rằng:\n\nTân nhân trông thấy ta mà cứ che mũi là ý làm sao?\n\nPhu nhân trước thưa:\n\nTôi không được rõ.\n\nĐợi vua cưỡng hỏi nữa, mới thưa rằng:\n\nTôi nghe đâu như tân nhân có nói hơi vua khí nặng lấy làm khó chịu.\n\nVua phát giận bảo:\n\nÀ nếu thế thì xẻo mũi nó đi.\n\nVua nói đoạn, thì một viên quân hầu cầm dao ra xẻo ngay mũi tân nhân. Vì phu nhân đã dặn trước, hễ thầy vua phán gì, là làm ngay lập tức.","loi_ban_vi":":\n\nPhàm người đời cái gì đáng ghét mà lại yêu, cái gì muốn tranh mà lại nhường, làm trái hẳn thường tình, đều là những người dụng tâm một cách nham hiểm cả. Sự yêu ấy chính là cái giết ngầm, sự nhường ấy chính là cái cướp sạch. Đáng thương cho những kẻ ngu mê nông nổi dạ thật tin người để đến nỗi mắc vào lưới cạm mà không biết.\n\nTrong chuyện này người con gái thì khở dại, vua Kinh thì quá tin. Hai người có hai cái tật như thế, thì tránh sao cho khỏi sự dụng tâm độc ác của phu nhân. Than ôi! Người đang xinh đẹp mà bị cắt mất mũi, bụng đang yêu mến mà để hỏng mất của yêu, ghê gớm thay cho cái lòng nham hiểm, cái mưu thâm độc của Trịnh Tụ.","giai_nghia":[":","Ngụy: tên một nước về thời Chiến Quốc ở về phía bắc tỉnh Hà Nam và phía tây nam tỉnh Sơn Tây ngày nay.","Kinh: tức là nước Sở thời Chiến Quốc ở về Hồ Nam, Hồ Bắc ngày nay.","郑袖 (Zhèng Xiù): tên một phu nhân của vua Sở Hoài Vương, nổi tiếng gian trá.","劓 (yì): hình phạt cắt mũi thời cổ.","御者 (yùzhě): người hầu cận, thị vệ.","掩鼻 (yǎn bí): che mũi."],"tags":["Mưu kế","Ghen tuông","Hãm hại","Ngụy trang","Hàn Phi Tử"]},{"id":181,"title_vi":"BẢY CÔ VỢ LẼ","title_zh_simp":"七妾","title_zh_trad":"七妾","title_pinyin":"Qī qiè","title_han_viet":"THẤT THIẾP","title_en":"Seven Concubines","source_book":"《佛印與東坡》","source_author":"佚名","source_period":"Tống triều","content_zh_simp":"佛印与东坡友善，常相戏谑。东坡有妾七人。一日，佛印戏谓东坡曰：“君何多妾？肯以第七妾见赠乎？”东坡笑曰：“有何不可？”归以语妾。妾曰：“此戏言耳。”东坡曰：“吾已许之，不可失信。卿姑试之。”至暮，东坡命车送妾至佛印处。佛印迎入，闭之室中，垂帘。室前置七火炉，皆炽炭。佛印历炉而过，往返达旦。天明，命车送妾归。妾具述其事。东坡悟曰：“七炉者，七妾也。彼以我沉溺色欲，故示此以警我耳。”欲海慈航。","content_zh_trad":"佛印與東坡友善，常相戲謔。東坡有妾七人。一日，佛印戲謂東坡曰：“君何多妾？肯以第七妾見贈乎？”東坡笑曰：“有何不可？”歸以語妾。妾曰：“此戲言耳。”東坡曰：“吾已許之，不可失信。卿姑試之。”至暮，東坡命車送妾至佛印處。佛印迎入，閉之室中，垂簾。室前置七火爐，皆熾炭。佛印歷爐而過，往返達旦。天明，命車送妾歸。妾具述其事。東坡悟曰：“七爐者，七妾也。彼以我沉溺色欲，故示此以警我耳。”欲海慈航。","content_pinyin":"Fóyìn yǔ Dōngpō yǒushàn, cháng xiāng xìxuè. Dōngpō yǒu qiè qī rén. Yī rì, Fóyìn xì wèi Dōngpō yuē: “Jūn hé duō qiè? Kěn yǐ dì qī qiè jiàn zèng hū?” Dōngpō xiào yuē: “Yǒu hé bùkě?” Guī yǐ yǔ qiè. Qiè yuē: “Cǐ xì yán ěr.” Dōngpō yuē: “Wú yǐ xǔ zhī, bùkě shīxìn. Qīng gū shì zhī.” Zhì mù, Dōngpō mìng chē sòng qiè zhì Fóyìn chù. Fóyìn yíng rù, bì zhī shì zhōng, chuí lián. Shì qián zhì qī huǒlú, jiē chì tàn. Fóyìn lì lú ér guò, wǎngfǎn dá dàn. Tiānmíng, mìng chē sòng qiè guī. Qiè jù shù qí shì. Dōngpō wù yuē: “Qī lú zhě, qī qiè yě. Bǐ yǐ wǒ chénnì sèyù, gù shì cǐ yǐ jǐng wǒ ěr.” Yù hǎi cí háng.","content_han_viet":"Phật Ấn dữ Đông Pha hữu thiện, thường tương hí hước. Đông Pha hữu thiếp thất nhân. Nhất nhật, Phật Ấn hí vị Đông Pha viết: “Quân hà đa thiếp? Khẳng dĩ đệ thất thiếp kiến tặng hồ?” Đông Pha tiếu viết: “Hữu hà bất khả?” Quy dĩ ngữ thiếp. Thiếp viết: “Thử hí ngôn nhĩ.” Đông Pha viết: “Ngô dĩ hứa chi, bất khả thất tín. Khanh cô thí chi.” Chí mộ, Đông Pha mệnh xa tống thiếp chí Phật Ấn xứ. Phật Ấn nghênh nhập, bế chi thất trung, thùy liêm. Thất tiền trí thất hỏa lô, giai xí thán. Phật Ấn lịch lô nhi quá, vãng phản đạt đán. Thiên minh, mệnh xa tống thiếp quy. Thiếp cụ thuật kỳ sự. Đông Pha ngộ viết: “Thất lô giả, thất thiếp dã. Bỉ dĩ ngã trầm nịch sắc dục, cố thị thử dĩ cảnh ngã nhĩ.” Dục Hải Từ Hàng.","content_vi":"Ông Phật Ấn là bạn thân của ông Tô Đông Pha, khi trò chuyện hai ông thường đùa bỡn cợt nhả.\n\nĐông Pha có bảy người thiếp.\n\nMột hôm, Phật Ấn đùa bảo Đông Pha rằng:\n\nSao mà bác lấy nhiều thiếp thế? Bác có chịu bằng lòng tặng tôi được cô thiếp thứ bảy không?\n\nĐông Pha cười nói:\n\nSao lại không được?\n\nRồi Đông Pha về nhà đem chuyện nói vời người thiếp.\n\nNgười thiếp thưa:\n\nĐó là chuyện nói đùa nhau chứ gì.\n\nĐông Pha nói:\n\nTa đã hứa rằng cho, thì không nên sai lời. Bây giờ nàng cứ xem ra thế nào.\n\nChập tối. Tô Đông Pha cho xe người thiếp đến.\n\nPhật Ấn đón người thiếp cho vào nắm trong buồng, rổi bỏ màn xuống.\n\nTrước buồng đã đặt sẵn bảy cái hỏa lò cái nào cũng đầy than đỏ rực. Ông bước qua từng cái một, bước qua hết một lượt, rồi lại bước lại cứ thế suốt đêm. Đến sáng ông cho xe người thiếp về trả.\n\nNgười thiếp về kể lại đầu đuôi câu chuyện. Đông Pha chợi nghĩ ra, nói rằng:\n\nBảy cái hỏa lò là chỉ vào bảy người thiếp của ta, giống như bảy cái hang lửa. Ông làm ra như thế, là ông có ý bảo ông đã vượt ra được ngoài sắc dục còn ta thì lại sa ngã đắm đuối vào đấy. Ông này ý muốn làm cho ta tỉnh ngộ chăng.\n\nDục Hải Từ Hàng.","loi_ban_vi":": Đông Pha là một bậc tài học phong lưu, Phật Ấn là một nhà tu hành đắc đạo. Người phong lưu thì chỉ cốt đời người cho sung sướng là thỏa lòng, nhà tu hành thì chỉ cốt trí tuệ cho cao minh là mãn nguyện. Cứ bình tĩnh mà nói, thì ai là người chẳng thích phong lưu. Nhưng có biết đâu, “Phong lưu là cạm ở đời, hồng nhan là bả con người tài hoa”. Bao nhiêu thị dục thường hại cho người ta hết cả. Xưa nay kể sao cho xiết được những kẻ vì thị dục, mà mất hết cả tính thiêng liêng mầu nhiệm, mà hỏng hết cả phẩm giá, thanh danh. Trong các món thị dục, thì sắc dục có phần tệ nhất. Dâm là cái tội ở đầu muôn tội. Muỗn tránh tội ác, cần phải giới dâm.\n\nPhật Ấn đây thật có ý thương có lòng yêu Đông Pha lắm. Chơi với anh em mà bày trò ra như thế để khuyên anh em. Cũng là một cách thuyết pháp thực tế mà cảm hóa được người ta sâu xa vậy.","giai_nghia":[":","Phật Ấn: tên một vị cao tăng có tài hùng biện đời nhà Tống.","Tô Đông Pha: tức là Tô Thức, người đời nhà Tống có tiếng giỏi về văn chương, thi, họa.","Phật Ấn: Thiền sư nổi tiếng thời Tống, bạn của Tô Đông Pha.","Tô Đông Pha: Nhà văn, nhà thơ lớn thời Bắc Tống.","Thiếp: Vợ lẽ, người vợ thứ.","Hỏa lô: Lò lửa, bếp lò."],"tags":["Phật giáo","Tô Đông Pha","Sắc dục","Khuyên răn"]},{"id":182,"title_vi":"GÕ NHỊP MÀ HÁT","title_zh_simp":"鼓盆而歌","title_zh_trad":"鼓盆而歌","title_pinyin":"Gǔ pén ér gē","title_han_viet":"CỔ BÀN NHI CA","title_en":"Drumming on a Basin and Singing","source_book":"《莊子·至樂》","source_author":"Trang Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"莊子妻死，惠子吊之，莊子則方箕踞鼓盆而歌。惠子曰：“與人居，長子老身，死不哭亦足矣，又鼓盆而歌，不亦甚乎！”莊子曰：“不然。是其始死也，我獨何能無概然！察其始而本無生，非徒無生也而本無形，非徒無形也而本無氣。雜乎芒芴之間，變而有氣，氣變而有形，形變而有生，今又變而之死，是相與為春秋冬夏四時行也。人且偃然寢於巨室，而我噭噭然隨而哭之，自以為不通乎命，故止也。”","content_zh_trad":"莊子妻死，惠子吊之，莊子則方箕踞鼓盆而歌。惠子曰：“與人居，長子老身，死不哭亦足矣，又鼓盆而歌，不亦甚乎！”莊子曰：“不然。是其始死也，我獨何能無概然！察其始而本無生，非徒無生也而本無形，非徒無形也而本無氣。雜乎芒芴之間，變而有氣，氣變而有形，形變而有生，今又變而之死，是相與為春秋冬夏四時行也。人且偃然寢於巨室，而我噭噭然隨而哭之，自以為不通乎命，故止也。”","content_pinyin":"Zhuāngzǐ qī sǐ, Huìzǐ diào zhī, Zhuāngzǐ zé fāng jījù gǔ pén ér gē. Huìzǐ yuē: “Yǔ rén jū, zhǎng zǐ lǎo shēn, sǐ bù kū yì zú yǐ, yòu gǔ pén ér gē, bù yì shén hū!” Zhuāngzǐ yuē: “Bù rán. Shì qí shǐ sǐ yě, wǒ dú hé néng wú gài rán! Chá qí shǐ ér běn wú shēng, fēi tú wú shēng yě ér běn wú xíng, fēi tú wú xíng yě ér běn wú qì. Zá hū máng wù zhī jiān, biàn ér yǒu qì, qì biàn ér yǒu xíng, xíng biàn ér yǒu shēng, jīn yòu biàn ér zhī sǐ, shì xiāng yǔ wèi chūn qiū dōng xià sì shí xíng yě. Rén qiě yǎn rán qǐn yú jù shì, ér wǒ jiào jiào rán suí ér kū zhī, zì yǐwéi bù tōng hū mìng, gù zhǐ yě.”","content_han_viet":"Trang Tử thê tử, Huệ Tử điếu chi, Trang Tử tắc phương ki cứ cổ bồn nhi ca. Huệ Tử viết: “Dữ nhân cư, trưởng tử lão thân, tử bất khốc diệc túc hĩ, hựu cổ bồn nhi ca, bất diệc thậm hồ!” Trang Tử viết: “Bất nhiên. Thị kỳ thủy tử dã, ngã độc hà năng vô khái nhiên! Sát kỳ thủy nhi bản vô sinh, phi đồ vô sinh dã nhi bản vô hình, phi đồ vô hình dã nhi bản vô khí. Tạp hồ mang vật chi gian, biến nhi hữu khí, khí biến nhi hữu hình, hình biến nhi hữu sinh, kim hựu biến nhi chi tử, thị tương dữ vi xuân thu đông hạ tứ thời hành dã. Nhân thả yểm nhiên tẩm ư cự thất, nhi ngã khiếu khiếu nhiên tùy nhi khốc chi, tự dĩ vi bất thông hồ mệnh, cố chỉ dã.”","content_vi":"Vợ Trang Tử chết.\n\nHuệ Tử đến viếng, thấy Trang Tử đang ngồi duỗi xoạc hai chân, tay gõ nhịp vào bồn nước mà hát.\n\nHuệ Tử bảo: Mình đã ăn ở với người ta, có con với người ta. Bây giờ người ta già, người ta chết, mình đã không khóc thì cũng là đủ, lại còn ngồi gõ bồn mà hát, chẳng là quá lắm ư!\n\nTrang Tử nói: Không phải thế. Lúc vợ tôi mới chết tôi cũng lấy làm thương tiếc lắm. Nhưng xét cho cùng thì vốn là không có gì cả, chẳng những không có gì mà vốn lại không có hình, chẳng những không có hình mà vốn lại không có khí, cái người ấy chẳng qua là tạp chất biến mà hóa ra có khí, khí biến mà hóa ra có hình, hình biến mà hóa ra có sinh, có sinh lại biến ra có tử, có khác nào như xuân, hạ, thu, đông, bốn mùa cứ tuần hoàn đi lại không?\n\nVả lại người ta chết là trở về với tạo hóa, cũng như người ra ngoài mà về nhà, thế mà ta cứ còn theo đuổi nghêu ngao khóc lóc, thì chính ta chẳng hóa ra không biết mệnh trời ư? Cho nên ta không khóc mà lại còn hát nữa.","loi_ban_vi":"Vợ chết đáng là một nỗi đau đớn to, chồng nào mà cầm lòng không thương, không xót, không tiếc, không sụt sùi giọt ngắn giọt dài cho đậu.\n\nThường tình như thế. Nên Huệ Tử trách Trang Tử chỉ vì lẽ thường tình.\n\nTrang Tử đáp thế lại là lấy một cái lẽ cao xa, siêu việt hẳn ra ngoài cái thường tình. Ta không rõ cái thuyết của Trang Tử vốn tự cho người ta từ chỗ không, do khí do hình mà sinh ra để đợi lại trở về chỗ không có đúng với khoa học hay không. Nhưng rất giống thuyết nhà Phật. Ta chỉ lấy thường tình mà suy nghĩ thì có lẽ Trang Tử quá thương tiếc vợ nên đem cái đạt quan nói với Huệ Tử để vừa tự giải, vừa tự an ủi cho đỡ đau khổ chăng?","giai_nghia":["Trang Tử: tên là Chu, người thời Chiến Quốc, học rộng và cao, theo tôn chỉ Lão Tử, có làm sách, phần nhiều là ngụ ngôn.","Huệ Tử: tức là Huệ Thi người thời Chiến Quốc, có tài khéo nói, là bạn thân của Trang Tử","Bồn: chậu nước rửa xác cho người chết","Huệ Tử: Tức Huệ Thi, nhà triết học theo phái Danh gia, bạn của Trang Tử.","Cổ bồn: Gõ vào cái bồn (chậu) để làm nhịp.","Ki cứ: Ngồi xổm, duỗi chân ra phía trước, tư thế không đứng đắn.","Mang vật: Mê mờ, hỗn độn, chỉ trạng thái ban sơ của vũ trụ."],"tags":["Trang Tử","Đạo giáo","Sinh tử","Triết lý"]},{"id":183,"title_vi":"LIÊM, SỈ","title_zh_simp":"廉耻","title_zh_trad":"廉恥","title_pinyin":"Lián chǐ","title_han_viet":"LIÊM SỈ","title_en":"Integrity and Shame","source_book":"《颜氏家训》","source_author":"颜之推","source_period":"南北朝","content_zh_simp":"廉耻，人之大节也。盖不廉则无所不取，不耻则无所不为。人而如此，则祸乱败亡，亦无所不至。况为大臣而无所不取，无所不为，则天下其有不乱，国家其有不亡者乎？然而四者之中，耻尤为要。夫子之论士曰：“行己有耻。”孟子曰：“人不可以无耻。无耻之耻，无耻矣。”又曰：“耻之于人大矣，为机变之巧者，无所用耻焉。”所以然者，人之不廉，而至于悖礼犯义，其原皆生于无耻也。故士大夫之无耻，是谓国耻。吾观三代以下，世衰道微，弃礼义，捐廉耻，非一朝一夕之故。然而松柏后凋于岁寒，鸡鸣不已于风雨。彼昏之日，固未尝无独醒之人也。顷读《颜氏家训》，有云：“齐朝一士夫尝谓吾曰：‘我有一儿，年已十七，颇晓书疏，教其鲜卑语及弹琵琶，稍欲通解，以此伏事公卿，无不宠爱，亦要事也。’吾时俯而不答。异哉，此人之教子也！若由此业，自致卿相，亦不愿汝曹为之。”嗟乎！之推不得已而仕于乱世，犹为此言，尚有《小宛》诗人之意，彼阉然媚于世者，能无愧哉！","content_zh_trad":"廉恥，人之大節也。蓋不廉則無所不取，不恥則無所不為。人而如此，則禍亂敗亡，亦無所不至。況為大臣而無所不取，無所不為，則天下其有不亂，國家其有不亡者乎？然而四者之中，恥尤為要。夫子之論士曰：“行己有恥。”孟子曰：“人不可以無恥。無恥之恥，無恥矣。”又曰：“恥之於人大矣，為機變之巧者，無所用恥焉。”所以然者，人之不廉，而至於悖禮犯義，其原皆生於無恥也。故士大夫之無恥，是謂國恥。吾觀三代以下，世衰道微，棄禮義，捐廉恥，非一朝一夕之故。然而松柏後凋於歲寒，雞鳴不已於風雨。彼昏之日，固未嘗無獨醒之人也。頃讀《顏氏家訓》，有云：“齊朝一士夫嘗謂吾曰：‘我有一兒，年已十七，頗曉書疏，教其鮮卑語及彈琵琶，稍欲通解，以此伏事公卿，無不寵愛，亦要事也。’吾時俯而不答。異哉，此人之教子也！若由此業，自致卿相，亦不願汝曹為之。”嗟乎！之推不得已而仕於亂世，猶為此言，尚有《小宛》詩人之意，彼閹然媚於世者，能無愧哉！","content_pinyin":"Lián chǐ, rén zhī dà jié yě. Gài bù lián zé wú suǒ bù qǔ, bù chǐ zé wú suǒ bù wéi. Rén ér rú cǐ, zé huò luàn bài wáng, yì wú suǒ bù zhì. Kuàng wéi dà chén ér wú suǒ bù qǔ, wú suǒ bù wéi, zé tiān xià qí yǒu bù luàn, guó jiā qí yǒu bù wáng zhě hū? Rán ér sì zhě zhī zhōng, chǐ yóu wéi yào. Fū zǐ zhī lùn shì yuē: “Xíng jǐ yǒu chǐ.” Mèng zǐ yuē: “Rén bù kě yǐ wú chǐ. Wú chǐ zhī chǐ, wú chǐ yǐ.” Yòu yuē: “Chǐ zhī yú rén dà yǐ, wéi jī biàn zhī qiǎo zhě, wú suǒ yòng chǐ yān.” Suǒ yǐ rán zhě, rén zhī bù lián, ér zhì yú bèi lǐ fàn yì, qí yuán jiē shēng yú wú chǐ yě. Gù shì dà fū zhī wú chǐ, shì wèi guó chǐ. Wú guān sān dài yǐ xià, shì shuāi dào wēi, qì lǐ yì, juān lián chǐ, fēi yī zhāo yī xī zhī gù. Rán ér sōng bǎi hòu diāo yú suì hán, jī míng bù yǐ yú fēng yǔ. Bǐ hūn zhī rì, gù wèi cháng wú dú xǐng zhī rén yě. Qǐng dú 《Yán shì jiā xùn》, yǒu yún: “Qí cháo yī shì fū cháng wèi wú yuē: ‘Wǒ yǒu yī ér, nián yǐ shí qī, pō xiǎo shū shū, jiào qí xiān bēi yǔ jí tán pí pá, shāo yù tōng jiě, yǐ cǐ fú shì gōng qīng, wú bù chǒng ài, yì yào shì yě.’ Wú shí fǔ ér bù dá. Yì zāi, cǐ rén zhī jiào zǐ yě! Ruò yóu cǐ yè, zì zhì qīng xiàng, yì bù yuàn rǔ cáo wéi zhī.” Jiē hū! Zhī tuī bù dé yǐ ér shì yú luàn shì, yóu wéi cǐ yán, shàng yǒu 《Xiǎo wǎn》 shī rén zhī yì, bǐ yān rán mèi yú shì zhě, néng wú kuì zāi!","content_han_viet":"Liêm sỉ, nhân chi đại tiết dã. Cái bất liêm tắc vô sở bất thủ, bất sỉ tắc vô sở bất vi. Nhân nhi như thử, tắc họa loạn bại vong, diệc vô sở bất chí. Huống vi đại thần nhi vô sở bất thủ, vô sở bất vi, tắc thiên hạ kỳ hữu bất loạn, quốc gia kỳ hữu bất vong giả hồ? Nhiên nhi tứ giả chi trung, sỉ vưu vi yếu. Phu tử chi luận sĩ viết: “Hành kỷ hữu sỉ.” Mạnh tử viết: “Nhân bất khả dĩ vô sỉ. Vô sỉ chi sỉ, vô sỉ hĩ.” Hựu viết: “Sỉ chi vu nhân đại hĩ, vi cơ biến chi xảo giả, vô sở dụng sỉ yên.” Sở dĩ nhiên giả, nhân chi bất liêm, nhi chí vu bội lễ phạm nghĩa, kỳ nguyên giai sinh vu vô sỉ dã. Cố sĩ đại phu chi vô sỉ, thị vị quốc sỉ. Ngô quan tam đại dĩ hạ, thế suy đạo vi, khí lễ nghĩa, quyên liêm sỉ, phi nhất triêu nhất tịch chi cố. Nhiên nhi tùng bách hậu điêu vu tuế hàn, kê minh bất dĩ vu phong vũ. Bỉ hôn chi nhật, cố vị thường vô độc tỉnh chi nhân dã. Khoảnh độc 《Nhan thị gia huấn》, hữu vân: “Tề triêu nhất sĩ phu thường vị ngô viết: ‘Ngã hữu nhất nhi, niên dĩ thập thất, phả hiểu thư sớ, giáo kỳ Tiên Ti ngữ cập đàn tỳ bà, sao dục thông giải, dĩ thử phụng sự công khanh, vô bất sủng ái, diệc yếu sự dã.’ Ngô thời phủ nhi bất đáp. Dị tai, thử nhân chi giáo tử dã! Nhược do thử nghiệp, tự trí khanh tướng, diệc bất nguyện nhữ tào vi chi.” Ta hồ! Chi Thôi bất đắc dĩ nhi sĩ vu loạn thế, do vi thử ngôn, thượng hữu 《Tiểu Uyển》 thi nhân chi ý, bỉ yêm nhi mị vu thế giả, năng vô quý tai!","content_vi":"Liêm, sỉ là tính rất hay của loài người, vì người mà không liêm thì cái gì cũng lấy, không sỉ thì việc gì cũng làm. Người mà đến thế là người bỏ đi, không khác gì giống vật. Nhất là những bậc đứng chủ trương việc nhà, việc nước mà vô liêm, vô sỉ thì nhà phải suy bại, nước phải suy vong.\n\nNghĩ cho kĩ thì sỉ cần hơn liêm; người không liêm làm những việc bất nghĩa, căn nguyên cũng ở vô sỉ mà ra.\n\nĐức Khổng nói: “Hành kỷ hữu sĩ” nghĩa là giữ mình biết làm xằng là xấu hổ. Thầy Mạnh nói: “Nhân bất khả vô sỉ” nghĩa là người ta không biết xấu hổ thì không được.\n\nThan ôi! Thế mà ngày nay, nhân tình phản trắc, phong tục suy đồi, người ta quên cả liêm, sỉ, không kể chi người thường, thậm chí đến bọn sĩ phu cũng chan chan như thế cả. Ôi! Nếu cho là sự xấu hổ chung cho cả nước cũng không phải là nói ngoa.\n\nTuy vậy, mùa đông rét mướt, tùng bách vẫn xanh; mưa gió tối tăm, gà trống vẫn gáy. Đời tuy hôn mê vẫn có người tỉnh.\n\nÔng Nhan Chi Thôi làm sách “gia huấn” có thuật câu chuyện rằng:\n\n“Một viên quan nói với ông: Tôi có đứa con 17 tuổi học đã thông. Tôi cho nó học tiếng nước Tiên Ti, học gảy đàn tỳ bà, lớn lên theo hầu đám công khanh, thì thế nào rồi cũng được sung sướng.\n\nNhan Chi Thôi nghe nói nín lặng không trả lời. Sau về nhà bảo con cháu rằng:\n\n- Người này dạy con lạ thay. Như ta, nếu học cách ấy, thì dù cho được phú quý đến đâu, ta cũng không mong cho các con vậy”.","loi_ban_vi":"Bài này thực đã là một tiếng than cho đời mà ngán cho người. Than ôi!\n\nNgười đời bấy giờ có phải đa số là người “vô liêm sỉ”, “bất trí sĩ” không?\n\nNếu quả vậy thì người ta than thở là rất phải. Vì “liêm”, “sỉ” là nền tảng của đạo làm người. Ở đời còn có sỉ thì hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm còn được, chớ liêm sỉ đã mất, nhất là sỉ thì còn gì là luân thường đạo lý, và mong trông cậy vào đâu nữa. Con người mà đã đến vô sỉ thì tuy mặc áo, đội mũ mà như con chim, con muông, còn cái gì là kiêng nể mà không dám làm!","giai_nghia":["Nhan Chi Thôi: nhà văn tự giỏi có tiếng thời Nam Bắc triều","Tiên Ti: tên một nước cũ, tức một bộ phận Nội Mông Cổ bây giờ, Tiên Ti vào chiếm nước Tàu, đặt tên nước Ngụy, tức là Bắc triều.","廉耻: liêm sỉ, chỉ sự liêm khiết và biết xấu hổ, là hai đức tính quan trọng của con người.","行己有耻: hành vi của bản thân phải biết xấu hổ, câu nói của Khổng Tử trong Luận Ngữ.","人不可以无耻: con người không thể không biết xấu hổ, câu nói của Mạnh Tử.","颜氏家训: sách của Nhan Chi Thôi, đời Bắc Tề, nổi tiếng về giáo dục gia đình."],"tags":["đạo đức","liêm sỉ","Nhan Chi Thôi","Khổng Tử","Mạnh Tử"]},{"id":184,"title_vi":"TIỄN NGƯỜI ĐI LÀM QUAN","title_zh_simp":"送薛存义序","title_zh_trad":"送薛存義序","title_pinyin":"Sòng Xuē Cúnyì xù","title_han_viet":"TIỄN TIẾT TỒN NGHĨA TỰ","title_en":"Preface to Seeing Off Xue Cunyi","source_book":"《柳河东集》","source_author":"柳宗元","source_period":"唐代","content_zh_simp":"河东薛存义将行，柳子载肉于俎，崇酒于觞，追而送之江之浒，饮食之。且告曰：凡吏于土者，若知其职乎？盖民之役，非以役民而已也。凡民之食于土者，出其什一佣乎吏，使司平于我也。今我受其直怠其事者，天下皆然。岂惟怠之，又从而盗之。向使佣一夫于家，受若直，怠若事，又盗若货器，则必甚怒而黜罚之矣。以今天下多类此，而民莫敢肆其怒与黜罚者，何哉？势不同也。势不同而理同，如吾民何？有达于理者，得不恐而畏乎？存义假令零陵二年矣，早作而夜思，勤力而劳心，讼者平，赋者均，老弱无怀诈暴憎，其为不虚取直也的矣，其知恐而畏也审矣。吾贱且辱，不得与考绩幽明之说；于其往也，故赏以酒肉而重之以辞。","content_zh_trad":"河東薛存義將行，柳子載肉於俎，崇酒於觴，追而送之江之滸，飲食之。且告曰：凡吏於土者，若知其職乎？蓋民之役，非以役民而已也。凡民之食於土者，出其什一傭乎吏，使司平於我也。今我受其直怠其事者，天下皆然。豈惟怠之，又從而盜之。向使傭一夫於家，受若直，怠若事，又盜若貨器，則必甚怒而黜罰之矣。以今天下多類此，而民莫敢肆其怒與黜罰者，何哉？勢不同也。勢不同而理同，如吾民何？有達於理者，得不恐而畏乎？存義假令零陵二年矣，早作而夜思，勤力而勞心，訟者平，賦者均，老弱無懷詐暴憎，其為不虛取直也的矣，其知恐而畏也審矣。吾賤且辱，不得與考績幽明之說；於其往也，故賞以酒肉而重之以辭。","content_pinyin":"Hédōng Xuē Cúnyì jiāng xíng, Liǔ zǐ zài ròu yú zǔ, chóng jiǔ yú shāng, zhuī ér sòng zhī jiāng zhī hǔ, yǐn shí zhī. Qiě gào yuē: Fán lì yú tǔ zhě, ruò zhī qí zhí hū? Gài mín zhī yì, fēi yǐ yì mín ér yǐ yě. Fán mín zhī shí yú tǔ zhě, chū qí shén yī yōng hū lì, shǐ sī píng yú wǒ yě. Jīn wǒ shòu qí zhí dài qí shì zhě, tiān xià jiē rán. Qǐ wéi dài zhī, yòu cóng ér dào zhī. Xiàng shǐ yōng yī fū yú jiā, shòu ruò zhí, dài ruò shì, yòu dào ruò huò qì, zé bì shèn nù ér chù fá zhī yǐ. Yǐ jīn tiān xià duō lèi cǐ, ér mín mò gǎn sì qí nù yǔ chù fá zhě, hé zāi? Shì bù tóng yě. Shì bù tóng ér lǐ tóng, rú wú mín hé? Yǒu dá yú lǐ zhě, dé bù kǒng ér wèi hū? Cúnyì jiǎ lìng Línglíng èr nián yǐ, zǎo zuò ér yè sī, qín lì ér láo xīn, sòng zhě píng, fù zhě jūn, lǎo ruò wú huái zhà bào zēng, qí wéi bù xū qǔ zhí yě dì yǐ, qí zhī kǒng ér wèi yě shěn yǐ. Wú jiàn qiě rǔ, bù dé yǔ kǎo jī yōu míng zhī shuō; yú qí wǎng yě, gù shǎng yǐ jiǔ ròu ér zhòng zhī yǐ cí.","content_han_viet":"Hà Đông Tiết Tồn Nghĩa tương hành, Liễu tử tái nhục vu trở, sùng tửu vu thương, truy nhi tống chi giang chi hổ, ẩm thực chi. Thả cáo viết: Phàm lại vu thổ giả, nhược tri kỳ chức hồ? Cái dân chi dịch, phi dĩ dịch dân nhi dĩ dã. Phàm dân chi thực vu thổ giả, xuất kỳ thập nhất dung hồ lại, sử ti bình vu ngã dã. Kim ngã thụ kỳ trực đãi kỳ sự giả, thiên hạ giai nhiên. Khởi duy đãi chi, hựu tòng nhi đạo chi. Hướng sử dung nhất phu vu gia, thụ nhược trực, đãi nhược sự, hựu đạo nhược hóa khí, tắc tất thậm nộ nhi truất phạt chi hĩ. Dĩ kim thiên hạ đa loại thử, nhi dân mạc cảm tứ kỳ nộ dữ truất phạt giả, hà tai? Thế bất đồng dã. Thế bất đồng nhi lý đồng, như ngô dân hà? Hữu đạt vu lý giả, đắc bất khủng nhi úy hồ? Tồn Nghĩa giả lệnh Linh Lăng nhị niên hĩ, tảo tác nhi dạ tư, cần lực nhi lao tâm, tụng giả bình, phú giả quân, lão nhược vô hoài trá bạo tăng, kỳ vi bất hư thủ trực dã đích hĩ, kỳ tri khủng nhi úy dã thẩn hĩ. Ngô tiện thả nhục, bất đắc dự khảo tích u minh chi thuyết; vu kỳ vãng dã, cố thưởng dĩ tửu nhục nhi trọng chi dĩ từ.","content_vi":"Tiết Tôn Nghĩa, người Hà Đông sắp đi làm quan.\n\nÔng Liễu Tôn Nguyên làm tiệc tiễn hành ở bờ sông, rót chén rượu mời Tôn Nghĩa mà nói rằng:\n\n- Phàm ra làm quan ở hạt nào, phải biết chức phận của mình là người làm việc cho dân, chớ không phải sai dân làm việc cho mình. Dân ở trong hạt đã chịu nộp thuế để lấy tiền thuê quan giữ sự công bình cho dân, mà nay, ngán thay, thiên hạ ra làm quan, tiền thuế của dân thì biết lấy cả, còn công việc của dân thì trễ biếng, thường khi lại dụng tâm ăn cắp của dân nữa.\n\nGiả sử ta đây thuê một người làm việc trong nhà, nó đã lấy tiền thuê mà lười không làm việc, lại còn ăn cắp đồ thập vật trong nhà, thì tất ta phải giận mà trách phạt và đuổi nó đi. Bây giờ làm quan như thế nhiều mà dân không dám nổi giận và trách phạt là tại làm sao? Chỉ tại thế lực khác không làm được thôi. Nhưng thế lực dù khác mà lý vẫn là một. Nên người làm quan nếu còn biết công lý thì ai mà không chịu giữ gìn, cố làm thế nào cho đáng đồng tiền thuê của dân.\n\nNày Tôn Nghĩa, ngươi trước làm quan huyện ở Linh Lăng hai năm, ngày ngày dậy sớm, đêm đêm thức khuya, chính sự siêng năng, xử kiện công bằng, thu thuế phải chăng, già trẻ không ai đem lòng thù ghét, ngươi thật là biết lo và giữ gìn lắm, cho nên ngươi lấy tiền thuê của dân rất là đáng vậy.\n\nTa đây chức nhỏ không được dự vào việc bàn bạc xét công cho ngươi đi làm quan, để thăng thưởng hay trách giáng. Ta chỉ biết ngươi đi làm quan, nên thưởng tiệc rượu này lấy lời trân trọng để tiễn hành.\n\nLiễu Tôn Nguyên","loi_ban_vi":"Bài của Liễu Tôn Nguyên đây thực là hợp với cái ý tưởng tối tân ngày nay.\n\nQuan nay không phải là cha mẹ dân, chỉ là kẻ làm công, lấy tiền thuê của dân mà thôi! Ôi! Từ cái bực làm cha mẹ người ta đến cái bực làm kẻ thuê mướn của người ta xa cách nhau đến chừng nào! Tuy vậy, bình tĩnh mà nói, bỏ giọng quá khích, tôi tưởng người cầm vận mệnh dân chúng một địa phương mà thiếu tư cách, chỉ biết làm thuê, không nhận chân coi việc nước như việc nhà, coi dân chúng như con em. Hỏi việc làm có chu đáo và dân có được nhờ không? Cả quyết không. Nhất định người làm quan phải làm thế nào cho dân coi như phụ mẫu mới đáng là làm quan. Vì buổi mạt tục này, người làm quan phần nhiều quên cả thiên chức, tham ô tàn ác, cho nên người ta mới dùng hai chữ “công bộc” để cảnh tỉnh họ và cố đưa họ đến chỗ hiểu chức vụ. Vậy chính người làm quan nên vui lòng tự nhận là công bộc mà cố gắng sao cho dân chúng coi như cha mẹ nha lại sợ như thần minh thì mới thật là làm quan vì dân vì nước vậy.","giai_nghia":["Hà Đông: khu đất ở về phía đông sông Hoàng Hà trong tỉnh Sơn Tây bên Tàu.","Liễu Tôn Nguyên: người Hà Đông, đời nhà Đường, lanh lợi tài giỏi, đỗ Tiến sĩ, làm chức Thứ sử, văn thơ có tiếng ở nước Tàu.","Linh Lăng: tức là phủ Vĩnh Châu, tỉnh Hồ Nam ngày nay","Trách giáng: quở phạt và hạ chức xuống","薛存义: Tiết Tồn Nghĩa, người Hà Đông, bạn của Liễu Tông Nguyên, được bổ làm quan huyện Linh Lăng.","民之役: người làm việc cho dân, tức công bộc của dân.","什一: một phần mười, chỉ thuế khóa.","零陵: Linh Lăng, tên huyện thời Đường, nay thuộc Hồ Nam."],"tags":["quan lại","trách nhiệm","Liễu Tông Nguyên","dân chủ","công bộc"]},{"id":185,"title_vi":"VIẾNG NGƯỜI ĐI LÀM QUAN","title_zh_simp":"吊官人","title_zh_trad":"弔官人","title_pinyin":"Diào guān rén","title_han_viet":"ĐIẾU QUAN NHÂN","title_en":"Visiting the New Official","source_book":"《说苑》","source_author":"刘向","source_period":"西汉","content_zh_simp":"孙叔敖为楚令尹，一国吏民皆来贺。有一老父衣粗衣，冠白冠，后来吊。孙叔敖正衣冠而见之，谓老父曰：“楚王不知臣不肖，使臣受吏民之垢，人尽来贺，子独后吊，岂有说乎？”父曰：“有说。身已贵而骄人者民去之，位已高而擅权者君恶之，禄已厚而不知足者患处之。”孙叔敖再拜曰：“敬受命，愿闻余教。”父曰：“位已高而意益下，官益大而心益小，禄已厚而慎不敢取。君谨守此三者，足以治民矣。”","content_zh_trad":"孫叔敖為楚令尹，一國吏民皆來賀。有一老父衣粗衣，冠白冠，後來吊。孫叔敖正衣冠而見之，謂老父曰：“楚王不知臣不肖，使臣受吏民之垢，人盡來賀，子獨後吊，豈有說乎？”父曰：“有說。身已貴而驕人者民去之，位已高而擅權者君惡之，祿已厚而不知足者患處之。”孫叔敖再拜曰：“敬受命，願聞餘教。”父曰：“位已高而意益下，官益大而心益小，祿已厚而慎不敢取。君謹守此三者，足以治民矣。”","content_pinyin":"Sūn Shū'áo wéi Chǔ lìngyǐn, yī guó lì mín jiē lái hè. Yǒu yī lǎo fù yī cū yī, guān bái guān, hòu lái diào. Sūn Shū'áo zhèng yī guān ér jiàn zhī, wèi lǎo fù yuē: “Chǔ wáng bù zhī chén bùxiào, shǐ chén shòu lì mín zhī gòu, rén jìn lái hè, zǐ dú hòu diào, qǐ yǒu shuō hū?” Fù yuē: “Yǒu shuō. Shēn yǐ guì ér jiāo rén zhě mín qù zhī, wèi yǐ gāo ér shàn quán zhě jūn wù zhī, lù yǐ hòu ér bù zhī zú zhě huàn chù zhī.” Sūn Shū'áo zài bài yuē: “Jìng shòu mìng, yuàn wén yú jiào.” Fù yuē: “Wèi yǐ gāo ér yì yì xià, guān yì dà ér xīn yì xiǎo, lù yǐ hòu ér shèn bù gǎn qǔ. Jūn jǐn shǒu cǐ sān zhě, zú yǐ zhì mín yǐ.”","content_han_viet":"TÔN THÚC NGAO VI CHỮ LỆNH DOÃN, NHẤT QUỐC LẠI DÂN GIAI LAI HÁ. HỮU NHẤT LÃO PHỤ Y THÔ Y, QUÁN BẠCH QUÁN, HẬU LAI ĐIẾU. TÔN THÚC NGAO CHÍNH Y QUAN NHI KIẾN CHI, VỊ LÃO PHỤ VIẾT: “SỞ VƯƠNG BẤT TRI THẦN BẤT TÀI, SỬ THẦN THỤ LẠI DÂN CHI CẤU, NHÂN TẬN LAI HÁ, TỬ ĐỘC HẬU ĐIẾU, KHỞI HỮU THUYẾT HÔ?” PHỤ VIẾT: “HỮU THUYẾT. THÂN DĨ QUÝ NHI KIÊU NHÂN GIẢ DÂN KHỨ CHI, VỊ DĨ CAO NHI THIỆN QUYỀN GIẢ QUÂN Ố CHI, LỘC DĨ HẬU NHI BẤT TRI TÚC GIẢ HOẠN XỨ CHI.” TÔN THÚC NGAO TÁI BÁI VIẾT: “KÍNH THỤ MỆNH, NGUYỆN VĂN DƯ GIÁO.” PHỤ VIẾT: “VỊ DĨ CAO NHI Ý ÍCH HẠ, QUAN ÍCH ĐẠI NHI TÂM ÍCH TIỂU, LỘC DĨ HẬU NHI THẬN BẤT CẢM THỦ. QUÂN CẨN THỦ THử TAM GIẢ, TÚC DĨ TRỊ DÂN Y.”","content_vi":"Tôn Thúc Ngao được làm lệnh roãn nước Sở.\n\nCả nước quan, dân đều mừng.\n\nSau cùng có một ông lão già mặc áo vải, đội mũ trắng đến viếng.\n\nTôn Thúc Ngao thấy thế ăn mặc chỉnh tề ra tiếp kiến, thưa với ông lão rằng:\n\n- Vua chúng tôi khôn biết tôi là người bất tài, quá tin mà cho làm quan để tôi làm lụy cho lại, cho dân. Ai ai cũng đến mừng, một mình lão đến viếng chắc là có ý kiến gì đây chăng.\n\nÔng lão nói:\n\n- Có. Thân đã sang mà khinh người dân thì không chuộng; chức đã cao mà chuyên quyền thì vua sinh ghét; lộc đã hậu mà không tri túc thì gặp phải tai vạ.\n\nTôn Thúc Ngao vừa vái, vừa nói: Xin kính vâng lời. Và nài ông lão dạy thêm cho mấy câu nữa.\n\nÔng lão bảo:\n\n- Chức đã cao ý càng phải nghiêm cung; quan đã to làm càng phải tế nhị; lộc đã hậu việc càng phải cẩn thận, chớ có lấy càn, làm bậy. Ông giữ được ba điều ấy là đủ trị dân.","loi_ban_vi":"Đầy mà không để ràn rụa, bố thí luôn mãi là cách giữ được giàu bền. Cao mà không dám ngông cuồng, tự nhiên như không giữ được sang mãi.\n\nỞ đời nhiều người bần tiện biết tri đức mà được giàu sang; ít người giàu sang biết tri đức để được lâu dài hưởng thụ. Sao vậy? Vì xử cảnh giàu sang dễ sinh ra kiêu sa, phóng đãng mà đã kiêu sa phóng đãng là cái hoạn nạn tai vạ nằm sẵn ở đấy rồi. Cho nên lời ông lão dặn Tôn Thúc Ngao đây thực là có giá lắm. Chả những người làm quan nên tuân theo, ai nay mà được xử vào cảnh thịnh vượng cũng nên nhớ câu khuyên răn này mà phục thiện như Tôn Thúc Ngao đây, thì mới mong trường cửu được.","giai_nghia":["Tôn Thúc Ngao: quan tướng giỏi nước Sở thời Xuân Thu, ông là nhà cai trị, rất có giá, nước Sở nhờ ông mà được bình trị.","Lệnh roãn: chức quan cầm quyền chính trong nước","令尹: chức quan tể tướng nước Sở.","吊: đến viếng, ở đây có ý cảnh cáo.","垢: nhục, ở đây chỉ sự gánh vác trách nhiệm."],"tags":["Đạo trị quốc","Khiêm tốn","Cảnh tỉnh","Lễ nghĩa"]},{"id":186,"title_vi":"ĐỨC UỐNG RƯỢU","title_zh_simp":"酒德颂","title_zh_trad":"酒德頌","title_pinyin":"Jiǔ dé sòng","title_han_viet":"TỬU ĐỨC TỤNG","title_en":"Ode to the Virtue of Wine","source_book":"《酒德颂》","source_author":"刘伶","source_period":"魏晋","content_zh_simp":"有大人先生者，以天地为一朝，万期为须臾，日月为扃牖，八荒为庭衢。行无辙迹，居无室庐，幕天席地，纵意所如。止则操卮执觚，动则挈榼提壶，唯酒是务，焉知其余？有贵介公子，搢绅处士，闻吾风声，议其所以。乃奋袂攘襟，怒目切齿，陈说礼法，是非蜂起。先生于是方捧罂承槽，衔杯漱醪，奋髯箕踞，枕麴藉糟，无思无虑，其乐陶陶。兀然而醉，豁尔而醒。静听不闻雷霆之声，熟视不睹泰山之形，不觉寒暑之切肌，利欲之感情。俯观万物，扰扰焉如江汉之载浮萍；二豪侍侧焉，如蜾蠃之与螟蛉。","content_zh_trad":"有大人先生者，以天地為一朝，萬期為須臾，日月為扃牖，八荒為庭衢。行無轍跡，居無室廬，幕天席地，縱意所如。止則操卮執觚，動則挈榼提壺，唯酒是務，焉知其餘？有貴介公子，搢紳處士，聞吾風聲，議其所以。乃奮袂攘襟，怒目切齒，陳說禮法，是非蜂起。先生於是方捧罌承槽，銜杯漱醪，奮髯箕踞，枕麴藉糟，無思無慮，其樂陶陶。兀然而醉，豁爾而醒。靜聽不聞雷霆之聲，熟視不睹泰山之形，不覺寒暑之切肌，利欲之感情。俯觀萬物，擾擾焉如江漢之載浮萍；二豪侍側焉，如蜾蠃之與螟蛉。","content_pinyin":"Yǒu dàrén xiānshēng zhě, yǐ tiāndì wéi yī cháo, wàn qī wéi xūyú, rìyuè wéi jiōngyǒu, bāhuāng wéi tíng qú. Xíng wú zhé jī, jū wú shì lú, mù tiān xí dì, zòng yì suǒ rú. Zhǐ zé cāo zhī zhí gū, dòng zé qiè kē tí hú, wéi jiǔ shì wù, yān zhī qí yú? Yǒu guì jiè gōngzǐ, jìn shēn chǔshì, wén wú fēngshēng, yì qí suǒyǐ. Nǎi fèn mèi rǎng jīn, nù mù qiè chǐ, chén shuō lǐfǎ, shìfēi fēng qǐ. Xiānsheng yúshì fāng pěng yīng chéng cáo, xián bēi shù láo, fèn rán jī jù, zhěn qū jí zāo, wú sī wú lǜ, qí lè táotáo. Wù rán ér zuì, huō rán ér xǐng. Jìng tīng bù wén léi tíng zhī shēng, shú shì bù dǔ Tàishān zhī xíng, bù jué hán shǔ zhī qiè jī, lì yù zhī gǎn qíng. Fǔ guān wànwù, rǎorǎo yān rú Jiāng Hàn zhī zài fú píng; èr háo shì cè yān, rú guǒluǒ zhī yǔ mínglíng.","content_han_viet":"HỮU ĐẠI NHÂN TIÊN SINH GIẢ, DĨ THIÊN ĐỊA VI NHẤT TRIỀU, VẠN KỲ VI TU DU, NHẬT NGUYỆT VI QUYNH DỮU, BÁT HOANG VI ĐÌNH CÙ. HÀNH VÔ TRIỆT TÍCH, CƯ VÔ THẤT LƯ, MỘ THIÊN TỊCH ĐỊA, TÚNG Ý SỞ NHƯ. CHỈ TẮC THAO CHI CHẤP CÔ, ĐỘNG TẮC KHIẾP KHÁP ĐỀ HỒ, DUY TỬU THỊ VỤ, YÊN TRI KỲ DƯ? HỮU QUÝ GIỚI CÔNG TỬ, TẤN THÂN XỨ SĨ, VĂN NGÔ PHONG THANH, NGHỊ KỲ SỞ DĨ. NÃI PHẤN DUỆ NHƯỢNG KHÂM, NỘ MỤC THIẾT XỈ, TRẦN THUYẾT LỄ PHÁP, THỊ PHI PHONG KHỞI. TIÊN SINH Ư THỊ PHƯƠNG BẢNG ANH THỪA TÀO, HÀM BÔI SỤC LAO, PHẤN NHIÊN KỴ CỰ, CHẨM KHÚC TỊCH TÀO, VÔ TƯ VÔ LỰ, KỲ LẠC ĐÀO ĐÀO. NGẬT NHIÊN NHI TÚY, KHOÁT NHI NHI TỈNH. TĨNH THÍNH BẤT VĂN LÔI ĐÌNH CHI THANH, THỤC THỊ BẤT ĐỖ THÁI SƠN CHI HÌNH, BẤT GIÁC HÀN THỬ CHI THIẾT CƠ, LỢI DỤC CHI CẢM TÌNH. PHỦ QUAN VẠN VẬT, NHIỄU NHIỄU YÊN NHƯ GIANG HÁN CHI TẢI PHÙ BÌNH; NHỊ HÀO THỊ TRẮC YÊN, NHƯ QUẢ LOA CHI DỮ MINH LINH.","content_vi":"Có một tiên sinh đại nhân lấy trời đất làm một buổi, lấy muôn năm làm một chốc, lấy mặt trời mặt trăng làm cửa làm ngõ, lấy cả thiên hạ làm sân làm đường, đi không thấy vết xe. Ở không có nhà cửa, trời tức là màn, đất tức là chiếu, ý muốn thế nào thì thế. Lúc ở thì nâng chén cầm bầu, lúc đi thì vác chai xách nậm, lúc nào cũng chỉ có việc rượu chè, không còn biết đến việc gì nữa.\n\nCó một vị công tử và một vị quan sang nghe tiếng tiên sinh như thế, bèn đến tận nơi xắn tay vén áo, người thì trừng phạt nghiến răng, người thì trần lễ thuyết pháp, những giọng thị phi đâu bấy giờ ầm ĩ xôn xao như đàn ong vậy.\n\nLúc đó tiên sinh mới ôm vò rượu, ghé vào thùng rượu, tợp cả chén rượu, phùng mồm những rượu, vểnh bộ râu lên, ngồi dạng hai chân, gối đầu vào men, lăn lưng vào bã, không nghĩ, không lo, hớn hở vui thú, ngất ngưởng say sưa, thoáng rồi lại tỉnh. Lắng tai cũng không nghe thấy tiếng sấm sét; nhìn kỹ cũng không trông thấy hình Thái Sơn; nực rét thiết đến thân cũng không biết; lợi dục cảm đến tình, cũng không hay; cuối xuống trông vạn vật rối rít trước mắt khác nào như bèo nổi bồng bềnh trên sông Giang, sông Hán.\n\nHai vị kia đứng cạnh, tiên sinh bấy giờ xem cũng như con tò vò, con sâu róm mà thôi.\n\nLưu Linh","loi_ban_vi":"Nói đến say rượu thì ai cũng phải nhắc Lưu Linh mà Lưu Linh sở dĩ còn lưu danh lại cho ta biết là nhờ bài “Tửu đức tụng” ta dịch trên này.\n\nUống rượu say được như tiên sinh thực là hiếm có. Say mà đến lấy trời làm màn, đất làm chiếu, trút sạch được hết lợi, dục, quên bỏ được hết việc đời, kẻ sang giàu người quyền thế trông chỉ còn như con sâu róm, con tò vò, thì quả là một cái say thú vị, làng say vị tất đã mấy ai hưởng được. Nên tưởng những kẻ chưa tới được cảnh say, chưa biết cái thú say như thế là gì, cũng chẳng nên nghị luận cái say, cười người say chưa thấy đâu, lại phải người say cười lại.\n\nCòn những hạng người say mà nói nhảm làm càn, phạm vào những điều thương luân, bại lý mà vin Lưu Linh thì lại là tội nhân của Lưu Linh chớ không phải đồ đệ của Lưu Linh. Nói rộng ra: Giới tửu mà không uống rượu theo đúng như Phật dạy cố nhiên là đáng trọng, nhưng uống rượu mà vui tươi tao nhã như thần tiên, thì cũng không thể coi khinh được.","giai_nghia":["Tiên sinh đại nhân: nghĩa thẳng là ông thầy bực kẻ cả. Đây Lưu Linh dùng bốn chữ ấy để chỉ chính mình.","Thái Sơn: núi to vào cao nhất ở tỉnh Sơn Đông bên Tàu","Thiết: thấu đến","Lợi dục: tiền của và lòng ham muốn","Vạn vật: muôn vật ở trong trời đất","Sông Giang: con sông rất to ở bên Tàu, hạ lưu tức tức là con sông Dương Tử Giang.","Sông hán: tức là sông Hán Thủy, phát nguyên ở Thiểm Tây và chảy vào sông Giang","Lưu Linh: tên tự là Bá Luân, là người phóng đạt làm quan đời nhà Tần đến chức Kiến uy tường quân.","大人先生: chỉ người đạt đạo, siêu thoát.","扃牖: cửa và cửa sổ.","二豪: chỉ hai người đến can gián là công tử và xử sĩ."],"tags":["Tửu đức","Tiêu dao","Phóng đạt","Lưu Linh"]},{"id":187,"title_vi":"LÀNG SAY","title_zh_simp":"醉乡记","title_zh_trad":"醉鄉記","title_pinyin":"Zuì Xiāng Jì","title_han_viet":"TÚY HƯƠNG KÝ","title_en":"The Land of Drunkenness","source_book":"《醉乡记》","source_author":"Đái Danh Tế","source_period":"Thanh triều","content_zh_simp":"昔者，余尝至一乡，初入，则眩然迷惑，颠倒错乱，天地易位，日月无光。目瞀耳聋，心惑神疲。余问其人曰：“此何乡也？”其人曰：“此醉乡也，有酒食，可以乐饥。”余曰：“嘻！此醉乡乎？古人欺我哉！吾尝悲夫刘伶、阮籍之徒，当世乱离，贤者隐遁，放浪形骸，相与入醉乡。以余观之，醉乡之中，无乐也。”或曰：“入醉乡可以解忧。”余曰：“忧之可解者，非真忧也。苟有真忧，则虽醉乡亦不能解也。然则入醉乡者，皆无忧者也。”呜呼！自刘伶、阮籍以来，天下皆醉乡也。醉乡愈广，天下愈狭。昏昏沉沉，颓靡委靡，入而不出者，皆是也。间有入而不醉者，则又为醉者所笑。此真醉乡之醉人也。","content_zh_trad":"昔者，余嘗至一鄉，初入，則眩然迷惑，顛倒錯亂，天地易位，日月無光。目瞀耳聾，心惑神疲。余問其人曰：“此何鄉也？”其人曰：“此醉鄉也，有酒食，可以樂飢。”余曰：“嘻！此醉鄉乎？古人欺我哉！吾嘗悲夫劉伶、阮籍之徒，當世亂離，賢者隱遁，放浪形骸，相與入醉鄉。以余觀之，醉鄉之中，無樂也。”或曰：“入醉鄉可以解憂。”余曰：“憂之可解者，非真憂也。苟有真憂，則雖醉鄉亦不能解也。然則入醉鄉者，皆無憂者也。”嗚呼！自劉伶、阮籍以來，天下皆醉鄉也。醉鄉愈廣，天下愈狹。昏昏沉沉，頹靡委靡，入而不出者，皆是也。間有入而不醉者，則又為醉者所笑。此真醉鄉之醉人也。","content_pinyin":"Xī zhě, yú cháng zhì yī xiāng, chū rù, zé xuàn rán mí huò, diān dǎo cuò luàn, tiān dì yì wèi, rì yuè wú guāng. Mù mào ěr lóng, xīn huò shén pí. Yú wèn qí rén yuē: “Cǐ hé xiāng yě?” Qí rén yuē: “Cǐ zuì xiāng yě, yǒu jiǔ shí, kě yǐ lè jī.” Yú yuē: “Xī! Cǐ zuì xiāng hū? Gǔ rén qī wǒ zāi! Wú cháng bēi fū Liú Líng, Ruǎn Jí zhī tú, dāng shì luàn lí, xián zhě yǐn dùn, fàng làng xíng hái, xiāng yǔ rù zuì xiāng. Yǐ yú guān zhī, zuì xiāng zhī zhōng, wú lè yě.” Huò yuē: “Rù zuì xiāng kě yǐ jiě yōu.” Yú yuē: “Yōu zhī kě jiě zhě, fēi zhēn yōu yě. Gǒu yǒu zhēn yōu, zé suī zuì xiāng yì bù néng jiě yě. Rán zé rù zuì xiāng zhě, jiē wú yōu zhě yě.” Wū hū! Zì Liú Líng, Ruǎn Jí yǐ lái, tiān xià jiē zuì xiāng yě. Zuì xiāng yù guǎng, tiān xià yù xiá. Hūn hūn chén chén, tuí mǐ wěi mǐ, rù ér bù chū zhě, jiē shì yě. Jiān yǒu rù ér bù zuì zhě, zé yòu wèi zuì zhě suǒ xiào. Cǐ zhēn zuì xiāng zhī zuì rén yě.","content_han_viet":"Tích giả, dư thường chí nhất hương, sơ nhập, tắc huyễn nhiên mê hoặc, điên đảo thác loạn, thiên địa dị vị, nhật nguyệt vô quang. Mục mão nhĩ lung, tâm hoặc thần bì. Dư vấn kỳ nhân viết: “Thử hà hương dã?” Kỳ nhân viết: “Thử túy hương dã, hữu tửu thực, khả dĩ lạc cơ.” Dư viết: “Hi! Thử túy hương hồ? Cổ nhân khi ta tai! Ngô thường bi phu Lưu Linh, Nguyễn Tịch chi đồ, đương thế loạn ly, hiền giả ẩn độn, phóng lãng hình hài, tương dữ nhập túy hương. Dĩ dư quan chi, túy hương chi trung, vô lạc dã.” Hoặc viết: “Nhập túy hương khả dĩ giải ưu.” Dư viết: “Ưu chi khả giải giả, phi chân ưu dã. Cẩu hữu chân ưu, tắc tuy túy hương diệc bất năng giải dã. Nhiên tắc nhập túy hương giả, giai vô ưu giả dã.” Ô hô! Tự Lưu Linh, Nguyễn Tịch dĩ lai, thiên hạ giai túy hương dã. Túy hương dụ quảng, thiên hạ dụ hiệp. Hôn hôn trầm trầm, đồi mĩ ủy mĩ, nhập nhi bất xuất giả, giai thị dã. Gian hữu nhập nhi bất túy giả, tắc hựu vi túy giả sở tiếu. Thử chân túy hương chi túy nhân dã.","content_vi":"Ngày trước, ta thường đến một làng kia, vừa bước chân vào thì chuếnh choáng, nghiêng ngả, mờ mịt, lu bù, trông trời như thấp, trông đất như cao, mặt trời mặt trăng như không có ánh sáng. Mắt ta mờ, tai ta ù, tâm thần ta mê hoặc, thân thể ta mệt nhọc. Ta mới hỏi người rằng: Đây là làng gì? Người nói: Đây là nơi vui say, sẵn của ngon bùi, tha hồ ăn uống, phóng phiếm. Tục truyền là “Làng say”.\n\nThan ôi! Đây gọi là làng say? Cổ nhân nói dối ta thật. Ta thường than cho lũ Lưu Linh, Nguyễn Tịch, đương lúc trong nước lục trầm, bốn phương rối loạn mà những tay giỏi giang sinh ra chán đời, dông dài liều lĩnh, thất thểu rủ nhau vào làng say. Cứ như ý riêng ta thì trong làng say không có gì là vui cả… Hoặc có kẻ nói: Đến đây cho nguôi những sự lo nghĩ. Ôi! Cái lo nghĩ mà còn có cách nguôi được thì không phải là lo nghĩ. Nếu quả nhiên có điều gì đáng lo, thì bất tất phải tìm cách giải. Huống chi làng say này không thể giải được lo. Vậy thì người vào làng say đều là người vô lo vô lự cả.\n\nThan ôi! Tự đời Lưu Linh, Nguyễn Tịch đến bây giờ, khắp cả thiên hạ đâu cũng có làng say. Làng say càng đông thì thiên hạ càng vắng. Mờ mịt, say sưa, ẻo lả, yếu đuối, ai đã vào làng say, không biết lối mà ra, gián hoặc có người vào làng say mà không mê, thì lại phải những kẻ đã mê hoặc bại loạn, chê bai, nói cười mai mỉa, thế mới thật là lũ say ở làng say.\n\nĐái Danh Tế","loi_ban_vi":"Làng say tức là chỉ tụi người say rượu. Mà phàm ai đã bước chan vào làng say cũng cho là gặp nơi vui thú cả. Thường lại viện những lẽ này lẽ khác, tưởng như chính đáng nhất là cái lẽ đỡ lo đỡ nghĩ. Ôi! Những đã gọi là việc đáng lo, đáng nghĩ, thì tưởng càng phải nên tỉnh để mà lo nghĩ chi phân minh sáng suốt, chớ say thì lo nghĩ sao được. Cái say chính là cái làm cho bại hoại hết công việc. Việc to tày trời đến lúc say cũng còn bỏ, huống còn mong sao cho làm nên việc thường hàng ngày nữa.","giai_nghia":["Lưu Linh, Nguyễn Tịch: hai người đời nhà Tấn, tính phóng đại hay rượu mà không thiết gì đến việc đời.","Đái Danh Thế: người đời Khang Hi nhà Thanh đỗ Tiến sĩ, tài danh nổi tiếng, chuyên riêng về sử học, về sau bị nhà Thanh làm tội, vì ông làm sử có ý tôn nhà Minh.","Lưu Linh, Nguyễn Tịch: hai danh sĩ đời Tấn, nổi tiếng thích rượu, thuộc nhóm Trúc Lâm Thất Hiền.","Túy hương: chỉ cõi say sưa, nơi người ta chìm đắm trong rượu."],"tags":["rượu","say sưa","ẩn dật","phê phán"]},{"id":188,"title_vi":"TREO KIẾM BÊN MỘ","title_zh_simp":"季札挂剑","title_zh_trad":"季札掛劍","title_pinyin":"Jì Zhá Guà Jiàn","title_han_viet":"QUÝ TRÁT QUẾ KIẾM","title_en":"Ji Zha Hangs His Sword","source_book":"《新序·节士》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"延陵季子将西聘晋，带宝剑以过徐君。徐君观剑，不言而色欲之。延陵季子为有上国之使，未献也，然其心许之矣。致使于晋，顾反，则徐君死于楚，于是脱剑致之嗣君。嗣君曰：“先君无命，孤不敢受剑。”于是季子以剑带徐君墓树而去。徐人嘉而歌之曰：“延陵季子兮不忘故，脱千金之剑兮带丘墓。”","content_zh_trad":"延陵季子將西聘晉，帶寶劍以過徐君。徐君觀劍，不言而色欲之。延陵季子為有上國之使，未獻也，然其心許之矣。致使於晉，顧反，則徐君死於楚，於是脫劍致之嗣君。嗣君曰：“先君無命，孤不敢受劍。”於是季子以劍帶徐君墓樹而去。徐人嘉而歌之曰：“延陵季子兮不忘故，脫千金之劍兮帶丘墓。”","content_pinyin":"Yánlíng Jìzǐ jiāng xī pìn Jìn, dài bǎojiàn yǐ guò Xú jūn. Xú jūn guān jiàn, bù yán ér sè yù zhī. Yánlíng Jìzǐ wèi yǒu shàngguó zhī shǐ, wèi xiàn yě, rán qí xīn xǔ zhī yǐ. Zhì shǐ yú Jìn, gù fǎn, zé Xú jūn sǐ yú Chǔ, yúshì tuō jiàn zhì zhī sì jūn. Sì jūn yuē: “Xiān jūn wú mìng, gū bù gǎn shòu jiàn.” Yúshì Jìzǐ yǐ jiàn dài Xú jūn mù shù ér qù. Xú rén jiā ér gē zhī yuē: “Yánlíng Jìzǐ xī bù wàng gù, tuō qiānjīn zhī jiàn xī dài qiū mù.”","content_han_viet":"Diên Lăng Quý Tử tương tây sính Tấn, đới bảo kiếm dĩ quá Từ quân. Từ quân quan kiếm, bất ngôn nhi sắc dục chi. Diên Lăng Quý Tử vi hữu thượng quốc chi sứ, vị hiến dã, nhiên kỳ tâm hứa chi hĩ. Trí sứ vu Tấn, cố phản, tắc Từ quân tử vu Sở, vu thị thoát kiếm trí chi tự quân. Tự quân viết: “Tiên quân vô mệnh, cô bất cảm thụ kiếm.” Vu thị Quý Tử dĩ kiếm đới Từ quân mộ thụ nhi khứ. Từ nhân gia nhi ca chi viết: “Diên Lăng Quý Tử hề bất vong cố, thoát thiên kim chi kiếm hề đới khâu mộ.”","content_vi":"Duyên Lăng Quý Tử sang sứ nước Tấn có đeo thanh bảo kiếm qua chơi với vua nước Từ.\n\nVua nước Từ ngắm thanh kiếm ra dáng thích muốn xin mà không nói ra.\n\nDuyên Lăng Quý Tử, vì còn phải đi sứ thượng quốc, tuy chưa dâng vua Từ được thanh kiếm ấy, nhưng trong tâm đã định cho.\n\nKhi sang sứ Tấn xong, về qua Từ, thì vua Từ không may đã mất, đành tháo thanh kiếm đưa cho Tự quân. Các người theo hầu ngăn lại, nói:\n\nThanh kiếm ấy là của báu của nước Ngô, không phải là thứ để tặng được.\n\nDuyên Lăng Quý Tử nói:\n\nKhông phải là ta tặng. Độ trước ta lại đây, vua Từ xem kiếm của ta, tuy chẳng nói ra, mà như dáng muốn lấy. Ta vì còn phải đi sứ thượng quốc, chưa dâng được. Tuy vậy đã định cho. Nay vua Từ chết mà ta chẳng hiến thanh kiếm, thì ta tự dối tâm ta. Tiếc kiếm mà dối tâm, người liêm không chịu làm.\n\nNói xong bèn tháo kiếm đưa cho Tự quân.\n\nTự quân nói:\n\nTiên quân tôi không có dặn lại việc ấy, tôi không dám nhận kiếm.\n\nQuý Tử bèn treo thanh kiếm vào cái cây ở mộ vua Từ, rồi đi.\n\nNgười nước Từ ai cũng khen Duyên Lăng Quý Tử không quên người thân cố, đem thanh gươm báu treo vào cây bên mộ.\n\nTân Tự","loi_ban_vi":": Lúc vua Từ có ý lấy thanh kiếm, thì Quý Tử không tự ý đưa được, vì công việc phải làm còn chưa xong. Đến lúc Quý Tử có thể tặng thanh kiếm được, thì vua Từ không sao nhận được nữa, vì đã thác mất rồi.\n\nGiá phải người tầm thường, xử vào cái địa vị Quý Tử thì tuy trong bụng có điều hối hận, nhưng cũng tiếc thanh kiếm mà đem về nước. Nhưng Quý Tử vốn là người trong tâm đã nghĩ làm sao thì phải làm cho kì được như thế mới nghe, cứ đem thanh kiếm treo tại mộ vua Từ. Người ta tuy khuất, nhưng tâm mình vẫn còn, mà mình không muốn dối tâm mình thực là liêm lắm vậy.\n\nChẳng bù với những kẻ đã tự dối mình lại đi dối cả thiên hạ, nhất là đối với người đã khuất tuy có hẳn lời hứa đinh ninh mà rồi nuốt ngay lời đi được.","giai_nghia":[":","Tấn: nước lớn thời Xuân Thu ở vào địa phận tỉnh Sơn Tây ngày nay.","Từ: tức quận Đông Hải ngày nay.","Thượng quốc: tiếng gọi tên một nước to mạnh hơn mà mình phụ thuộc vào.","Tự quân: vua mới lên ngôi.","Tiên quân: tiếng để gọi vua cha đã mất.","Thân cố: thân bằng cố cựu.","Diên Lăng Quý Tử: tức Quý Trát, con vua nước Ngô, phong ở Diên Lăng, nổi tiếng nhân nghĩa.","Từ quân: vua nước Từ, chư hầu thời Xuân Thu.","Thượng quốc: chỉ nước Tấn, nước lớn thời bấy giờ."],"tags":["kiếm","lời hứa","liêm khiết","tín nghĩa"]},{"id":189,"title_vi":"CHẾT VÌ LỄ NGHĨA HAY VÌ TÌNH","title_zh_simp":"为礼义而死还是为情而死","title_zh_trad":"為禮義而死還是為情而死","title_pinyin":"Wèi lǐyì ér sǐ háishì wèi qíng ér sǐ","title_han_viet":"VỊ LỄ NGHĨA NHI TỬ HOÀN THỊ VỊ TÌNH NHI TỬ","title_en":"Dying for Propriety or for Love","source_book":"《古學精華》","source_author":"Nguyễn Văn Ngọc & Trần Lê Nhân","source_period":"Hiện đại (biên soạn)","content_zh_simp":"伍子胥遭楚王杀父杀兄之难，逃奔吴国，欲图报仇。途中病困粮绝，行乞而食。偶遇一女子在濑水边浣纱，旁有饭篮。子胥近前曰：“夫人，有饭可餐，能赐我一顿乎？”女子答：“我独与母居，年三十未嫁。君退，我饭不可与。”子胥曰：“夫人怜我穷途，少给一饭，何嫌之有？”女子知子胥非常人，乃开篮与之，兼有酱、瓜。子胥饱食，女子曰：“君子远行，何不再食至饱？”子胥食毕，起身谓女子曰：“夫人掩此篮壶，勿泄此事。”女子叹曰：“嗟乎！妾独与母居，年三十，守贞无瑕。今与丈夫饭，逾礼义，妾心甚愧。”子胥行数步，回顾，女子已投水而死。","content_zh_trad":"伍子胥遭楚王殺父殺兄之難，逃奔吳國，欲圖報仇。途中病困糧絕，行乞而食。偶遇一女子在瀨水邊浣紗，旁有飯籃。子胥近前曰：“夫人，有飯可餐，能賜我一頓乎？”女子答：“我獨與母居，年三十未嫁。君退，我飯不可與。”子胥曰：“夫人憐我窮途，少給一飯，何嫌之有？”女子知子胥非常人，乃開籃與之，兼有醬、瓜。子胥飽食，女子曰：“君子遠行，何不再食至飽？”子胥食畢，起身謂女子曰：“夫人掩此籃壺，勿泄此事。”女子嘆曰：“嗟乎！妾獨與母居，年三十，守貞無瑕。今與丈夫飯，逾禮義，妾心甚愧。”子胥行數步，回顧，女子已投水而死。","content_pinyin":"Wǔ Zǐxū zāo Chǔ wáng shā fù shā xiōng zhī nàn, táo bēn Wú guó, yù tú bàochóu. Túzhōng bìng kùn liáng jué, xíngqǐ ér shí. Ǒu yù yī nǚzǐ zài Lài shuǐ biān huàn shā, páng yǒu fàn lán. Zǐxū jìn qián yuē: “Fūrén, yǒu fàn kě cān, néng cì wǒ yī dùn hū?” Nǚzǐ dá: “Wǒ dú yǔ mǔ jū, nián sānshí wèi jià. Jūn tuì, wǒ fàn bùkě yǔ.” Zǐxū yuē: “Fūrén lián wǒ qióngtú, shǎo gěi yī fàn, hé xián zhī yǒu?” Nǚzǐ zhī Zǐxū fēicháng rén, nǎi kāi lán yǔ zhī, jiān yǒu jiàng, guā. Zǐxū bǎo shí, nǚzǐ yuē: “Jūnzǐ yuǎn xíng, hé bù zài shí zhì bǎo?” Zǐxū shí bì, qǐshēn wèi nǚzǐ yuē: “Fūrén yǎn cǐ lán hú, wù xiè cǐ shì.” Nǚzǐ tàn yuē: “Jiē hū! Qiè dú yǔ mǔ jū, nián sānshí, shǒu zhēn wú xiá. Jīn yǔ zhàngfū fàn, yú lǐyì, qiè xīn shèn kuì.” Zǐxū xíng shù bù, huígù, nǚzǐ yǐ tóu shuǐ ér sǐ.","content_han_viet":"Ngũ Tử Tư tao Sở vương sát phụ sát huynh chi nạn, đào bôn Ngô quốc, dục đồ báo thù. Đồ trung bệnh khốn lương tuyệt, hành khất nhi thực. Ngẫu ngộ nhất nữ tử tại Lại Thủy biên hoán sa, bàng hữu phạn lam. Tử Tư tấn tiền viết: “Phu nhân, hữu phạn khả xan, năng tứ ngã nhất đốn hồ?” Nữ tử đáp: “Ngã độc dữ mẫu cư, niên tam thập vị giá. Quân thối, ngã phạn bất khả dữ.” Tử Tư viết: “Phu nhân liên ngã cùng đồ, thiếu cấp nhất phạn, hà hiềm chi hữu?” Nữ tử tri Tử Tư phi thường nhân, nãi khai lam dữ chi, kiêm hữu tương, qua. Tử Tư bão thực, nữ tử viết: “Quân tử viễn hành, hà bất tái thực chí bão?” Tử Tư thực tất, khởi thân vị nữ tử viết: “Phu nhân yểm thử lam hồ, vật tiết thử sự.” Nữ tử thán viết: “Ta hồ! Thiếp độc dữ mẫu cư, niên tam thập, thủ trinh vô hà. Kim dữ trượng phu phạn, du lễ nghĩa, thiếp tâm thậm quý.” Tử Tư hành sổ bộ, hồi cố, nữ tử dĩ đầu thủy nhi tử.","content_vi":"Ngũ Tử Tư gặp phải nạn vua Sở giết cha, giết anh chạy trốn sang nước Ngô, định tìm cách báo thù. Giữa đường bị ốm và hết lương, phải ăn mày mà ăn. Tình cờ gặp một cô con gái đang đập sợi ở bờ sông Lại Thủy, bên cạnh có giỏ cơm.\n\nTử Tư đến gần nói:\n\nThưa cô, cô sẵn cơm đây, cô có làm phúc cho tôi được một bữa không?\n\nCô con gái đáp:\n\nTôi ở một mình với mẹ năm nay ba muơi tuổi, chưa có chồng. Ông đứng lui ra, cơm tôi, tôi ăn không thể cho được.\n\nTử Tư nói:\n\nThưa cô, cô nhủ lòng thương cho kẻ cùng đồ này ít cơm, thì có ngại gì tai tiếng.\n\nCô con gái biết Tử Tư không phải người thường, bèn mở giỏ cơm cho với cả tương, dưa nữa. Tử Tư ăn no, cô con gái bảo:\n\nQuân tử đi xa, sao không ăn thêm cho rõ no nữa?\n\nTử Tư ăn xong lúc đứng lên đi, bảo cô con gái rằng:\n\nCô che đậy giỏ cơm, bầu nước này đi, chớ đẻ cho lộ chuyện.\n\nCô con gái thở dài, nói rằng:\n\nThan ôi! Thiếp một mình ở với mẹ năm nay ba mươi tuổi, một lòng trinh bạch, không tai tiếng gì. Nay đưa cơm cho trượng phu ăn, qua vượt cả lễ nghĩa, thiếp lấy làm khổ tâm lắm.\n\nTử Tư đi được mấy bước, ngoảnh lại trông thì cô con gái đã đâm đầu xuống sông rồi.","loi_ban_vi":":\n\nMột người cùng đồ đang đói mà gặp một người có cơm cho ăn mà người ấy lại là một cô con gái nhan sắc, một cô con gái đã đứng tuổi, chưa chồng, mà cứu được một người dạng bộ trông rõ ra một đấng trượng phu không phải kẻ tầm thường, cái cảnh ngộ của đôi bên tuy là tình cờ gặp gỡ, nhưng biết đâu mà trai anh hùng gái thuyền quyên lại không bỗng dưng sinh ra lòng quyến luyến, yêu thương nhau. Mối tình nó thường khiến ra như thế. Nhưng chàng ăn xong chàng đi , thiếp ở lại còn một mình, chàng lại dặn thiếp đừng để lộ chuyện, chắc chàng đang tính đại sự, thiếp đâu lại dám để hại chàng. Vả chăng thiếp là con gái mà đã trò chuyện với trai, lại cho trai ăn cơm của mình, vượt qua cả lễ nghĩa quá nghiêm đời bấy giờ, đường kia nỗi nọ thật là là khó tính. Chi cho bằng thiếp liều mình thiếp, vừa trọn tình với chàng, bền chí cho chàng lại vừa giữ được nghĩa với đời chẳng là đôi đường vẹn đôi ư!\n\nÔi! Tình như thế cũng là tình, một cái tình để thơm muôn thưở ai mà chẳng phải kính phục.","giai_nghia":[":","Ngũ Tử Tư: tên là Viên, người nước Sở thời Xuân Thu vì cha, anh báo thù mà giết được vua Sở.","Lại Thủy: tên sông ở vào huyện Lật Dương, tỉnh Giang Tô ngày nay.","濑水: Tên sông, nay thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.","浣纱: Giặt lụa, chỉ việc lao động của phụ nữ thời xưa.","丈夫: Chỉ người đàn ông trưởng thành, ở đây là cách gọi tôn kính.","逾礼义: Vượt qua lễ nghĩa, chỉ hành vi không đúng khuôn phép."],"tags":["Ngũ Tử Tư","Tiết nghĩa","Tự vẫn","Lễ giáo"]},{"id":190,"title_vi":"VÌ NGHĨA NÊN TÌNH","title_zh_simp":"因义生情","title_zh_trad":"因義生情","title_pinyin":"Yīn yì shēng qíng","title_han_viet":"NHÂN NGHĨA SINH TÌNH","title_en":"Love Born from Righteousness","source_book":"《古學精華》","source_author":"Nguyễn Văn Ngọc & Trần Lê Nhân","source_period":"Hiện đại (biên soạn)","content_zh_simp":"有张氏少女，归宁于苏城，有侍女携妆奁随行。中途失落妆奁，久乃觉，返寻，见一乞丐坐守其盒。侍女惊告，乞丐即还之，曰：“吾已困至此，岂复取不义之财乎？”侍女大喜，取一簪以谢。乞丐笑曰：“多财不取，岂取一簪乎？”侍女曰：“吾失此奁，必死。幸君得之，还我，是君赐我财，又救我命。虽君不望报，我岂敢忘恩？我家在某巷，自今以后，早晚当候君于门，分食相待。但君在门外，我何以见君？门前有高竹，君摇之，我即知。”乞丐后如其言，侍女每给食。久之，家人觉，告主。主疑有私情，拷问，侍女实告。主乃召乞丐，养于家，并以侍女嫁之。后成夫妇，家道小康。","content_zh_trad":"有張氏少女，歸寧於蘇城，有侍女攜妝奩隨行。中途失落妝奩，久乃覺，返尋，見一乞丐坐守其盒。侍女驚告，乞丐即還之，曰：“吾已困至此，豈復取不義之財乎？”侍女大喜，取一簪以謝。乞丐笑曰：“多財不取，豈取一簪乎？”侍女曰：“吾失此奩，必死。幸君得之，還我，是君賜我財，又救我命。雖君不望報，我豈敢忘恩？我家在某巷，自今以後，早晚當候君於門，分食相待。但君在門外，我何以見君？門前有高竹，君搖之，我即知。”乞丐後如其言，侍女每給食。久之，家人覺，告主。主疑有私情，拷問，侍女實告。主乃召乞丐，養於家，並以侍女嫁之。後成夫婦，家道小康。","content_pinyin":"Yǒu Zhāng shì shàonǚ, guīníng yú Sū chéng, yǒu shìnǚ xié zhuānglián suíxíng. Zhōngtú shīluò zhuānglián, jiǔ nǎi jué, fǎn xún, jiàn yī qǐgài zuò shǒu qí hé. Shìnǚ jīng gào, qǐgài jí hái zhī, yuē: “Wú yǐ kùn zhì cǐ, qǐ fù qǔ bú yì zhī cái hū?” Shìnǚ dà xǐ, qǔ yī zān yǐ xiè. Qǐgài xiào yuē: “Duō cái bù qǔ, qǐ qǔ yī zān hū?” Shìnǚ yuē: “Wú shī cǐ lián, bì sǐ. Xìng jūn dé zhī, hái wǒ, shì jūn cì wǒ cái, yòu jiù wǒ mìng. Suī jūn bú wàng bào, wǒ qǐ gǎn wàng ēn? Wǒ jiā zài mǒu xiàng, zì jīn yǐhòu, zǎowǎn dāng hòu jūn yú mén, fēn shí xiāng dài. Dàn jūn zài mén wài, wǒ hé yǐ jiàn jūn? Mén qián yǒu gāo zhú, jūn yáo zhī, wǒ jí zhī.” Qǐgài hòu rú qí yán, shìnǚ měi gěi shí. Jiǔ zhī, jiārén jué, gào zhǔ. Zhǔ yí yǒu sīqíng, kǎowèn, shìnǚ shí gào. Zhǔ nǎi zhào qǐgài, yǎng yú jiā, bìng yǐ shìnǚ jià zhī. Hòu chéng fūfù, jiādào xiǎokāng.","content_han_viet":"Hữu Trương thị thiếu nữ, quy ninh vu Tô thành, hữu thị nữ huề trang liêm tùy hành. Trung đồ thất lạc trang liêm, cửu nãi giác, phản tầm, kiến nhất khất cái tọa thủ kỳ hạp. Thị nữ kinh cáo, khất cái tức hoàn chi, viết: “Ngô dĩ khốn chí thử, khởi phục thủ bất nghĩa chi tài hồ?” Thị nữ đại hỉ, thủ nhất trâm dĩ tạ. Khất cái tiếu viết: “Đa tài bất thủ, khởi thủ nhất trâm hồ?” Thị nữ viết: “Ngô thất thử liêm, tất tử. Hạnh quân đắc chi, hoàn ngã, thị quân tứ ngã tài, hựu cứu ngã mệnh. Tuy quân bất vọng báo, ngã khởi cảm vong ân? Ngã gia tại mỗ hạng, tự kim dĩ hậu, tảo vãn đương hậu quân vu môn, phân thực tương đãi. Đãn quân tại môn ngoại, ngã hà dĩ kiến quân? Môn tiền hữu cao trúc, quân diêu chi, ngã tức tri.” Khất cái hậu như kỳ ngôn, thị nữ mỗi cấp thực. Cửu chi, gia nhân giác, cáo chủ. Chủ nghi hữu tư tình, khảo vấn, thị nữ thực cáo. Chủ nãi triệu khất cái, dưỡng vu gia, tịnh dĩ thị nữ giá chi. Hậu thành phu phụ, gia đạo tiểu khang.","content_vi":"Một người thiếu nữ họ Trương ở nhà chồng tại Tô Thành về thăm cha mẹ đẻ. Có tiên thị tỳ, mang hộp đồ nữ trang theo hầu, chẳng may giữa đường đánh rơi, lâu lâu mới biết, trở lại tìm, thì thấy có người ăn mày đang ngồi giữ hộp ấy. Tên thị tỳ hoảng hốt nói, thì người ăn mày liền trao trả và nói rằng:\n\nTa đã cùng khổ đến thế này mà lại còn cuỗm thêm những của vô cớ, thì mong khá sao được.\n\nTê thị tỳ mừng lắm, lấy một chiếc thoa ra tạ. Người ăn mày cười nói:\n\nBao nhiêu của chẳng lấy, lại lấy một chiếct thoa ư!\n\nTên thị tỳ nói:\n\nTôi mà đánh mất cái hộp đồ nữ trang này thì đến chết mất. May mà người được, người trả lại cho, thế là người cho tôi của, lại cứu tôi sống vậy. Dù người không màng báo, tôi cũng không dám quên ơn. Nhà tôi ở ngõ... từ nay về sau, sớm trưa tôi xin đợi người đến cửa, xẻ phần cơm của tôi để người ăn.\n\nNhưng cô ở trong nhà, tôi làm thế nào mà thấy được?\n\nTrước của nhà tôi, có cây trúc cao, người cứ rung cây, là tôi khác biết Người ăn mày sau cứ làm như lời.\n\nTên thị tỳ cũng cứ cho ăn mãi.\n\nLâu người nhà biết, mách chủ. Chủ ngờ có ngoại tình đem ra tra hỏi, tên thị tỳ phải thú thật.\n\nNgười chủ nhà thấy vậy, bèn gọi người ăn mày đến nhà nuôi, rồi gả tên thị tỳ cho.\n\nSau hai người thành một đôi vợ chồng khá.\n\nTình Sử","loi_ban_vi":": Của không đáng lấy thì một mảy cũng không lấy, anh ăn mày này liêm thật, cái số không giàu thì con mắt tráo trừng cũng vô ích, anh ăn mày này đật thật. Hoài! Hạng ăn mày mà có duyên may, mà gặp dịp tốt, thì thật là con người có ích cho xã hội lắm.\n\nGiả sử anh ăn mày này mà lại có cái bụng \"ăn mày\" như những hạng người đời nay quá xu hướng về vật chất, thì biết đâu vợ chồng nhà kia không vì hộp nữ trang mà đến bỏ nhau, tớ thầy nhà kia, không vì hộp nữ trang mà đế có mạng, cả chính anh ăn mày kia không vì được hộp nữ trang mà đeo thêm muôn nghìn tội ác vào thân.\n\nCùng khổ mà thích làm lành, tôi tớ mà biết trả nghĩa, sau thành vợ chồng, tuy là tình duyên, nhưng cũng là tự mình tạo nên vận mệnh cho mình vậy, đáng khen đáng quý lắm thay!","giai_nghia":["归宁: Về thăm nhà cha mẹ đẻ (đối với phụ nữ đã lấy chồng).","妆奁: Hộp đựng đồ trang sức của phụ nữ.","不义之财: Của phi nghĩa, không chính đáng.","分食: Chia sẻ thức ăn."],"tags":["Liêm khiết","Ân nghĩa","Nhân duyên","Đạo đức"]},{"id":191,"title_vi":"NGHĨA CÔNG NẶNG HƠN TÌNH RIÊNG","title_zh_simp":"义公重于私情","title_zh_trad":"義公重於私情","title_pinyin":"Yì gōng zhòng yú sī qíng","title_han_viet":"NGHĨA CÔNG TRỌNG Ư TƯ TÌNH","title_en":"Public Duty Weighs Heavier than Private Affection","source_book":"《列女传》","source_author":"刘向","source_period":"西汉","content_zh_simp":"齐军攻鲁。至境上，见一妇人抱一儿，携一儿。见军至，乃弃抱者，抱携者，走避山中。弃者啼哭，妇人不顾。齐将追及，问曰：“所抱者谁子？所弃者谁子？”妇人对曰：“所抱者，兄之子也；所弃者，妾之子也。见军至，力不能两全，故弃妾之子。”齐将曰：“母子之情，至亲也。今弃子而抱侄，何也？”妇人曰：“妾之子，私爱也；兄之子，公义也。背公义而向私爱，虽生，何面目见吾兄乎？吾宁死，不敢为不义。”齐将乃止军，使人言于齐君曰：“鲁未可伐也。臣至境，见妇人犹知义，况其士大夫乎？请还军。”齐君许之。鲁君闻之，赐妇人束帛百端，号曰“义姑”。","content_zh_trad":"齊軍攻魯。至境上，見一婦人抱一兒，攜一兒。見軍至，乃棄抱者，抱攜者，走避山中。棄者啼哭，婦人不顧。齊將追及，問曰：“所抱者誰子？所棄者誰子？”婦人對曰：“所抱者，兄之子也；所棄者，妾之子也。見軍至，力不能兩全，故棄妾之子。”齊將曰：“母子之情，至親也。今棄子而抱侄，何也？”婦人曰：“妾之子，私愛也；兄之子，公義也。背公義而向私愛，雖生，何面目見吾兄乎？吾寧死，不敢為不義。”齊將乃止軍，使人言於齊君曰：“魯未可伐也。臣至境，見婦人猶知義，況其士大夫乎？請還軍。”齊君許之。魯君聞之，賜婦人束帛百端，號曰“義姑”。","content_pinyin":"Qí jūn gōng Lǔ. Zhì jìng shàng, jiàn yī fùrén bào yī ér, xié yī ér. Jiàn jūn zhì, nǎi qì bào zhě, bào xié zhě, zǒu bì shān zhōng. Qì zhě tí kū, fùrén bù gù. Qí jiāng zhuī jí, wèn yuē: “Suǒ bào zhě shuí zǐ? Suǒ qì zhě shuí zǐ?” Fùrén duì yuē: “Suǒ bào zhě, xiōng zhī zǐ yě; suǒ qì zhě, qiè zhī zǐ yě. Jiàn jūn zhì, lì bù néng liǎng quán, gù qì qiè zhī zǐ.” Qí jiāng yuē: “Mǔ zǐ zhī qíng, zhì qīn yě. Jīn qì zǐ ér bào zhí, hé yě?” Fùrén yuē: “Qiè zhī zǐ, sī ài yě; xiōng zhī zǐ, gōng yì yě. Bèi gōng yì ér xiàng sī ài, suī shēng, hé miànmù jiàn wú xiōng hū? Wú níng sǐ, bù gǎn wéi bù yì.” Qí jiāng nǎi zhǐ jūn, shǐ rén yán yú Qí jūn yuē: “Lǔ wèi kě fá yě. Chén zhì jìng, jiàn fùrén yóu zhī yì, kuàng qí shì dàfū hū? Qǐng huán jūn.” Qí jūn xǔ zhī. Lǔ jūn wén zhī, cì fùrén shù bó bǎi duān, hào yuē “Yì gū”.","content_han_viet":"Tề quân công Lỗ. Chí cảnh thượng, kiến nhất phụ nhân bão nhất nhi, huề nhất nhi. Kiến quân chí, nãi khí bão giả, bão huề giả, tẩu tị sơn trung. Khí giả đề khốc, phụ nhân bất cố. Tề tương truy cập, vấn viết: “Sở bão giả thùy tử? Sở khí giả thùy tử?” Phụ nhân đối viết: “Sở bão giả, huynh chi tử dã; sở khí giả, thiếp chi tử dã. Kiến quân chí, lực bất năng lưỡng toàn, cố khí thiếp chi tử.” Tề tương viết: “Mẫu tử chi tình, chí thân dã. Kim khí tử nhi bão chập, hà dã?” Phụ nhân viết: “Thiếp chi tử, tư ái dã; huynh chi tử, công nghĩa dã. Bối công nghĩa nhi hướng tư ái, tuy sinh, hà diện mục kiến ngô huynh hồ? Ngô ninh tử, bất cảm vi bất nghĩa.” Tề tương nãi chỉ quân, sử nhân ngôn vu Tề quân viết: “Lỗ vị khả phạt dã. Thần chí cảnh, kiến phụ nhân do tri nghĩa, huống kỳ sĩ đại phu hồ? Thỉnh hoàn quân.” Tề quân hứa chi. Lỗ quân văn chi, tứ phụ nhân thúc bạch bách đoan, hiệu viết “Nghĩa cô”.","content_vi":"Quân nước Tề sang đánh nước Lỗ.\n\nKhi đến chỗ giáp giới, trông thấy một người đàn bà một tay bồng một đứa bé, một tay dắt đứa nữa. Người đàn bà thấy quân kéo tới, vội vàng bỏ đứa đang bồng trên tay xuống mà bồng đứa bé đang dắt, rồi chạy trốn vào trong núi. Đứa bé kia chạy theo khóc, người đàn bà cứ chạy không ngoảnh lại.\n\nMột viên tướng nước Tề cho bắt đến, hỏi:\n\nĐứa bé nàng bế chạy là con ai? Còn đứa trẻ nàng bỏ liều là con ai?\n\nNgười đàn bà thưa:\n\nĐứa tôi bế là con anh cả tôi, đứa tôi bỏ lại là con tôi. Tôi thấy quân lính kéo đến, sức tôi không thể bảo toàn được cả hai đứa, cho nên tôi đành phải bỏ còn tôi lại.\n\nViên tướng nước Tề nói:\n\nCon với mẹ kể tình thân yêu thì đau xót lắm. Nay bỏ con mình lại mà chạy lấy con anh là cớ làm sao?\n\nNgười đàn bà nói:\n\nCon tôi là “tình riêng” con anh tôi là “nghĩa công”. Con đẻ tuy đau xót thật, nhưng đối với việc nghĩa thì tính làm sao. Cho nên tôi đành bỏ liều con tôi mà làm việc “nghĩa”. Tôi không thể nào chịu tiếng “vô nghĩa” mà vác mặt sống ở nước tôi được.\n\nViên tướng nước Tề dừng quân lại, sai người tâu với vua Tề rằng:\n\nNước Lỗ chưa thể đánh được. Quân ta mới đến chỗ cương giới, đã thấy con mụ đàn bà xó rừng còn biết làm điều “nghĩa” chẳng chịu đem “tình riêng” mà hại “nghĩa công” huống chi là những bậc quan lại, sĩ phu ở trong nước. Xin kéo quân về.\n\nVua Tề cho là phải.\n\nSau vua Lỗ biết chuyện này, thưởng người đàn bà một trăm tấm lụa và phong cho hai chữ “Nghĩa có”.","loi_ban_vi":": Tình với nghĩa cũng là quý, không quyết hẳn được bên nào nặng hơn bên nào. Cho nên ta phải cân nhắc cho cẩn thận, tình nặng hơn nghĩa, thì ta giữ tình, nghĩa nặng hơn tình, thì ta trọng nghĩa.\n\nNhư người đàn bà nói trong chuyện đây so cái “tình riêng” đối với “nghĩa công” thì không còn phải do dự gì nữa. Thế nào là tình riêng? là cái lòng yêu riêng của một mình mình. Thế nào là nghĩa công? Là cái việc phải đối với nhà, với nước, với thiên hạ. Tình riêng cứ kể cũng là nặng, nhưng so với nghĩa công thì nghĩa công còn nặng gấp mấy muơi. Nghĩa công đã nặng , thì đến cái thân là yêu nhất của mình ở đời mình, còn có thể hi sinh để mà giữ nghĩa huống chi là những thứ ngoài thân. Nguời đàn bà đây hiểu thấu lẽ ấy nên mới đành đem nghĩa để đoạn tình, chẳng vì tình mà hại nghĩa để giữ lấy nòi giống ông cha nhà chồng. Ngờ đâu cái ảnh hưởng của việc nghĩa ấy còn làm quân ngoại xâm ( Tề) phải kéo nhau về, vì chúng nghĩ: “nước người có thể cườp bóc được, về mới cao, sống chung sao được”. Thế mới hay, làm dân một nước mà không biết trọng “nghĩa” là người dân tai hại cho tổ quốc vậy.","giai_nghia":[":","Tề: một nước thời Xuân Thu ở vào toàn hạt tỉnh Sơn Đông ngày nay.","Lỗ: tên một nước thời Xuân Thu ở vào tự phủ Duyên Châu cho đến Bi Tứ tỉnh Sơn Đông.","义姑: Người phụ nữ được phong tặng vì hành động nghĩa hiệp.","公义: Điều phải làm vì lợi ích chung, đạo lý chung.","私爱: Tình cảm riêng tư, yêu thương cá nhân."],"tags":["Nghĩa","Tình","Liệt nữ","Khổng Tử"]},{"id":192,"title_vi":"MẸ KHÔN CON GIỎI","title_zh_simp":"母贤子忠","title_zh_trad":"母賢子忠","title_pinyin":"Mǔ xián zǐ zhōng","title_han_viet":"MẪU HIỀN TỬ TRUNG","title_en":"Wise Mother, Loyal Son","source_book":"《汉书》","source_author":"班固","source_period":"东汉","content_zh_simp":"王陵，沛人也，为县豪。高祖微时，兄事陵。及高祖起兵，陵亦聚党数千人，以兵属高祖。项羽闻之，取陵母置军中。陵使至，羽使陵母招陵。陵母私送使者，泣曰：“愿为老妾语陵：善事汉王，无以老妾故，持二心。”遂伏剑而死，以固陵志。","content_zh_trad":"王陵，沛人也，為縣豪。高祖微時，兄事陵。及高祖起兵，陵亦聚黨數千人，以兵屬高祖。項羽聞之，取陵母置軍中。陵使至，羽使陵母招陵。陵母私送使者，泣曰：“願為老妾語陵：善事漢王，無以老妾故，持二心。”遂伏劍而死，以固陵志。","content_pinyin":"Wáng Líng, Pèi rén yě, wéi xiàn háo. Gāo zǔ wēi shí, xiōng shì Líng. Jí Gāo zǔ qǐ bīng, Líng yì jù dǎng shù qiān rén, yǐ bīng shǔ Gāo zǔ. Xiàng Yǔ wén zhī, qǔ Líng mǔ zhì jūn zhōng. Líng shǐ zhì, Yǔ shǐ Líng mǔ zhāo Líng. Líng mǔ sī sòng shǐ zhě, qì yuē: “Yuàn wéi lǎo qiè yǔ Líng: shàn shì Hàn wáng, wú yǐ lǎo qiè gù, chí èr xīn.” Suì fú jiàn ér sǐ, yǐ gù Líng zhì.","content_han_viet":"Vương Lăng, Bái nhân dã, vi huyện hào. Cao Tổ vi thì, huynh sự Lăng. Cập Cao Tổ khởi binh, Lăng diệc tụ đảng sổ thiên nhân, dĩ binh thuộc Cao Tổ. Hạng Vũ văn chi, thủ Lăng mẫu trí quân trung. Lăng sứ chí, Vũ sử Lăng mẫu chiêu Lăng. Lăng mẫu tư tống sứ giả, khấp viết: “Nguyện vi lão thiếp ngữ Lăng: thiện sự Hán Vương, vô dĩ lão thiếp cố, trì nhị tâm.” Toại phục kiếm nhi tử, dĩ cố Lăng chí.","content_vi":"Vương Lăng, người đất Bái là người hào trưởng trong huyện.\n\nCao Tổ nhà Hán, lúc còn hàn vi, quý Vương Lăng như anh. Khi Cao Tổ khởi binh, đánh dẹp, Vương Lăng có vài nghìn quân, đem đi phụ theo Cao Tổ.\n\nHạng Vũ thấy thế, bắt mẹ Vương Lăng giam ở trong quận. Sứ giả của Vương Lăng đến, Hạng Vũ bách mẹ Lăng phải dụ Lăng về với mình.\n\nBà mẹ Lăng, tiễn sứ giả ra một mình, khóc mà bảo rằng:\n\nNgười nên vì thiếp già này nhắn bảo hộ Lăng một câu: Cứ hết lòng mà theo thờ Hán Vương chớ vì có thiếp già đây mà sinh ra nhị tâm nhé Nói đoạn, bà cầm gươm tự đâm chết, cốt ý để khuyến khích Vương Lăng giữ cho bền lòng.\n\nHán Sử","loi_ban_vi":": Đang lúc thiên hạ loạn lạc, quần hùng nổi lên, dù người có mắt tinh đời cũng chưa dễ đoán được sau này ai là vua, ai là giặc.\n\nNhư Bái Công và Hạng Vũ đây, đôi bên bây giờ đang tranh đâu. Bái Công thua luôn, Hạng Vũ được luôn, lại càng khó biết sự thống nhất về tay ai hơn nữa. Thế mà khen thay, bà mẹ Vương Lăng biết con quy phục Bái Công là phải. Một khi bà đã hiểu rõ ai là người có chính nghĩa, trước bà liều thân để khuyên con, sau là thí thân để vững lòng con, thực là một bậc đàn bà, không ngoan sáng suốt hiếm có vậy. Cho nên người đời trước có câu khen rằng:\n\n“Mẫu hề hà trí, tử hề hà trung, nhất môn mẫu tử, vạn cổ anh phong” nghĩa là “mẹ sao mà khôn như thế, con sao mà trung như thế, một nhà mẹ con tiếng thơm muôn đời”, thật là phải lắm.","giai_nghia":[":","Cao Tổ: tức là Bái Công vua đầu nhà Tây Hán, phá nhà Tần, diệt nhà Sở mà có thiên hạ.","Hạng Vũ: tức là Hạng Tịch khỏe mạnh và tài khá hơn người, tranh thiên hạ với Bái Công sau thua chết ở Cai Hạ.","沛: Tên đất, nay thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.","高祖: Tức Hán Cao Tổ Lưu Bang.","项羽: Hạng Vũ, thủ lĩnh quân phiệt thời Sở Hán."],"tags":["Mẫu thân","Trung nghĩa","Hy sinh","Hán Sở"]},{"id":193,"title_vi":"TU TẠI GIA","title_zh_simp":"在家修行","title_zh_trad":"在家修行","title_pinyin":"Zài jiā xiūxíng","title_han_viet":"TẠI GIA TU HÀNH","title_en":"Cultivating at Home","source_book":"《古學精華》","source_author":"Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân","source_period":"Nguyễn dynasty","content_zh_simp":"杨黼，幼时家贫，竭力耕田以养父母。一日，闻蜀中有无际大士，乃辞父母，欲往参访。行至半途，遇一老僧谓曰：‘见无际，不如见佛。’黼问：‘佛在何处？’僧曰：‘汝但归，遇披某色衣、倒屣者，即是佛也。’黼依言而返，途中无所遇。及至家，夜已深，叩门，母闻声喜甚，急披衣倒屣出迎。黼视之，宛然老僧所言佛相。自此知父母即佛，不必远求。","content_zh_trad":"楊黼，幼時家貧，竭力耕田以養父母。一日，聞蜀中有無際大士，乃辭父母，欲往參訪。行至半途，遇一老僧謂曰：‘見無際，不如見佛。’黼問：‘佛在何處？’僧曰：‘汝但歸，遇披某色衣、倒屣者，即是佛也。’黼依言而返，途中無所遇。及至家，夜已深，叩門，母聞聲喜甚，急披衣倒屣出迎。黼視之，宛然老僧所言佛相。自此知父母即佛，不必遠求。","content_pinyin":"Yáng Fǔ, yòu shí jiā pín, jié lì gēng tián yǐ yǎng fù mǔ. Yī rì, wén Shǔ zhōng yǒu Wújì Dàshì, nǎi cí fù mǔ, yù wǎng cān fǎng. Xíng zhì bàn tú, yù yī lǎo sēng wèi yuē: 'Jiàn Wújì, bù rú jiàn Fó.' Fǔ wèn: 'Fó zài hé chù?' Sēng yuē: 'Rǔ dàn guī, yù pī mǒu sè yī, dào xǐ zhě, jí shì Fó yě.' Fǔ yī yán ér fǎn, tú zhōng wú suǒ yù. Jí zhì jiā, yè yǐ shēn, kòu mén, mǔ wén shēng xǐ shèn, jí pī yī dào xǐ chū yíng. Fǔ shì zhī, wǎn rán lǎo sēng suǒ yán Fó xiàng. Zì cǐ zhī fù mǔ jí Fó, bù bì yuǎn qiú.","content_han_viet":"Dương Phủ, ấu thì gia bần, kiệt lực canh điền dĩ dưỡng phụ mẫu. Nhất nhật, văn Thục trung hữu Vô Tế Đại Sĩ, nãi từ phụ mẫu, dục vãng tham phỏng. Hành chí bán đồ, ngộ nhất lão tăng vị viết: 'Kiến Vô Tế, bất như kiến Phật.' Phủ vấn: 'Phật tại hà xứ?' Tăng viết: 'Nhữ đãn quy, ngộ phi mỗ sắc y, đảo tích giả, tức thị Phật dã.' Phủ y ngôn nhi phản, đồ trung vô sở ngộ. Cập chí gia, dạ dĩ thâm, khấu môn, mẫu văn thanh hỉ thậm, cấp phi y đảo tích xuất nghênh. Phủ thị chi, uyển nhiên lão tăng sở ngôn Phật tướng. Tự thử tri phụ mẫu tức Phật, bất tất viễn cầu.","content_vi":"Dương Phủ, lúc nhỏ nhà nghèo nhưng hết sức cày cấy đẻ phụng dưỡng song thân.\n\nMột hôm, ông nghe bên đất Thục có ông Vô Tế đại sĩ, ông bèn nói với song thân xin từ biệt ít lâu để đến hầu bực Vô Tế.\n\nĐi được nửa đường, ông gặp một vị lão tăng bảo ông rằng:\n\nĐược gặp bực Vô Tế chẳng bằng được gặp Phật.\n\nÔng hỏi:\n\nPhật ở đâu?\n\nLão tăng nói:\n\nNhà ngươi cứ quay trở về, gặp người nào mặc cái áo sắc như thế này, đi đôi dép kiểu như thế này, thì chính là Phật đấy.\n\nDương Phủ nghe lời quay về, đi đường chẳng gặp ai như thế cả. Khi ông tới nhà, đêm khuya, trời tối, ông gọi cửa, mẹ ông nghe tiếng mừng quá, tức thì vội khoác chăn đi dép ngược ra mở cửa cho ông. Bây giờ ông trông ra, thì hình dáng Phật, mà lão tăng đã nói chuyện cho nghe.\n\nTừ đấy, ông biết cha mẹ trong nhà tức là Phật, chẳng phải cầu kỳ đi mộ Phật đâu xa nữa.\n\nLý Nguyên Dương.","loi_ban_vi":": Bài này cốt dạy ta về chữ “Hiếu” vì cha mẹ như Phật, con phải phụng thờ cha mẹ như phụng thờ Phật vậy. Phật là một vì tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, thiên hạ thành kính thờ phụng rất phải. Nhưng cha mẹ là người sinh thành ra thân mình, thì há mình lại không nên thờ phụng thành kính hay sao! Phật xa, cha mẹ gần, con cái hãy nên một niềm thành kính mà thờ phụng lấy mẹ cha trước.\n\nThứ nhất thì tu tại gia Thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa.\n\nTu đâu bằng tu tại gia, Thờ cha, kính mẹ mới là chân tu.\n\nNghĩa những câu cổ ấy thực là đúng với nghĩa trong bài này. Vả lại, hiếu là đầu cả trăm nét tốt, chỉ có người có hiếu mới trung với Tổ quốc và nhân từ với nhân loại vậy.","giai_nghia":[":","Dương Phủ: người đời nhà Minh đỗ Tiến sĩ làm ngự sử có tiếng là một ông quan thanh liêm.","Thục: tên đất ở tỉnh Tứ Xuyên bây giờ","Vô Tế đại sĩ: một nhà tu hành đắc đạo vô cùng.","杨黼 (Yang Fu): A person from the Ming dynasty, known for his filial piety.","无际大士 (Wuji Dashi): A Buddhist master in Sichuan, also known as Wuji Chanshi.","倒屣 (dào xǐ): Putting on shoes backwards, a sign of haste and eagerness.","披衣 (pī yī): To drape a robe over the shoulders."],"tags":["Hiếu đạo","Phật giáo","Tu thân","Gia đình"]},{"id":194,"title_vi":"NGƯỜI VỢ HIỀN MINH","title_zh_simp":"贤明之妻","title_zh_trad":"賢明之妻","title_pinyin":"Xián míng zhī qī","title_han_viet":"HIỀN MINH CHI THÊ","title_en":"The Wise Wife","source_book":"《後漢書·列女傳》","source_author":"Fan Ye (范曄)","source_period":"Nam-Bắc triều (Lưu Tống)","content_zh_simp":"乐羊子尝行路，得遗金一饼，还以与妻。妻曰：‘妾闻志士不饮盗泉之水，廉者不受嗟来之食。况拾遗求利，以污其行乎！’羊子大惭，乃捐金于野，而远寻师学。一年来归，妻跪问其故，羊子曰：‘久行怀思，无它异也。’妻乃引刀趋机而言曰：‘此织生自蚕茧，成于机杼。一丝而累，以至于寸，累寸不已，遂成丈匹。今若断斯织也，则捐失成功，稽废时日。夫子积学，当‘日知其所亡’，以就懿德；若中道而归，何异断斯织乎？’羊子感其言，复还终业，遂七年不返。妻常勤勉，奉养舅姑，供给羊子。后羊子显贵，皆妻之力也。","content_zh_trad":"樂羊子嘗行路，得遺金一餅，還以與妻。妻曰：‘妾聞志士不飲盜泉之水，廉者不受嗟來之食。況拾遺求利，以污其行乎！’羊子大慚，乃捐金於野，而遠尋師學。一年來歸，妻跪問其故，羊子曰：‘久行懷思，無它異也。’妻乃引刀趨機而言曰：‘此織生自蠶繭，成於機杼。一絲而累，以至於寸，累寸不已，遂成丈匹。今若斷斯織也，則捐失成功，稽廢時日。夫子積學，當‘日知其所亡’，以就懿德；若中道而歸，何異斷斯織乎？’羊子感其言，復還終業，遂七年不返。妻常勤勉，奉養舅姑，供給羊子。後羊子顯貴，皆妻之力也。","content_pinyin":"Yuè Yángzǐ cháng xíng lù, dé yí jīn yī bǐng, hái yǐ yǔ qī. Qī yuē: 'Qiè wén zhì shì bù yǐn Dào Quán zhī shuǐ, lián zhě bù shòu jiē lái zhī shí. Kuàng shí yí qiú lì, yǐ wū qí xíng hū!' Yángzǐ dà cán, nǎi juān jīn yú yě, ér yuǎn xún shī xué. Yī nián lái guī, qī guì wèn qí gù, Yángzǐ yuē: 'Jiǔ xíng huái sī, wú tā yì yě.' Qī nǎi yǐn dāo qū jī ér yán yuē: 'Cǐ zhī shēng zì cán jiǎn, chéng yú jī zhù. Yī sī ér lèi, yǐ zhì yú cùn, lěi cùn bù yǐ, suì chéng zhàng pǐ. Jīn ruò duàn sī zhī yě, zé juān shī chéng gōng, jī fèi shí rì. Fū zǐ jī xué, dāng 'rì zhī qí suǒ wáng', yǐ jiù yì dé; ruò zhōng dào ér guī, hé yì duàn sī zhī hū?' Yángzǐ gǎn qí yán, fù huán zhōng yè, suì qī nián bù fǎn. Qī cháng qín miǎn, fèng yǎng jiù gū, gōng jǐ Yángzǐ. Hòu Yángzǐ xiǎn guì, jiē qī zhī lì yě.","content_han_viet":"Nhạc Dương Tử thường hành lộ, đắc di kim nhất bính, hoàn dĩ dữ thê. Thê viết: 'Thiếp văn chí sĩ bất ẩm Đạo Toàn chi thủy, liêm giả bất thụ giai lai chi thực. Huống thập di cầu lợi, dĩ ô kỳ hạnh hồ!' Dương Tử đại tàm, nãi quyên kim vu dã, nhi viễn tầm sư học. Nhất niên lai quy, thê quỵ vấn kỳ cố, Dương Tử viết: 'Cửu hành hoài tư, vô tha dị dã.' Thê nãi dẫn đao xu cơ nhi ngôn viết: 'Thử chức sinh tự tằm kiển, thành vu cơ trữ. Nhất ti nhi lụy, dĩ chí vu thốn, lụy thốn bất dĩ, toại thành trượng thất. Kim nhược đoạn tư chức dã, tắc quyên thất thành công, trệ phế thời nhật. Phu tử tích học, đương 'nhật tri kỳ sở vong', dĩ tựu ý đức; nhược trung đạo nhi quy, hà dị đoạn tư chức hồ?' Dương Tử cảm kỳ ngôn, phục hoàn chung nghiệp, toại thất niên bất phản. Thê thường cần mẫn, phụng dưỡng cữu cô, cung cấp Dương Tử. Hậu Dương Tử hiển quý, giai thê chi lực dã.","content_vi":"Vợ Nhạc Dương Tử là một bậc hiền minh.\n\nDương Tử một hôm đi đường bắt được lọ vàng người ta đáng rơi, mừng rỡ đem về nhà đưa cho vợ.\n\nVợ nói: Thiếp trộm nghe người chí sĩ không ai uống nước suối “Đạo toàn”, người liêm khiết không nhận của ăn “Ta lai”. Chàng nay nhặt được của rơi đường đem về cầu lợi để ô uế phẩm hạnh, thử nghĩ có nên không?\n\nDương Tử nghe nói thẹn quá, liền đem lọ vàng bắt được bỏ ngoài đồng.\n\nRồi đi xa, tìm thầy để học.\n\nĐi học mới được một năm, Dương Tử về chơi nhà. Vợ quỳ xuống trước mặt, hỏi rằng:\n\n- Chàng có việc gì mà về nhà?\n\nDương Tử nói:\n\n- Ta đi lâu nhớ nhà thì về, chẳng có việc gì cả.\n\nVợ cầm con dao đến chỗ khung cửi nói rằng:\n\n- Lụa đang dệt đây là phải làm từ lúc nuôi tằm ươm tơ cho đến lúc mắc lên được khung cửi. Nếu đánh đứt một sợi mà đứt mãi, thì đứt đến hàng tấc, đứt hàng tấc mà đứt mãi thì đứt đến hàng thước, hàng trượng, hàng cả tấm. Nếu bây giờ mà thiếp chặt đoạn đang dệt đây, thì bao nhiêu công phu ngày giờ từ trước đến nay đều mất hết cả. Chàng đi học là để trở về nên một bậc tài giỏi, nếu đang học mà bỏ về thì khác gì tấm lụa đang dệt đây mà chặt đi vậy.\n\nDương Tử thấy nói, cảm động lắm, đi học luôn bẩy năm đến tốt nghiệp mới về.\n\nVợ ở nhà chăm chỉ làm ăn trong bấy nhiêu năm, vừa nuôi nấng cha chồng, vừa nuôi cho chồng ăn học.\n\nNhạc Dương Tử nhờ có người vợ hiền như thế mà sau được quí hiển.","loi_ban_vi":"Cứ theo lẽ thường, cái gì nên làm thế nào thì người tài trai phải biết tự chủ trương lấy, không cần người đàn bà dạy bảo rồi mới chịu làm. Tuy vậy lắm khi cũng phải có sự kích thích ở ngoài vào thì mới dễ khiến người ta phấn chấn lên mà cố sức làm cho nên việc, và nhất là sự khuyến khích của vợ.\n\nNhư vợ Dương Tử đây thật là khéo biết dạy chồng, làm cho chồng thành ra người được có khí lại có chí và sau quí hiển được. Đúng với những câu ngạn ngữ “giai khôn vì vợ, giá ngoan vì chồng”, “giàu vì bạn sang vì vợ” lắm.","giai_nghia":["Hiền minh: có tài, có nết, sáng suốt công việc","Chí sĩ: người có khí tiết","Đạo Toàn: tên một cái suối ở huyện Tứ Thủy tỉnh Sơn Đông, Đạo Toàn nghĩa đen là cái suối ăn trộm, tên nghe đáng ghét nên cho nên khát cũng không muốn uống nước ấy","Ta lai: thương rằng cùng khổ đói khát mà gọi cho ăn và có ý khinh bỉ","乐羊子 (Yue Yangzi): A person from the Eastern Han dynasty, known for his integrity.","盗泉 (Dào Quán): A spring in ancient times, named 'Robber Spring', which a gentleman would not drink from.","嗟来之食 (jiē lái zhī shí): Food given with contempt; a reference to a story in the Book of Rites.","机杼 (jī zhù): Loom; metaphor for learning and effort.","日知其所亡 (rì zhī qí suǒ wáng): From the Analects, meaning to learn something new each day."],"tags":["Hiền thê","Khuyến học","Tiết tháo","Gia đình"]},{"id":195,"title_vi":"TRỌNG NGHĨA KHINH TÀI","title_zh_simp":"重义轻财","title_zh_trad":"重義輕財","title_pinyin":"Zhòng yì qīng cái","title_han_viet":"TRỌNG NGHĨA KHINH TÀI","title_en":"Valuing Righteousness over Wealth","source_book":"《宋史·范仲淹传》","source_author":"Thoát Thoát (脱脱)","source_period":"Nguyên triều","content_zh_simp":"范仲淹，字希文，苏州吴县人。少有志操，既长，知其家世，乃感泣辞母，去之应天府，依戚同文学。昼夜不息，冬月惫甚，以水沃面；食不给，至以糜粥继之，人不能堪，仲淹不苦也。举进士第，为广德军司理参军，迎其母归养。改集庆军节度推官，始还姓，更其名。仲淹内刚外和，性至孝，以母在时方贫，其后虽贵，非宾客不重肉。妻子衣食，仅能自充。而好施予，泛爱乐善。死之日，四方闻者，皆为叹息。为政尚忠厚，所至有恩，邠、庆二州之民与属羌，皆画像立生祠事之。及其卒也，羌酋数百人，哭之如父，斋三日而去。","content_zh_trad":"范仲淹，字希文，蘇州吳縣人。少有志操，既長，知其家世，乃感泣辭母，去之應天府，依戚同文學。晝夜不息，冬月憊甚，以水沃面；食不給，至以糜粥繼之，人不能堪，仲淹不苦也。舉進士第，為廣德軍司理參軍，迎其母歸養。改集慶軍節度推官，始還姓，更其名。仲淹內剛外和，性至孝，以母在時方貧，其後雖貴，非賓客不重肉。妻子衣食，僅能自充。而好施予，泛愛樂善。死之日，四方聞者，皆為歎息。為政尚忠厚，所至有恩，邠、慶二州之民與屬羌，皆畫像立生祠事之。及其卒也，羌酋數百人，哭之如父，齋三日而去。","content_pinyin":"Fàn Zhòngyān, zì Xīwén, Sūzhōu Wúxiàn rén. Shào yǒu zhìcāo, jì cháng, zhī qí jiāshì, nǎi gǎnqì cí mǔ, qù zhī Yìngtiānfǔ, yī Qī Tóngwén xué. Zhòuyè bù xī, dōng yuè bèi shèn, yǐ shuǐ wò miàn; shí bù gěi, zhì yǐ mízhōu jì zhī, rén bù néng kān, Zhòngyān bù kǔ yě. Jǔ jìnshì dì, wèi Guǎngdé jūn sīlǐ cānjūn, yíng qí mǔ guī yǎng. Gǎi Jíqìng jūn jiédù tuīguān, shǐ hái xìng, gèng qí míng. Zhòngyān nèi gāng wài hé, xìng zhì xiào, yǐ mǔ zài shí fāng pín, qí hòu suī guì, fēi bīnkè bù zhòng ròu. Qīzǐ yīshí, jǐn néng zì chōng. Ér hǎo shī yǔ, fàn ài lè shàn. Sǐ zhī rì, sìfāng wén zhě, jiē wèi tànxī. Wéi zhèng shàng zhōnghòu, suǒ zhì yǒu ēn, Bīn, Qìng èr zhōu zhī mín yǔ shǔ Qiāng, jiē huàxiàng lì shēngcí shì zhī. Jí qí zú yě, Qiāng qiú shù bǎi rén, kū zhī rú fù, zhāi sān rì ér qù.","content_han_viet":"Phạm Trọng Yêm, tự Hy Văn, Tô Châu Ngô huyện nhân. Thiếu hữu chí thao, ký trưởng, tri kỳ gia thế, nãi cảm khấp từ mẫu, khứ chi Ưng Thiên phủ, y Thích Đồng Văn học. Trú dạ bất tức, đông nguyệt bị thậm, dĩ thủy oát diện; thực bất cấp, chí dĩ mê chúc kế chi, nhân bất năng kham, Trọng Yêm bất khổ dã. Cử tiến sĩ đệ, vi Quảng Đức quân ty lý tham quân, nghênh kỳ mẫu quy dưỡng. Cải Tập Khánh quân tiết độ thôi quan, thủy hoàn tính, cánh kỳ danh. Trọng Yêm nội cương ngoại hòa, tính chí hiếu, dĩ mẫu tại thời phương bần, kỳ hậu tuy quý, phi tân khách bất trọng nhục. Thê tử y thực, cẩn năng tự sung. Nhi hảo thí dư, phiếm ái lạc thiện. Tử chi nhật, tứ phương văn giả, giai vi thán tức. Vi chính thượng trung hậu, sở chí hữu ân, Bân, Khánh nhị châu chi dân dữ thuộc Khương, giai họa tượng lập sinh từ sự chi. Cập kỳ tốt dã, Khương tùy sổ bách nhân, khốc chi như phụ, trai tam nhật nhi khứ.","content_vi":"Ông Phạm Trọng Yêm, người nhà Tống, làm quan đến Tể Tường mà vẫn nghèo suốt đời, tính ông trọng nghĩa, khinh tài, thích làm việc bố thí nhất là đối với người trong họ lại càng hậu lắm. Ông để dành lương bổng, mua được một thửa đất làm nghĩa trang để lấy hoa lợi cứu người nghèo khó trong họ.\n\nPhàm việc tang tóc cưới xin của chúng, ông đều lo liệu đỡ cho hết.\n\nCon ông là Thuần Nhân, đức tính cũng như ông. Lúc ông làm quan ở Khai Phong, để dành được năm trăm thùng thóc, sai Thuần Nhân đem về quê.\n\nThuần Nhân đi đến Đan Dương gặp người bạn cũ của cha là Thạch Man Khanh, nhà đã cùng quẫn, chẳng may gặp ba cái tang một lúc, Thuần Nhân giúp cho cả năm trăm thùng thóc. Hai con gái Man Khanh lớn tuổi mà chưa gả bán xây dựng, không chỗ nương tựa. Nhân Thuần cho nốt cả cái thuyền.\n\nĐến lúc về nhà cha hỏi:\n\n- Con đi có gặp ai không?\n\nThuần Nhân thưa: - Con đi đến Đan Dương có gặp Thạch Man Khanh nhà nghèo khổ, lại gặp lúc liền ba cái tang, hai con gái lớn không có gì để gây dựng, con có tự tiện cho cả năm trăm thùng thóc mà còn chưa đủ.\n\nÔng bảo: - Thế sao con không cho nốt cả cái thuyền?\n\nThuần Nhân thưa: - Con cũng đã cho cả cái thuyền rồi.\n\nÔng khen phải rồi nói: - Cứ như thế mới đáng là con ta.","loi_ban_vi":"Làm quan đến bậc tể tướng mà nhà vẫn nghèo, thế là thanh liêm đáng trọng. Để dành được đồng nào lại đem bố thí cho kẻ nghèo khổ, thế là nhân đức, đáng trọng hơn nữa. Có năm trăm hộc thóc cho cả thế là thương người, đáng phục. Có chiếc thuyền mình đi cũng cho nốt, thế là quên mình đáng trọng hơn nữa. Rõ ràng cha nào con nấy; hai cha con ông Phạm Trọng Yêm thật là có lòng nhân ái, hiểu thấu cái nghĩa cứu kẻ khốn cùng, giúp người tai nạn là việc vui lòng nhất ở đời. Cho nên ta có câu:\n\nSướng gì hơn sướng làm lành, Cho bao nhiêu của để dành bấy nhiêu.","giai_nghia":["Phạm Trọng Yêm: bực danh thần nhà Tống, có chí to gánh vác việc đời, lo thì lo trước khi thiên hạ lo, vui thì sau khi thiên hạ vui","Trọng nghĩa: lấy điều phải làm trọng mà hết sức làm","Khinh tài: cho của cải là thường, không để cho của lấn được nghĩa","范仲淹 (Fàn Zhòngyān): Phạm Trọng Yêm (989-1052), nhà chính trị, nhà văn nổi tiếng thời Bắc Tống, tự Hy Văn, người Ngô huyện, Tô Châu.","字希文 (zì Xīwén): tự Hy Văn, tên chữ của Phạm Trọng Yêm.","应天府 (Yìngtiānfǔ): Ưng Thiên phủ, tên gọi thời Tống của Nam Kinh ngày nay, nơi có trường học nổi tiếng.","戚同文 (Qī Tóngwén): Thích Đồng Văn, một học giả nổi tiếng thời đó.","糜粥 (mízhōu): cháo loãng, mê chúc."],"tags":["Đức hạnh","Hiếu thảo","Tiết kiệm","Lòng nhân"]},{"id":196,"title_vi":"MUA XƯƠNG NGỰA","title_zh_simp":"买马骨","title_zh_trad":"買馬骨","title_pinyin":"Mǎi mǎ gǔ","title_han_viet":"MÃI MÃ CỐT","title_en":"Buying Horse Bones","source_book":"《战国策·燕策一》","source_author":"刘向","source_period":"西汉","content_zh_simp":"燕昭王收破燕后即位，卑身厚币，以招贤者，欲将以报仇。故往见郭隗先生曰：“齐因孤国之乱，而袭破燕。孤极知燕小力少，不足以报。然诚得贤士以共国，以雪先王之耻，孤之愿也。敢问以国报仇者奈何？”郭隗先生对曰：“帝者与师处，王者与友处，霸者与臣处，亡国与役处。诎指而事之，北面而受学，则百己者至。先趋而后息，先问而后嘿，则什己者至。人趋己趋，则若己者至。冯几据杖，眄视指使，则厮役之人至。若恣睢奋击，呴藉叱咄，则徒隶之人至矣。此古服道致士之法也。王诚博选国中之贤者，而朝其门下，天下闻王朝其贤臣，天下之士必趋于燕矣。”昭王曰：“寡人将谁朝而可？”郭隗先生曰：“臣闻古之君人，有以千金求千里马者，三年不能得。涓人言于君曰：‘请求之。’君遣之。三月得千里马，马已死，买其首五百金，反以报君。君大怒曰：‘所求者生马，安事死马而捐五百金？’涓人对曰：‘死马且买之五百金，况生马乎？天下必以王为能市马，马今至矣。’于是不能期年，千里之马至者三。今王诚欲致士，先从隗始。隗且见事，况贤于隗者乎？岂远千里哉？”于是昭王为隗筑宫而师之。乐毅自魏往，邹衍自齐往，剧辛自赵往，士争凑燕。燕王吊死问生，与百姓同其甘苦。二十八年，燕国殷富，士卒乐佚轻战。于是遂以乐毅为上将军，与秦、楚、三晋合谋以伐齐。齐兵败，闵王出走于外。燕兵独追北，入至临淄，尽取齐宝，烧其宫室宗庙。齐城之不下者，唯独莒、即墨。","content_zh_trad":"燕昭王收破燕後即位，卑身厚幣，以招賢者，欲將以報仇。故往見郭隗先生曰：“齊因孤國之亂，而襲破燕。孤極知燕小力少，不足以報。然誠得賢士以共國，以雪先王之恥，孤之願也。敢問以國報仇者奈何？”郭隗先生對曰：“帝者與師處，王者與友處，霸者與臣處，亡國與役處。詘指而事之，北面而受學，則百己者至。先趨而後息，先問而後嘿，則什己者至。人趨己趨，則若己者至。馮几據杖，眄視指使，則廝役之人至。若恣睢奮擊，呴藉叱咄，則徒隸之人至矣。此古服道致士之法也。王誠博選國中之賢者，而朝其門下，天下聞王朝其賢臣，天下之士必趨於燕矣。”昭王曰：“寡人將誰朝而可？”郭隗先生曰：“臣聞古之君人，有以千金求千里馬者，三年不能得。涓人言於君曰：‘請求之。’君遣之。三月得千里馬，馬已死，買其首五百金，反以報君。君大怒曰：‘所求者生馬，安事死馬而捐五百金？’涓人對曰：‘死馬且買之五百金，況生馬乎？天下必以王為能市馬，馬今至矣。’於是不能期年，千里之馬至者三。今王誠欲致士，先從隗始。隗且見事，況賢於隗者乎？豈遠千里哉？”於是昭王為隗築宮而師之。樂毅自魏往，鄒衍自齊往，劇辛自趙往，士爭湊燕。燕王弔死問生，與百姓同其甘苦。二十八年，燕國殷富，士卒樂佚輕戰。於是遂以樂毅為上將軍，與秦、楚、三晉合謀以伐齊。齊兵敗，閔王出走於外。燕兵獨追北，入至臨淄，盡取齊寶，燒其宮室宗廟。齊城之不下者，唯獨莒、即墨。","content_pinyin":"Yān Zhāo wáng shōu pò Yān hòu jí wèi, bēi shēn hòu bì, yǐ zhāo xián zhě, yù jiāng yǐ bào chóu. Gù wǎng jiàn Guō Wěi xiānshēng yuē: “Qí yīn gū guó zhī luàn, ér xí pò Yān. Gū jí zhī Yān xiǎo lì shǎo, bù zú yǐ bào. Rán chéng dé xián shì yǐ gòng guó, yǐ xuě xiān wáng zhī chǐ, gū zhī yuàn yě. Gǎn wèn yǐ guó bào chóu zhě nài hé?” Guō Wěi xiānshēng duì yuē: “Dì zhě yǔ shī chù, wáng zhě yǔ yǒu chù, bà zhě yǔ chén chù, wáng guó yǔ yì chù. Qū zhǐ ér shì zhī, běi miàn ér shòu xué, zé bǎi jǐ zhě zhì. Xiān qū ér hòu xī, xiān wèn ér hòu mò, zé shén jǐ zhě zhì. Rén qū jǐ qū, zé ruò jǐ zhě zhì. Píng jǐ jù zhàng, miǎn shì zhǐ shǐ, zé sī yì zhī rén zhì. Ruò zì suī fèn jī, hǒu jí chì duō, zé tú lì zhī rén zhì yǐ. Cǐ gǔ fú dào zhì shì zhī fǎ yě. Wáng chéng bó xuǎn guó zhōng zhī xián zhě, ér cháo qí mén xià, tiānxià wén wáng cháo qí xián chén, tiānxià zhī shì bì qū yú Yān yǐ.” Zhāo wáng yuē: “Guǎrén jiāng shuí cháo ér kě?” Guō Wěi xiānshēng yuē: “Chén wén gǔ zhī jūn rén, yǒu yǐ qiān jīn qiú qiānlǐ mǎ zhě, sān nián bù néng dé. Juān rén yán yú jūn yuē: ‘Qǐng qiú zhī.’ Jūn qiǎn zhī. Sān yuè dé qiānlǐ mǎ, mǎ yǐ sǐ, mǎi qí shǒu wǔbǎi jīn, fǎn yǐ bào jūn. Jūn dà nù yuē: ‘Suǒ qiú zhě shēng mǎ, ān shì sǐ mǎ ér juān wǔbǎi jīn?’ Juān rén duì yuē: ‘Sǐ mǎ qiě mǎi zhī wǔbǎi jīn, kuàng shēng mǎ hū? Tiānxià bì yǐ wáng wéi néng shì mǎ, mǎ jīn zhì yǐ.’ Yúshì bù néng jīnián, qiānlǐ zhī mǎ zhì zhě sān. Jīn wáng chéng yù zhì shì, xiān cóng Wěi shǐ. Wěi qiě jiàn shì, kuàng xián yú Wěi zhě hū? Qǐ yuǎn qiānlǐ zāi?” Yúshì Zhāo wáng wèi Wěi zhù gōng ér shī zhī. Yuè Yì zì Wèi wǎng, Zōu Yǎn zì Qí wǎng, Jù Xīn zì Zhào wǎng, shì zhēng còu Yān. Yān wáng diào sǐ wèn shēng, yǔ bǎixìng tóng qí gān kǔ. Èrshíbā nián, Yān guó yīnfù, shìzú lè yì qīng zhàn. Yúshì suì yǐ Yuè Yì wéi shàng jiāngjūn, yǔ Qín, Chǔ, Sān Jìn hé móu yǐ fá Qí. Qí bīng bài, Mǐn wáng chūzǒu yú wài. Yān bīng dú zhuī běi, rù zhì Línzī, jǐn qǔ Qí bǎo, shāo qí gōngshì zōngmiào. Qí chéng zhī bù xià zhě, wéidú Jǔ, Jímò.","content_han_viet":"Yên Chiêu vương thu phá Yên hậu tức vị, ti thân hậu tệ, dĩ chiêu hiền giả, dục tương dĩ báo cừu. Cố vãng kiến Quách Vĩ tiên sinh viết: “Tề nhân cô quốc chi loạn, nhi tập phá Yên. Cô cực tri Yên tiểu lực thiểu, bất túc dĩ báo. Nhiên thành đắc hiền sĩ dĩ cộng quốc, dĩ tuyết tiên vương chi sỉ, cô chi nguyện dã. Cảm vấn dĩ quốc báo cừu giả nại hà?” Quách Vĩ tiên sinh đối viết: “Đế giả dữ sư xử, vương giả dữ hữu xử, bá giả dữ thần xử, vong quốc dữ dịch xử. Khuất chỉ nhi sự chi, bắc diện nhi thụ học, tắc bách kỷ giả chí. Tiên xu nhi hậu tức, tiên vấn nhi hậu mặc, tắc thập kỷ giả chí. Nhân xu kỷ xu, tắc nhược kỷ giả chí. Bằng kỷ cứ trượng, miễn thị chỉ sử, tắc tê dịch chi nhân chí. Nhược tứ tuy phấn kích, cấu tạ xích đốt, tắc đồ lệ chi nhân chí hĩ. Thử cổ phục đạo trí sĩ chi pháp dã. Vương thành bác tuyển quốc trung chi hiền giả, nhi triều kỳ môn hạ, thiên hạ văn vương triều kỳ hiền thần, thiên hạ chi sĩ tất xu vu Yên hĩ.” Chiêu vương viết: “Quả nhân tương thùy triều nhi khả?” Quách Vĩ tiên sinh viết: “Thần văn cổ chi quân nhân, hữu dĩ thiên kim cầu thiên lý mã giả, tam niên bất năng đắc. Quyên nhân ngôn vu quân viết: ‘Thỉnh cầu chi.’ Quân khiển chi. Tam nguyệt đắc thiên lý mã, mã dĩ tử, mãi kỳ thủ ngũ bách kim, phản dĩ báo quân. Quân đại nộ viết: ‘Sở cầu giả sinh mã, an sự tử mã nhi quyên ngũ bách kim?’ Quyên nhân đối viết: ‘Tử mã thả mãi chi ngũ bách kim, huống sinh mã hồ? Thiên hạ tất dĩ vương vi năng thị mã, mã kim chí hĩ.’ Vu thị bất năng kỳ niên, thiên lý chi mã chí giả tam. Kim vương thành dục trí sĩ, tiên tòng Vĩ thủy. Vĩ thả kiến sự, huống hiền vu Vĩ giả hồ? Khởi viễn thiên lý tai?” Vu thị Chiêu vương vi Vĩ trúc cung nhi sư chi. Nhạc Nghị tự Ngụy vãng, Trâu Diễn tự Tề vãng, Kịch Tân tự Triệu vãng, sĩ tranh tấu Yên. Yên vương điếu tử vấn sinh, dữ bách tính đồng kỳ cam khổ. Nhị thập bát niên, Yên quốc ân phú, sĩ tốt lạc dật khinh chiến. Vu thị toại dĩ Nhạc Nghị vi thượng tướng quân, dữ Tần, Sở, Tam Tấn hợp mưu dĩ phạt Tề. Tề binh bại, Mẫn vương xuất tẩu vu ngoại. Yên binh độc truy bắc, nhập chí Lâm Tri, tận thủ Tề bảo, thiêu kỳ cung thất tông miếu. Tề thành chi bất hạ giả, duy độc Cử, Tức Mặc.","content_vi":"Người nước Tề đánh nước Yên giết được vua Yên.\n\nNgười Yên lập thái tử tên là Bình lên làm vua tức là vua Chiêu Vương.\n\nChiêu Vương lên ngôi, thương dân lo việc nước, cầu người hiền tài. Một hôm, bảo Quách Ngỗi rằng:\n\n- Nước Tề nhân dịp nước ta loạn, sang đánh lấy nước ta. Ta biết rõ ràng nước ta nhỏ, dân ta yếu, thực khó lòng mà báo thù. Song nếu được những người giỏi cùng lo toan việc nước may mà rửa sạch sự nhục của tiên vương được chăng. Chí nguyện quả nhân như vậy tiên sinh xem ai là người giỏi để cùng ta lo toan việc nước thì hay.\n\nNgỗi nói: Xưa có ông vua đưa nghìn vàng cho người nội thị đi mua con ngựa chạy ngày nghìn dặm. Khi đến ngựa đã chết, anh ta mua bộ xương ngựa năm trăm nén vàng đem về. Vua thấy thế giận lắm. Anh ta thưa: “Ngựa chết còn quý là mà mua như vậy huống chi là ngựa sống. Tôi chắc thế nào nay mai người ta cũng đem ngựa hay đến bán cho nhà vua”. Quả nhiên không đầy một năm mà người ta đem ngựa hay đến bán đã ba bận. Nay nhà vua muốn được người giỏi thì trước hãy dùng tôi. Người giỏi hơn tôi thấy thế há có ngại xa mà không lại ư?\n\nChu Sử","loi_ban_vi":"Có bỏ năm trăm nén vàng ra mua bộ xương ngựa, sau mới có ngựa hay mà dùng; có dùng Quách Ngỗi là người tài vừa và ở gần trước, sau mới có người thật hiền tài ở xa cầu đến. Cái lối ấy là lối quyền mưu trí thuật của bá giả đời bấy giờ, để quyến dẫn lấy nhân tài trong thiên hạ.\n\nĐọc bài này ta đáng khen Quách Ngỗi, đã tìm được câu thí dụ hay để tự tiến lấy mình mà nhất là khi được tin dùng lại hết lòng báo đáp, không phụ sự ủy thác của Chiêu Vương.\n\nTa lại đáng phục Chiêu Vương là biết nghe Quách Ngỗi mà nhất là biết cố ý lo toan báo thù cho tiên vương, và dụng tâm làm cho cố quốc được cường thịnh.","giai_nghia":["Tề: tên một nước mạnh về thời Chiến Quốc ở vào tỉnh Sơn Đông ngày nay","Yên: tên một nước thời Chiến Quốc ở vào Phụng Thiên, Trực Lệ và phía bắc Triều Tiên ngày nay","燕昭王 (Yān Zhāo wáng): King Zhao of Yan, ruler of the state of Yan during the Warring States period.","郭隗 (Guō Wěi): A worthy man of Yan who advised King Zhao on attracting talent.","千金市骨 (qiān jīn shì gǔ): Literally 'spending a thousand gold pieces to buy bones', a metaphor for valuing talent and attracting worthy men.","涓人 (juān rén): A eunuch or palace attendant.","乐毅 (Yuè Yì): A famous general who served Yan and led the coalition against Qi."],"tags":["Chiêu Hiền Đãi Sĩ","Mua Xương Ngựa","Quách Vĩ","Yên Chiêu Vương","Chiến Quốc Sách"]},{"id":197,"title_vi":"LỜI NÓI KẺ BẮT RẮN","title_zh_simp":"捕蛇者说","title_zh_trad":"捕蛇者說","title_pinyin":"Bǔ shé zhě shuō","title_han_viet":"BỘ XÀ GIẢ THUYẾT","title_en":"The Tale of the Snake Catcher","source_book":"《柳河东集》","source_author":"柳宗元","source_period":"唐代","content_zh_simp":"永州之野产异蛇，黑质而白章；触草木，尽死；以啮人，无御之者。然得而腊之以为饵，可以已大风、挛踠、瘘、疠，去死肌，杀三虫。其始，太医以王命聚之，岁赋其二，募有能捕之者，当其租入。永之人争奔走焉。有蒋氏者，专其利三世矣。问之，则曰：“吾祖死于是，吾父死于是。今吾嗣为之十二年，几死者数矣。”言之，貌若甚戚者。余悲之，且曰：“若毒之乎？余将告于莅事者，更若役，复若赋，则何如？”蒋氏大戚，汪然出涕曰：“君将哀而生之乎？则吾斯役之不幸，未若复吾赋不幸之甚也。向吾不为斯役，则久已病矣。自吾氏三世居是乡，积于今六十岁矣，而乡邻之生日蹙，殚其地之出，竭其庐之入，号呼而转徙，饥渴而顿踣，触风雨，犯寒暑，呼嘘毒疠，往往而死者相藉也。曩与吾祖居者，今其室十无一焉；与吾父居者，今其室十无二三焉；与吾居十二年者，今其室十无四五焉。非死则徙尔。而吾以捕蛇独存。悍吏之来吾乡，叫嚣乎东西，隳突乎南北，哗然而骇者，虽鸡狗不得宁焉。吾恂恂而起，视其缶，而吾蛇尚存，则弛然而卧。谨食之，时而献焉。退而甘食其土之有，以尽吾齿。盖一岁之犯死者二焉；其余，则熙熙而乐。岂若吾乡邻之旦旦有是哉！今虽死乎此，比吾乡邻之死则已后矣，又安敢毒耶？”余闻而愈悲。孔子曰：“苛政猛于虎也。”吾尝疑乎是，今以蒋氏观之，犹信。呜呼！孰知赋敛之毒有甚是蛇者乎？故为之说，以俟夫观人风者得焉。","content_zh_trad":"永州之野產異蛇，黑質而白章；觸草木，盡死；以嚙人，無禦之者。然得而腊之以為餌，可以已大風、攣踠、瘻、癘，去死肌，殺三蟲。其始，太醫以王命聚之，歲賦其二，募有能捕之者，當其租入。永之人爭奔走焉。有蔣氏者，專其利三世矣。問之，則曰：“吾祖死於是，吾父死於是。今吾嗣為之十二年，幾死者數矣。”言之，貌若甚戚者。餘悲之，且曰：“若毒之乎？餘將告於蒞事者，更若役，復若賦，則何如？”蔣氏大戚，汪然出涕曰：“君將哀而生之乎？則吾斯役之不幸，未若復吾賦不幸之甚也。向吾不為斯役，則久已病矣。自吾氏三世居是鄉，積於今六十歲矣，而鄉鄰之生日蹙，殫其地之出，竭其廬之入，號呼而轉徙，饑渴而頓踣，觸風雨，犯寒暑，呼噓毒癘，往往而死者相藉也。曩與吾祖居者，今其室十無一焉；與吾父居者，今其室十無二三焉；與吾居十二年者，今其室十無四五焉。非死則徙爾。而吾以捕蛇獨存。悍吏之來吾鄉，叫囂乎東西，隳突乎南北，嘩然而駭者，雖雞狗不得寧焉。吾恂恂而起，視其缶，而吾蛇尚存，則弛然而臥。謹食之，時而獻焉。退而甘食其土之有，以盡吾齒。蓋一歲之犯死者二焉；其餘，則熙熙而樂。豈若吾鄉鄰之旦旦有是哉！今雖死乎此，比吾鄉鄰之死則已後矣，又安敢毒耶？”餘聞而愈悲。孔子曰：“苛政猛於虎也。”吾嘗疑乎是，今以蔣氏觀之，猶信。嗚呼！孰知賦斂之毒有甚是蛇者乎？故為之說，以俟夫觀人風者得焉。","content_pinyin":"Yǒngzhōu zhī yě chǎn yì shé, hēi zhì ér bái zhāng; chù cǎo mù, jìn sǐ; yǐ niè rén, wú yù zhī zhě. Rán dé ér xī zhī yǐ wéi ěr, kěyǐ yǐ dàfēng, luán wǎn, lòu, lì, qù sǐ jī, shā sān chóng. Qí shǐ, tàiyī yǐ wáng mìng jù zhī, suì fù qí èr, mù yǒu néng bǔ zhī zhě, dāng qí zū rù. Yǒng zhī rén zhēng bēnzǒu yān. Yǒu Jiǎng shì zhě, zhuān qí lì sān shì yǐ. Wèn zhī, zé yuē: “Wú zǔ sǐ yú shì, wú fù sǐ yú shì. Jīn wú sì wéi zhī shí'èr nián, jǐ sǐ zhě shù yǐ.” Yán zhī, mào ruò shèn qī zhě. Yú bēi zhī, qiě yuē: “Ruò dú zhī hū? Yú jiāng gào yú lì shì zhě, gèng ruò yì, fù ruò fù, zé rú hé?” Jiǎng shì dà qī, wāng rán chū tì yuē: “Jūn jiāng āi ér shēng zhī hū? Zé wú sī yì zhī bùxìng, wèi ruò fù wú fù bùxìng zhī shèn yě. Xiàng wú bù wéi sī yì, zé jiǔ yǐ bìng yǐ. Zì wú shì sān shì jū shì xiāng, jī yú jīn liùshí suì yǐ, ér xiāng lín zhī shēng rì cù, dān qí dì zhī chū, jié qí lú zhī rù, háohū ér zhuǎn xǐ, jī kě ér dùn bó, chù fēngyǔ, fàn hánshǔ, hū xū dú lì, wǎngwǎng ér sǐ zhě xiāng jiè yě. Nǎng yǔ wú zǔ jū zhě, jīn qí shì shí wú yī yān; yǔ wú fù jū zhě, jīn qí shì shí wú èr sān yān; yǔ wú jū shí'èr nián zhě, jīn qí shì shí wú sì wǔ yān. Fēi sǐ zé xǐ ěr. Ér wú yǐ bǔ shé dú cún. Hàn lì zhī lái wú xiāng, jiàoxiāo hū dōngxī, huī tū hū nánběi, huárán ér hài zhě, suī jī gǒu bù dé níng yān. Wú xúnxún ér qǐ, shì qí fǒu, ér wú shé shàng cún, zé chírán ér wò. Jǐn shí zhī, shí ér xiàn yān. Tuì ér gān shí qí tǔ zhī yǒu, yǐ jǐn wú chǐ. Gài yī suì zhī fàn sǐ zhě èr yān; qí yú, zé xīxī ér lè. Qǐ ruò wú xiāng lín zhī dàndàn yǒu shì zāi! Jīn suī sǐ hū cǐ, bǐ wú xiāng lín zhī sǐ zé yǐ hòu yǐ, yòu ān gǎn dú yé?” Yú wén ér yù bēi. Kǒngzǐ yuē: “Kē zhèng měng yú hǔ yě.” Wú cháng yí hū shì, jīn yǐ Jiǎng shì guān zhī, yóu xìn. Wūhū! Shú zhī fù liǎn zhī dú yǒu shèn shì shé zhě hū? Gù wèi zhī shuō, yǐ sì fú guān rén fēng zhě dé yān.","content_han_viet":"Vĩnh Châu chi dã sản dị xà, hắc chất nhi bạch chương; xúc thảo mộc, tận tử; dĩ nghiệt nhân, vô ngự chi giả. Nhiên đắc nhi tịch chi dĩ vi nhị, khả dĩ dĩ đại phong, loan uyển, lũ, lệ, khứ tử cơ, sát tam trùng. Kỳ thủy, thái y dĩ vương mệnh tụ chi, tuế phú kỳ nhị, mộ hữu năng bộ chi giả, đương kỳ tô nhập. Vĩnh chi nhân tranh bôn tẩu yên. Hữu Tưởng thị giả, chuyên kỳ lợi tam thế hĩ. Vấn chi, tắc viết: “Ngô tổ tử vu thị, ngô phụ tử vu thị. Kim ngô tự vi chi thập nhị niên, kỷ tử giả sổ hĩ.” Ngôn chi, mạo nhược thậm thích giả. Dư bi chi, thả viết: “Nhược độc chi hồ? Dư tương cáo vu lị sự giả, canh nhược dịch, phục nhược phú, tắc như hà?” Tưởng thị đại thích, uông nhiên xuất thế viết: “Quân tương ai nhi sinh chi hồ? Tắc ngô tư dịch chi bất hạnh, vị nhược phục ngô phú bất hạnh chi thậm dã. Hướng ngô bất vi tư dịch, tắc cửu dĩ bệnh hĩ. Tự ngô thị tam thế cư thị hương, tích vu kim lục thập tuế hĩ, nhi hương lân chi sinh nhật xúc, đan kỳ địa chi xuất, kiệt kỳ lô chi nhập, hào hô nhi chuyển tỷ, cơ khát nhi đốn bạc, xúc phong vũ, phạm hàn thử, hô hư độc lệ, vãng vãng nhi tử giả tương tạ dã. Nãng dữ ngô tổ cư giả, kim kỳ thất thập vô nhất yên; dữ ngô phụ cư giả, kim kỳ thất thập vô nhị tam yên; dữ ngô cư thập nhị niên giả, kim kỳ thất thập vô tứ ngũ yên. Phi tử tắc tỷ nhĩ. Nhi ngô dĩ bộ xà độc tồn. Hãn lại chi lai ngô hương, khiếu hiêu hồ đông tây, huy đột hồ nam bắc, hoa nhiên nhi hãi giả, tuy kê cẩu bất đắc ninh yên. Ngô tuân tuân nhi khởi, thị kỳ phẫu, nhi ngô xà thượng tồn, tắc trì nhiên nhi ngọa. Cẩn thực chi, thời nhi hiến yên. Thoái nhi cam thực kỳ thổ chi hữu, dĩ tận ngô xỉ. Cái nhất tuế chi phạm tử giả nhị yên; kỳ dư, tắc hi hi nhi lạc. Khởi nhược ngô hương lân chi đán đán hữu thị tai! Kim tuy tử hồ thử, bỉ ngô hương lân chi tử tắc dĩ hậu hĩ, hựu an cảm độc da?” Dư văn nhi dục bi. Khổng Tử viết: “Kha chính mãnh vu hổ dã.” Ngô thường nghi hồ thị, kim dĩ Tưởng thị quan chi, do tín. Ô hô! Thục tri phú liễm chi độc hữu thậm thị xà giả hồ? Cố vi chi thuyết, dĩ sĩ phu quan nhân phong giả đắc yên.","content_vi":"Ở Vĩnh Châu có giống rắn lạ, thân đen vằn trắng, chạm vào cây cỏ thì cây cỏ chết, cắn phải người thì không thuốc gì chữa nổi. Song mà bắt được giống rắn ấy dùng làm thuốc để chữa những bệnh như bệnh trúng phong, bệnh co quắp chân tay, lại sát được cả trùng.\n\nCho nên nhà vua có lệ bắt dân gian mỗi năm phải hiến hai con rắn ấy để dành. Ai bắt được rắn thì phải trừ thuế ruộng.\n\nNgười Châu Vĩnh tranh nhau mà làm nghề bắt rắn. Có họ nhà Tương cũng làm nghề ấy được ba đời. Hỏi ra thì họ nhà Tương nói:\n\n- Ông tôi chết về nghề bắt rắn, cha tôi cũng chết về nghề bắt rắn. Tôi nối nghề ông cha tôi mới có mười hai năm, cũng mấy lần suýt chết.\n\nNgười ấy nói, vẻ mặt buồn rầu.\n\nTa thương và hỏi rằng:\n\n- Nhà người có thật cho nghề bắt rắn là khổ không? Ta sẽ nói với quan trên cho nhà ngươi bỏ nghề ấy mà cứ nộp thuế ruộng như thường. Nhà người tính thế nào?\n\nNgười họ Tương vừa khóc, vừa nói:\n\n- Ông thương tôi, muốn cho tôi sống, thì ông để cho tôi làm nghề bắt rắn còn hơn. Nếu tôi không làm nghề thì tôi khốn khổ lâu rồi. Nhà tôi ba đời ở làng này kể đã hơn sáu mươi năm, cách sinh nhai trong làng mỗi ngày một quẫn bách. Người làng phải rút hết cả lợi hoa màu, vét hết cả của cải trong nhà để mà nộp thuế hết, thậm chí bỏ làng, bỏ xóm, đói khát, trôi giạt, chết đường, chết chợ kể bao nhiêu người. Những người vào trạc tuổi ông tôi mười nhà không còn một. Những người vào trạc tuổi cha tôi, mười nhà còn độ hai ba. Những người vào trạc tuổi tôi, mười nhà còn độ bốn năm. Không chết chóc thì lưu lạc cả… Tôi nhờ nghề bắt rắn mà còn đến bây giờ. Những quan lại tàn ác về làm thuế làng tôi, xúc hết đầu làng cuối xóm, vơ vét đến cả con gà con chó, dân gian phải hãi hùng kính sợ. Những lúc ấy về phần tôi, tôi được yên lặng, trông trong giỏ con rắn vẫn còn là tôi được ăn no, ngủ yên.\n\nTôi làm nghề bắt rắn một năm sợ chết chỉ có hai lần, ngoài ra là vui vẻ, không phải lo thuế má, không đến nỗi như người làng xóm tôi hết ngày này, sang tháng khác khốn khổ về quan lại tàn ác. Giá tôi có chết về nghề bắt rắn, ví với người làng xóm tôi cũng đã là chậm, đâu dám cho là rắn độc mà xin thôi.\n\nTa nghe câu chuyện, lại càng thương lắm. Xưa Đức Khổng lắm: “Chính sách hà khắc độc hơn hổ dữ” ta vẫn ngờ, bây giờ xem chuyện họ Tương mới cho là thật. Than ôi! Cái độc quan lại tàn ác làm thuế ở dân gian dữ hơn con rắn độc, cho nên nói ra đây để ngừoi xem xét phong tục thấu được tình cảnh đau khổ của dân!\n\nLiễu Tôn Nguyên","loi_ban_vi":"Ta đọc bài này thật lấy làm ghê tởm cái chính sách hà khắc, người cầm quyền đã ác một phần, thì những kẻ dưới thừa hành ác tăng lên trăm phầm.\n\nCái cảnh khổ của dân thường thường vẫn như thế. Liễu Tôn Nguyên có bụng thương dân mất hết cả quyền, đem chuyện thật viết ra bài này là có ý mong cho người trên hiểu thấu cái tình của dân gian, cái tệ của quan lại mà phần thì đánh thuế cho dân vừa phải, phần thì tìm cách trừng trị những phường tham nhũng, ngõ hầu dân mới đỡ được khổ chăng.","giai_nghia":["Vĩnh Châu: tên phủ, thuộc về tỉnh Hồ Nam ngày nay","Trúng phong: phải gió độc, ngất đi","永州: Vĩnh Châu, nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.","黑质而白章: Nền đen mà hoa trắng.","腊之以为饵: Làm khô nó để làm thuốc (饵: thuốc).","大风: Bệnh phong (cùi), 挛踠: co quắp, 瘘: lỗ rò, 疠: bệnh hủi.","三虫: Ba loại trùng (theo Đạo giáo, trong cơ thể có ba loại trùng gây bệnh).","太医: Thái y, quan chức coi về thuốc men.","当其租入: Trừ vào tiền thuế phải nộp.","专其利: Độc chiếm cái lợi đó.","莅事者: Quan coi việc (địa phương).","汪然出涕: Rơi nước mắt.","苛政猛于虎: Chính sách hà khắc còn dữ hơn cọp (xuất từ Lễ Ký, Đàn Cung hạ).","俟夫观人风者: Đợi người xem xét phong tục (ý nói quan trên)."],"tags":["Liễu Tông Nguyên","Thuế khóa","Chính sách hà khắc","Bắt rắn","Dân gian"]},{"id":198,"title_vi":"HÒA VI QUÝ","title_zh_simp":"和为贵","title_zh_trad":"和為貴","title_pinyin":"Hé wéi guì","title_han_viet":"HÒA VI QUÝ","title_en":"Harmony Is Most Precious","source_book":"《吴子》","source_author":"吴起","source_period":"战国时期","content_zh_simp":"昔之图国家者，必先教百姓而亲万民。有四不和：不和于国，不可以出军；不和于军，不可以出阵；不和于阵，不可以进战；不和于战，不可以决胜。是以有道之主，将用其民，先和而造大事，不敢信其私谋。必先告于祖，而后行。","content_zh_trad":"昔之圖國家者，必先教百姓而親萬民。有四不和：不和於國，不可以出軍；不和於軍，不可以出陣；不和於陣，不可以進戰；不和於戰，不可以決勝。是以有道之主，將用其民，先和而造大事，不敢信其私謀。必先告於祖，而後行。","content_pinyin":"Xī zhī tú guójiā zhě, bì xiān jiào bǎixìng ér qīn wàn mín. Yǒu sì bù hé: bù hé yú guó, bù kěyǐ chū jūn; bù hé yú jūn, bù kěyǐ chū zhèn; bù hé yú zhèn, bù kěyǐ jìn zhàn; bù hé yú zhàn, bù kěyǐ jué shèng. Shì yǐ yǒu dào zhī zhǔ, jiāng yòng qí mín, xiān hé ér zào dàshì, bù gǎn xìn qí sī móu. Bì xiān gào yú zǔ, ér hòu xíng.","content_han_viet":"Tích chi đồ quốc gia giả, tất tiên giáo bách tính nhi thân vạn dân. Hữu tứ bất hòa: bất hòa vu quốc, bất khả dĩ xuất quân; bất hòa vu quân, bất khả dĩ xuất trận; bất hòa vu trận, bất khả dĩ tiến chiến; bất hòa vu chiến, bất khả dĩ quyết thắng. Thị dĩ hữu đạo chi chủ, tương dụng kỳ dân, tiên hòa nhi tạo đại sự, bất cảm tín kỳ tư mưu. Tất tiên cáo vu tổ, nhi hậu hành.","content_vi":"Đời cổ những người lo toan việc quốc gia, trước hết phải dạy dỗ dân, thân yên dân.\n\nPhép trị dân có bốn điều “bất hòa” cần phải biết.\n\n1) Trong nước mà bất hòa, thì chẳng nên đem quân đi đánh đâu; 2) Trong quân mà bất hòa, thì chẳng nên đem quân ra trận; 3) Quân ở trận mà bất hòa, thì chẳng nên tiến lên đánh; 4) Tiến lên đánh mà bất hòa, thì chẳng nên quyết đánh.\n\nBởi vậy ông vua hữu đạo khi định dùng dân, trước hết có hòa sau mới gây dựng việc lớn mà chẳng dám tin cái mưu riêng của ai. Không những thế mà thôi, lại còn phải xem cái thời có đáng cử sự sau mới cử sự.\n\nKhi dân trong nước ai nấy đều biết ơn vua đã chịu suy nghĩ đắn đo cẩn thận, quí cái mạng của dân, tiếc cái chết của dân, thì bấy giờ dù có phải ra chỗ nguy nan, ai nấy mới cùng lấy việc tiến lên mà liều chết là vinh, lùi về mà sống thừa là nhục vậy.","loi_ban_vi":"Còn ai không biết trong nước đã bất hòa thì dân chúng dễ ngờ vực nhau, dễ tàn hại nhau, quên hết nghĩa công, chỉ biết thù riêng, thậm chí chia rẽ theo cả địch quốc và đi đến diệt vong nữa. Nên trong bài này tác giả nói phép dùng dân rút lại chỉ có một sự cốt yếu là “Hòa”. Dân có hòa và lại nhờ thêm cái thời thuận, tức là cơ hội tốt, nhiên hậu mới khả dĩ khến dân hết lòng với nước, vì nước mà liều chết được. Bài này nói rộng là phép dụng dân, nhưng nói hẹp mà đúng hơn thì chỉ là cách dụng binh mà thôi, tác giả là một nhà binh hơn là một nhà chính trị.","giai_nghia":["Ngô Tử: tức là Ngô Khởi, người nước Vệ về thời Chiến Quốc, làm tướng nước Ngụy là một nhà dùng binh giỏi có tiếng","吴子: Ngô Tử, tức Ngô Khởi, nhà quân sự nổi tiếng thời Chiến Quốc.","教百姓而亲万民: Dạy dỗ trăm họ và thân yêu muôn dân.","四不和: Bốn điều bất hòa.","出军: Ra quân (điều động quân đội).","出阵: Ra trận (bày trận).","进战: Tiến lên đánh.","决胜: Quyết định thắng lợi.","有道之主: Vua có đạo.","先和而造大事: Trước hết phải hòa rồi mới làm việc lớn.","告于祖: Cáo với tổ tiên (ý nói phải hợp lòng người, được tổ tiên phù hộ)."],"tags":["Ngô Khởi","Dụng binh","Hòa khí","Quân sự","Chính trị"]},{"id":199,"title_vi":"CÁCH TRỊ DÂN","title_zh_simp":"治民之道","title_zh_trad":"治民之道","title_pinyin":"Zhì mín zhī dào","title_han_viet":"TRỊ DÂN CHI ĐẠO","title_en":"The Way to Govern the People","source_book":"《左传》","source_author":"左丘明","source_period":"春秋","content_zh_simp":"郑子产有疾，谓子大叔曰：“我死，子必为政。唯有德者能以宽服民，其次莫如猛。夫火烈，民望而畏之，故鲜死焉；水懦弱，民狎而玩之，则多死焉。故宽难。”疾数月而卒。大叔为政，不忍猛而宽。郑国多盗，取人于萑苻之泽。大叔悔之，曰：“吾早从夫子，不及此。”兴徒兵以攻萑苻之盗，尽杀之，盗少止。仲尼曰：“善哉！政宽则民慢，慢则纠之以猛；猛则民残，残则施之以宽。宽以济猛，猛以济宽，政是以和。”","content_zh_trad":"鄭子產有疾，謂子大叔曰：“我死，子必為政。唯有德者能以寬服民，其次莫如猛。夫火烈，民望而畏之，故鮮死焉；水懦弱，民狎而玩之，則多死焉。故寬難。”疾數月而卒。大叔為政，不忍猛而寬。鄭國多盜，取人於萑苻之澤。大叔悔之，曰：“吾早從夫子，不及此。”興徒兵以攻萑苻之盜，盡殺之，盜少止。仲尼曰：“善哉！政寬則民慢，慢則糾之以猛；猛則民殘，殘則施之以寬。寬以濟猛，猛以濟寬，政是以和。”","content_pinyin":"Zhèng Zǐchǎn yǒu jí, wèi Zǐ Tàishū yuē: “Wǒ sǐ, zǐ bì wéi zhèng. Wéi yǒu dé zhě néng yǐ kuān fú mín, qícì mò rú měng. Fū huǒ liè, mín wàng ér wèi zhī, gù xiǎn sǐ yān; shuǐ nuòruò, mín xiá ér wán zhī, zé duō sǐ yān. Gù kuān nán.” Jí shù yuè ér zú. Tàishū wéi zhèng, bù rěn měng ér kuān. Zhèng guó duō dào, qǔ rén yú Huánfú zhī zé. Tàishū huǐ zhī, yuē: “Wú zǎo cóng fūzǐ, bù jí cǐ.” Xīng túbīng yǐ gōng Huánfú zhī dào, jìn shā zhī, dào shǎo zhǐ. Zhòngní yuē: “Shàn zāi! Zhèng kuān zé mín màn, màn zé jiū zhī yǐ měng; měng zé mín cán, cán zé shī zhī yǐ kuān. Kuān yǐ jì měng, měng yǐ jì kuān, zhèng shì yǐ hé.”","content_han_viet":"Trịnh Tử Sản hữu tật, vị Tử Thái Thúc viết: “Ngã tử, tử tất vi chính. Duy hữu đức giả năng dĩ khoan phục dân, kỳ thứ mạc như mãnh. Phù hỏa liệt, dân vọng nhi úy chi, cố tiển tử yên; thủy nọa nhược, dân hiệp nhi ngoạn chi, tắc đa tử yên. Cố khoan nan.” Tật sổ nguyệt nhi tốt. Thái Thúc vi chính, bất nhẫn mãnh nhi khoan. Trịnh quốc đa đạo, thủ nhân vu Hoàn Phù chi trạch. Thái Thúc hối chi, viết: “Ngô tảo tòng phu tử, bất cập thử.” Hưng đồ binh dĩ công Hoàn Phù chi đạo, tận sát chi, đạo thiểu chỉ. Trọng Ni viết: “Thiện tai! Chính khoan tắc dân mạn, mạn tắc cứu chi dĩ mãnh; mãnh tắc dân tàn, tàn tắc thí chi dĩ khoan. Khoan dĩ tế mãnh, mãnh dĩ tế khoan, chính thị dĩ hòa.”","content_vi":"Tử Sản làm tướng nước Trịnh đã lâu năm, có lòng thương dân, lấy đạo khoan mà trị dân.\n\nKhi Tử Sản bệnh nặng, Tử Thái Thúc đến bảo rằng:\n\n- Ta chết, tất nhà ngươi làm tướng nước Trịnh. Người phải biết người có đức mới lấy đạo “khoan” mà phục được dân, con người thường phải lấy sách “nghiêm” mà trị mới được. Nay ví như lửa nóng, đâu trông thấy mà sợ, cho nên chết vì lừa ít; nước mát dân khinh mà lờn, cho nên chết vì nước nhiều.\n\nThế mới biết dùng khoan là khó.\n\nMấy tháng sau, Tử Sản mất, Tử Thái Thúc thay làm tướng, không nỡ dùng nghiêm, e có mãnh liệt cứ lấy đạo khoan mà trị dân.\n\nKhông được bao lâu, trong nước sinh ra nhiều trộm cắp, thường núp náu ở các đồng lầy mà lấy của giết người nhũng nhiều lương dân.\n\nTử Thái Thúc hối lại nói rằng:\n\n- Giá ta biết sớm theo lời Tử Sản thì đâu đến thế này!\n\nRồi liền đem quân đi đánh bắt bọn cướp ở đồng lầy mà giết hết. Từ đấy nước Trịnh mới bớt trộm cướp.\n\nĐức Khổng Tử nói rằng: Được lắm! Chính sách khoan thì dân lờn, dân lờn thì lại phải dùng khoan (?); khoan giúp cho mãnh, mãnh giúp cho khoan, có thế thì chính sách mới hòa được.\n\nTả Khưu Minh","loi_ban_vi":"Tử Sản vốn là một người học rộng chính trị giỏi, làm tướng nước Trịnh hơn 40 năm, đối với trong thì dân bình trị, đối với ngoài thì các nước e nể ông là một bậc quân tử có bốn điều hay; đối với mình thì tự trọng (cung), đối với người mà mình phụng sự thành kính, nuôi dân thì có ơn huệ, khiến dân thì có nghĩa lý.\n\nCâu ông dặn Tử Thái Thúc đây thực có ý lắm. Mãnh mà khiến cho dân sợ dễ bao nhiêu, thì khoan mà cũng khiến cho dân sợ khó bấy nhiêu. Tuy cũng gọi là sợ nhưng cái sợ trước không có giá, vì sợ bất đắc dĩ, sợ miễn cưỡng, sợ bề ngoài mà khinh trong bụng, cái sợ sau mới là cái sợ quí, vừa sợ, vừa yêu, sợ mà kính phục, sợ như vui lòng mà sợ vậy. Nhưng muốn được cái sợ sau, tất cái đức phải lo làm sao mới cảm hóa được nhân tâm đến bực ấy.\n\nCòn thường thường, phép trị dân không thể cứ khoan mãi được, vì khoan thì dân lờn. Lại cũng không thể cứ mãnh mãi được, vì mãnh thì dân oán. Dân oán hay dân lờn cũng đều có trở ngại đến việc nước cả. Cho nên phải có khoan, lại phải có mảnh đắp đổi đỡ dần cho nhau thì mới được. Bốn chữ “Khoan mãnh tương tế” thực đáng làm cái phương châm cho cả người cầm quyền trị dân vậy.","giai_nghia":["Tử Sản: tên tự là Công Tôn Kiều làm quan đại phu nước Trịnh thời Xuân Thu","Tướng: quan đứng đầu cả bách quan giúp vua để hành chính","Tả Khưu Minh: Quan Thái Sư nước Lỗ theo chí của Khổng Tử mà làm ra chuyện kinh Xuân Thu gọi là Tả Thị Xuân Thu cho nên người ta thường xưng Khổng Tử là Tố Vương, Khưu Minh là Tố Thần","Tử Sản (子产): tên thật là Công Tôn Kiều (公孙侨), chính trị gia nổi tiếng nước Trịnh thời Xuân Thu.","Tử Thái Thúc (子大叔): tên là Du Cát (游吉), người kế nhiệm Tử Sản làm tướng nước Trịnh.","Hoàn Phù (萑苻): tên một đầm lầy ở nước Trịnh, nơi tụ tập của trộm cướp.","Khoan mãnh tương tế (宽猛相济): leniency and severity complement each other; phương châm trị nước."],"tags":["chính trị","trị dân","khoan dung","nghiêm khắc","Tử Sản","Khổng Tử"]},{"id":200,"title_vi":"CAN GÌ MÀ PHÁ ĐI","title_zh_simp":"何为毁之","title_zh_trad":"何為毀之","title_pinyin":"Hé wéi huǐ zhī","title_han_viet":"HÀ VI HỦY CHI","title_en":"Why Destroy It?","source_book":"《左传》","source_author":"左丘明","source_period":"春秋","content_zh_simp":"郑人游于乡校，以论执政。然明谓子产曰：“毁乡校，何如？”子产曰：“何为？夫人朝夕退而游焉，以议执政之善否。其所善者，吾则行之；其所恶者，吾则改之。是吾师也，若之何毁之？我闻忠善以损怨，不闻作威以防怨。岂不遽止？然犹防川：大决所犯，伤人必多，吾不克救也；不如小决使道，不如吾闻而药之也。”然明曰：“蔑也今而后知吾子之信可事也。小人实不才。若果行此，其郑国实赖之，岂唯二三臣？”","content_zh_trad":"鄭人游於鄉校，以論執政。然明謂子產曰：“毀鄉校，何如？”子產曰：“何為？夫人朝夕退而游焉，以議執政之善否。其所善者，吾則行之；其所惡者，吾則改之。是吾師也，若之何毀之？我聞忠善以損怨，不聞作威以防怨。豈不遽止？然猶防川：大決所犯，傷人必多，吾不克救也；不如小決使道，不如吾聞而藥之也。”然明曰：“蔑也今而後知吾子之信可事也。小人實不才。若果行此，其鄭國實賴之，豈唯二三臣？”","content_pinyin":"Zhèng rén yóu yú xiāng xiào, yǐ lùn zhízhèng. Rán Míng wèi Zǐchǎn yuē: “Huǐ xiāng xiào, hé rú?” Zǐchǎn yuē: “Hé wéi? Fū rén zhāo xī tuì ér yóu yān, yǐ yì zhízhèng zhī shàn fǒu. Qí suǒ shàn zhě, wú zé xíng zhī; qí suǒ è zhě, wú zé gǎi zhī. Shì wú shī yě, ruò zhī hé huǐ zhī? Wǒ wén zhōng shàn yǐ sǔn yuàn, bù wén zuò wēi yǐ fáng yuàn. Qǐ bù jù zhǐ? Rán yóu fáng chuān: dà jué suǒ fàn, shāng rén bì duō, wú bù kè jiù yě; bùrú xiǎo jué shǐ dào, bùrú wú wén ér yào zhī yě.” Rán Míng yuē: “Miè yě jīn ér hòu zhī wú zǐ zhī xìn kě shì yě. Xiǎorén shí bù cái. Ruò guǒ xíng cǐ, qí Zhèng guó shí lài zhī, qǐ wéi èr sān chén?”","content_han_viet":"Trịnh nhân du vu hương hiệu, dĩ luận chấp chính. Nhiên Minh vị Tử Sản viết: “Hủy hương hiệu, hà như?” Tử Sản viết: “Hà vi? Phù nhân triêu tịch thoái nhi du yên, dĩ nghị chấp chính chi thiện phủ. Kỳ sở thiện giả, ngô tắc hành chi; kỳ sở ác giả, ngô tắc cải chi. Thị ngô sư dã, nhược chi hà hủy chi? Ngã văn trung thiện dĩ tổn oán, bất văn tác uy dĩ phòng oán. Khởi bất cự chỉ? Nhiên do phòng xuyên: đại quyết sở phạm, thương nhân tất đa, ngô bất năng cứu dã; bất như tiểu quyết sử đạo, bất như ngô văn nhi dược chi dã.” Nhiên Minh viết: “Miệt dã kim nhi hậu tri ngô tử chi tín khả sự dã. Tiểu nhân thực bất tài. Nhược quả hành thử, kỳ Trịnh quốc thực lại chi, khởi duy nhị tam thần?”","content_vi":"Dân nước Trịnh thường hay đến trường học thôn quê để nghị luận những chính sách hay dở của quan liêu.\n\nNhiên Minh bảo Tử Sản rằng:\n\nTôi định phá hết cả các trường thôn quê, ông tính sao?\n\nTử Sản nói:\n\nĐể chứ. Phá đi làm gì? Dân sự người ta sớm tối đến chơi trường học để nghị luận điều phải, điều trái của quan liêu làm. Cái gì người ta cho là phải, ta cứ thế mà làm. Cái gì người ta cho là dở, ta liệu mà đổi đi. Những kẻ nghị luận ấy tức là những ông thầy của ta. Can gì mà phá trường học.\n\nVả chăng, tôi nghe nói: “Hết lòng làm điều phải thì mới đỡ được người ta oán trách mình”. Tôi chưa từng nghe nói: “Chỉ nạt nộ ra oai, mà tuyệt được hết sự oán trách của người.” Cũng như phải đắp đê mà giữ nước, chớ bỏ đê đi, thì nước vỡ tứ tung, bao nhiêu người chết không thể cứu lại được. Nay ta hẳn cứ để trường học, khiến thường được nghe những câu chê bai để làm thuốc chữa cho ta thì hơn.\n\nNhiên Minh nghe Tử Sản xong, nói rằng:\n\nNay tôi mới biết ông là ông quan thầy đáng tôn vậy. Tôi thật là kẻ bất tài.\n\nÔng làm được như lời, thì chẳng những một đám chúng tôi được trông cậy mà cả nước cũng được nhờ vậy.","loi_ban_vi":": Người ta càng cao xa, càng tôn quý bao nhiêu, thì càng xa sự thực bấy nhiêu. Sự thực hay thì hay thực, song lại hay làm cho mất lòng, nên những người có địa vị cao, ít khi được nghe sự thực. Thiên hạ không ai muốn mất lòng mình, thì ai dám nói sự thực cho mình biết.\n\nNhiên Minh đây bảo phá nhà trường là vì nghe sự thực mà mất lòng. Tử Sản đây bảo giữ nhà trường là vì yêu sự thực, được nghe sự thực lấy làm vui sướng. Các nhà trường nước Trịnh bấy giờ có phải như các tờ báo ngày nay, là những cơ quan để cho dân chúng được tự do mà đàm luân về chính sách hay dở hay không? Nếu như vậy, thì ta xưa nay đân sự vẫn có cách là cho những điều nguyện vọng của mình đạt được tới chính phủ, mà chính phủ khôn khéo, tưởng cũng nên lợi dụng cái cách ấy, không nên tuyệt đi vậy.\n\nNhững câu Tử Sản nói ví như giữ đê cho nước chảy để phòng sự lụt ngập tràn trụa rất nguy hết lòng làm phải chớ không phải ra oai nạt nộ mới tuyệt được sự oán trách của dân, thực là những câu nói rất đúng với chân lý. Ôi! Một chính phủ mà vững bền hay hư hỏng có thể nghiệm ở lòng dân yêu hay ghét.\n\nNếu dân chúng đã ghét nhưng chính sách không ra gì, chúng dám nói ra miệng, mà lại chỉ thị oai như muốn bưng miệng chúng, chớ không muốn sửa lỗi mình, thì có khác gì thấy nồi nước sôi trào ra ngoài không biết rút củi ra, lại cứ cầm que mà khuấy vào nước cho đỡ sôi không.","giai_nghia":[":","Trịnh: nước nhỏ thời Xuân Thu, ở vào huyện Tân Trịnh tỉnh Hà Nam ngày nay.","Nhiên Minh : người đời Xuân Thu, cùng quan ở nước Trịnh với Tử Sản.","Tử Sản: người đời Xuân Thu, học rộng có tài chính trị, là quan đại giỏi có tiếng của nước Trịnh (xem bài trên).","Nhiên Minh (然明): tên thật là Miệt (蔑), đại phu nước Trịnh.","Hương hiệu (乡校): trường học ở thôn quê, nơi dân chúng tụ họp bàn luận.","Tử Sản (子产): chính trị gia nước Trịnh, nổi tiếng với chính sách khoan dung và lắng nghe dân ý.","Phòng xuyên (防川): ngăn sông, ví với việc ngăn cản lời phê bình của dân."],"tags":["dân chủ","lắng nghe","phê bình","Tử Sản","trị quốc"]},{"id":201,"title_vi":"HAY DỞ ĐỀU DO MÌNH CẢ","title_zh_simp":"祸福自取","title_zh_trad":"禍福自取","title_pinyin":"Huò fú zì qǔ","title_han_viet":"HỌA PHÚC TỰ THỦ","title_en":"Fortune and Misfortune Are Self-Invited","source_book":"《孟子》","source_author":"孟子","source_period":"战国","content_zh_simp":"孟子曰：“不仁者可与言哉？安其危而利其菑，乐其所以亡者。不仁而可与言，则何亡国败家之有？有孺子歌曰：‘沧浪之水清兮，可以濯我缨；沧浪之水浊兮，可以濯我足。’孔子曰：‘小子听之！清斯濯缨，浊斯濯足矣。自取之也。’夫人必自侮，然后人侮之；家必自毁，而后人毁之；国必自伐，而后人伐之。《太甲》曰：‘天作孽，犹可违；自作孽，不可活。’此之谓也。”","content_zh_trad":"孟子曰：“不仁者可與言哉？安其危而利其菑，樂其所以亡者。不仁而可與言，則何亡國敗家之有？有孺子歌曰：‘滄浪之水清兮，可以濯我纓；滄浪之水濁兮，可以濯我足。’孔子曰：‘小子聽之！清斯濯纓，濁斯濯足矣。自取之也。’夫人必自侮，然後人侮之；家必自毀，而後人毀之；國必自伐，而後人伐之。《太甲》曰：‘天作孽，猶可違；自作孽，不可活。’此之謂也。”","content_pinyin":"Mèngzǐ yuē: “Bù rén zhě kě yǔ yán zāi? Ān qí wēi ér lì qí zāi, lè qí suǒ yǐ wáng zhě. Bù rén ér kě yǔ yán, zé hé wáng guó bài jiā zhī yǒu? Yǒu rúzǐ gē yuē: ‘Cāngláng zhī shuǐ qīng xī, kě yǐ zhuó wǒ yīng; Cāngláng zhī shuǐ zhuó xī, kě yǐ zhuó wǒ zú.’ Kǒngzǐ yuē: ‘Xiǎo zǐ tīng zhī! Qīng sī zhuó yīng, zhuó sī zhuó zú yǐ. Zì qǔ zhī yě.’ Fū rén bì zì wǔ, ránhòu rén wǔ zhī; jiā bì zì huǐ, ér hòu rén huǐ zhī; guó bì zì fá, ér hòu rén fá zhī. ‘Tài Jiǎ’ yuē: ‘Tiān zuò niè, yóu kě wéi; zì zuò niè, bù kě huó.’ Cǐ zhī wèi yě.”","content_han_viet":"Mạnh Tử viết: “Bất nhân giả khả dữ ngôn tai? An kỳ nguy nhi lợi kỳ tai, lạc kỳ sở dĩ vong giả. Bất nhân nhi khả dữ ngôn, tắc hà vong quốc bại gia chi hữu? Hữu nhu tử ca viết: ‘Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh; Thương Lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc.’ Khổng Tử viết: ‘Tiểu tử thính chi! Thanh tư trạc anh, trọc tư trạc túc hĩ. Tự thủ chi dã.’ Phù nhân tất tự vũ, nhiên hậu nhân vũ chi; gia tất tự hủy, nhi hậu nhân hủy chi; quốc tất tự phạt, nhi hậu nhân phạt chi. ‘Thái Giáp’ viết: ‘Thiên tác nghiệt, do khả vi; tự tác nghiệt, bất khả hoạt.’ Thử chi vị dã.”","content_vi":"Người làm quận trưởng một Quốc gia nếu mà bất nhân thì không thể nào nói phải với họ được nữa! Quốc gia suy yếu, ngoại biến đến nơi, họ vẫn cho là yên, thiên tai nhân họa xảy ra luôn luôn, họ không biết là hại, xa xỉ ăn chơi bạo ngược tàn ác đi đến con đường diệt vong, họ vẫn lấy làm vui sướng.\n\nHạng bất nhân ấy, nếu còn nói phải được được với họ thì đã chả đến nỗi có những chuyện mất nước tan nhà.\n\nNgày trước có đứa trẻ hát câu:\n\nThương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh Thương Lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc.\n\nNghĩa là: nước sông Thương nếu mà trong thì ta đem giặt dải mũ ta. Nước sông Thương mà đuc thì ta dùng để rửa chân ta.\n\nĐức Không Tử nghe thấy bảo học trò rằng:\n\nChúng con nghe đấy: Nước trong thì tự khắc người ta mới giặt dải mũ, **c thì tự khắc người ta chỉ để rửa chân. Đó đều là do nước tự thủ cả.\n\nÔi! Việc thiên hạ cái gì mà chẳng do tự thủ! Người ta tất tự khinh mình trước, rồi người ngoài mới khinh sau, nhà mình tất tự hủy nhà mình trước, rồi người ngoài mới hủy sau, nước tất tự phạt nước mình trước, rồi người ngoài mới phạt sau.\n\nCũng tức như câu ở thiên Thái giáp: “Thiên tác nghiệt, do khả vi. Tự tác nghiệt, bất khả hoặc”. Nghĩa là trời làm tai vạ còn tu tỉnh để mà tránh được, nếu mình gây ra tai vạ thì mình làm mình chịu, chẳng có thể trốn tránh mà thoái chết được.","loi_ban_vi":": Kẻ có quốc gia mà đã bất nhân thì tâm thần mê muội, công việc đảo điên, không còn biết phải trái là gì nữa, nguy cũng mặc, tai cũng mặc, đến mất đức cũng mặc. Kịp khi đã bại hoại, diệt vong rồi thì lại đổ cho mệnh trời, quy tội cho người, có biết đâu là tự mình gây nên mối họa cho chính mình cả. Có thân không biết tu, có nhà không biết trị, có nước không biết giữ, thế là khiến cho người ta khinh mình, bào cho người ta phá mình, mời cho người ta đánh mình. Ôi! Sự biến cố mấy khi tự dưng mọc ra đâu, muôn sự do tự mình gây nên hết cả. Nếu người có trách nhiệm giữ quốc gia nên nhớ lấy cái nghĩa “tự thủ” để tránh lấy cái vạ “tự tác”.","giai_nghia":["沧浪 (Cāngláng): Tên một con sông, có thể là sông Hán Thủy hoặc một nhánh sông Trường Giang.","孺子 (rúzǐ): Trẻ con, đứa trẻ.","太甲 (Tài Jiǎ): Một thiên trong kinh Thư, ghi lời dạy của Y Doãn đối với vua Thái Giáp nhà Thương."],"tags":["Đạo đức","Tự trách","Mạnh Tử","Nho giáo"]},{"id":202,"title_vi":"NGỤY BIỆN","title_zh_simp":"诡辩","title_zh_trad":"詭辯","title_pinyin":"Guǐ biàn","title_han_viet":"NGỤY BIỆN","title_en":"Sophistry","source_book":"《吕氏春秋》","source_author":"吕不韦","source_period":"战国","content_zh_simp":"齐有事人者，所事主死而弗死，其友非之。其人曰：“吾事主，利也。死而利之，是吾利也。”友曰：“子之视死，犹视生也。苟利之，虽死可也。”其人曰：“子以死为可乎？死而可，则吾死矣。”友曰：“子之死，非为利也，为义也。”其人曰：“义者，利之也。利之，则义矣。”友曰：“子之言，辩矣。然子之死，非义也。”其人曰：“子以吾为不义，吾请以义死。”遂自刎。","content_zh_trad":"齊有事人者，所事主死而弗死，其友非之。其人曰：“吾事主，利也。死而利之，是吾利也。”友曰：“子之視死，猶視生也。苟利之，雖死可也。”其人曰：“子以死為可乎？死而可，則吾死矣。”友曰：“子之死，非為利也，為義也。”其人曰：“義者，利之也。利之，則義矣。”友曰：“子之言，辯矣。然子之死，非義也。”其人曰：“子以吾為不義，吾請以義死。”遂自刎。","content_pinyin":"Qí yǒu shì rén zhě, suǒ shì zhǔ sǐ ér fú sǐ, qí yǒu fēi zhī. Qí rén yuē: “Wú shì zhǔ, lì yě. Sǐ ér lì zhī, shì wú lì yě.” Yǒu yuē: “Zǐ zhī shì sǐ, yóu shì shēng yě. Gǒu lì zhī, suī sǐ kě yě.” Qí rén yuē: “Zǐ yǐ sǐ wéi kě hū? Sǐ ér kě, zé wú sǐ yǐ.” Yǒu yuē: “Zǐ zhī sǐ, fēi wéi lì yě, wéi yì yě.” Qí rén yuē: “Yì zhě, lì zhī yě. Lì zhī, zé yì yǐ.” Yǒu yuē: “Zǐ zhī yán, biàn yǐ. Rán zǐ zhī sǐ, fēi yì yě.” Qí rén yuē: “Zǐ yǐ wú wéi bú yì, wú qǐng yǐ yì sǐ.” Suì zì wěn.","content_han_viet":"Tề hữu sự nhân giả, sở sự chủ tử nhi phất tử, kỳ hữu phi chi. Kỳ nhân viết: “Ngô sự chủ, lợi dã. Tử nhi lợi chi, thị ngô lợi dã.” Hữu viết: “Tử chi thị tử, do thị sinh dã. Cẩu lợi chi, tuy tử khả dã.” Kỳ nhân viết: “Tử dĩ tử vi khả hồ? Tử nhi khả, tắc ngô tử hĩ.” Hữu viết: “Tử chi tử, phi vi lợi dã, vi nghĩa dã.” Kỳ nhân viết: “Nghĩa giả, lợi chi dã. Lợi chi, tắc nghĩa hĩ.” Hữu viết: “Tử chi ngôn, biện hĩ. Nhiên tử chi tử, phi nghĩa dã.” Kỳ nhân viết: “Tử dĩ ngô vi bất nghĩa, ngô thỉnh dĩ nghĩa tử.” Toại tự vẫn.","content_vi":"Nước Tề có kẻ thờ vua, thân được vinh hiển, nhà được sung sướng. Khi vua có hoạn nạn, anh ta không chịu liều chết để cứu giúp vua.\n\nMột hôm, anh gặp bạn cũ ở đường, người bạn cũ lấy làm ngạc nhiên, hỏi:\n\n- Tôi cứ tưởng bác chết rồi, mà ra bác vẫn còn sống kia đấy ư?\n\nAnh ta thưa:\n\n- Phải, tôi còn sống chứ. Phàm đi làm tôi tớ người ta chỉ cốt có lợi, mà chết theo người ta thì có lợi gì, cho nên tôi chả chết theo.\n\n- Bác ăn ở như thế thì còn mặt mũi nào mà trông thấy người ta dưới chín suối nữa?\n\n- À, thế cứ như ông nói thì ra ông cho khi chết mắt đã nhắm rồi, mà vẫn còn trông thấy người ta được ư?\n\nÔi! Những người đời chịu ơn vua, mà chẳng tuẫn nạn vua đều là kẻ đại bất nghĩa. Thế mà khi có ai nói đến lại biện bác cái lẽ, tự cho mình là phải.\n\nThói thường ở một nước loạn, ý nghĩ có câu nói thường hay trái nhau.\n\nLã thị Xuân thu.","loi_ban_vi":": Bài này tác giả nói trung với vua đã kết luận rõ ràng ở dưới rồi.\n\nNhưng ta còn có thể nhân đó bàn rộng ra mà nói được rằng: cái trò ở đời người chỉ vụ lợi, thì không còn biết nghĩa là gì nữa. Hoặc khi có ai giảng giải cho, thì lại tìm câu khéo nói, viện lý sự cùn để tế toái đi cho xong, vẫn tự cho mình là phải, là có lẽ.","giai_nghia":["事人 (shì rén): Làm tôi tớ, phụng sự người khác.","弗死 (fú sǐ): Không chết theo.","自刎 (zì wěn): Tự vẫn, tự cắt cổ."],"tags":["Ngụy biện","Trung nghĩa","Luận lý","Lã Thị Xuân Thu"]},{"id":203,"title_vi":"KHÔNG CHỊU THEO KẺ PHẢN NGHỊCH","title_zh_simp":"不从逆贼","title_zh_trad":"不從逆賊","title_pinyin":"Bù cóng nì zéi","title_han_viet":"BẤT TÙNG NGHỊCH TẶC","title_en":"Refusing to Follow the Rebel","source_book":"《新序》","source_author":"刘向","source_period":"西汉","content_zh_simp":"陈恒弑君，使勇士六人劫子渊栖，曰：“子欲与我矣，以我为智乎？然吾为臣弑君，而不能止，非智也；以我为仁乎？见利而忘君，非仁也；以我为勇乎？以兵劫我，我惧而从，非勇也。使吾无此三者，何益于子？使吾有此三者，终不从子。”陈恒乃舍之。","content_zh_trad":"陳恆弒君，使勇士六人劫子淵棲，曰：“子欲與我矣，以我為智乎？然吾為臣弒君，而不能止，非智也；以我為仁乎？見利而忘君，非仁也；以我為勇乎？以兵劫我，我懼而從，非勇也。使吾無此三者，何益於子？使吾有此三者，終不從子。”陳恆乃捨之。","content_pinyin":"Chén Héng shì jūn, shǐ yǒngshì liù rén jié Zǐyuān Qī, yuē: “Zǐ yù yǔ wǒ yǐ, yǐ wǒ wéi zhì hū? Rán wú wéi chén shì jūn, ér bù néng zhǐ, fēi zhì yě; yǐ wǒ wéi rén hū? Jiàn lì ér wàng jūn, fēi rén yě; yǐ wǒ wéi yǒng hū? Yǐ bīng jié wǒ, wǒ jù ér cóng, fēi yǒng yě. Shǐ wú wú cǐ sān zhě, hé yì yú zǐ? Shǐ wú yǒu cǐ sān zhě, zhōng bù cóng zǐ.” Chén Héng nǎi shě zhī.","content_han_viet":"Trần Hằng thí quân, sử dũng sĩ lục nhân kiếp Tử Uyên Thê, viết: “Tử dục dữ ngã hĩ, dĩ ngã vi trí hồ? Nhiên ngô vi thần thí quân, nhi bất năng chỉ, phi trí dã; dĩ ngã vi nhân hồ? Kiến lợi nhi vong quân, phi nhân dã; dĩ ngã vi dũng hồ? Dĩ binh kiếp ngã, ngã cụ nhi tòng, phi dũng dã. Sử ngô vô thử tam giả, hà ích vu tử? Sử ngô hữu thử tam giả, chung bất tòng tử.” Trần Hằng nãi xả chi.","content_vi":"Trần Hùng lúc giết vua xong, sai sáu người dũng sĩ đến bắt Tử Uyên Thê phải theo mình.\n\nTử Uyên Thê nói:\n\nNhà ngươi muốn cho ta vào đảng, ý hẳn cho ta là “trí” chăng, nhưng bầy tôi giết vua mà không cản được, ta chẳng phải là trí, cho ta là “nhân” chăng, nếu ta thấy lợi mà phản nước, ta chẳng phải là nhân, cho ta là “dũng” chăng, nhưng đem binh đến ăn hiếp ta, ta sợ mà theo ngươi, ta cũng chẳng phải là dũng.\n\nVí bằng ta không có ba điều ấy, ta về phe với ngươi thì có bổ ích gì cho ngươi. Ví bằng ta có ba điều ấy, thì đời nào ta theo ngươi mà ngươi dỗ.\n\nTrần Hằng bèn tha Tử Uyên Thê.\n\nTân Tự","loi_ban_vi":": Trần Hằng mà dụ Tử Uyên Thê vào đảng là có ý mong cậy Tử Uyên Thê về sau này nhiều lắm. Không ngờ Tử Uyên Thê đáp hắn mà thực là người đủ trí, nhân, dũng thì bao giờ dỗ được, mà nếu hắn là người trí, nhân, dũng đều không có thì dỗ hắn về làm chi! Câu đáp thật khéo, thật có ý nghĩa đủ làm cho Trần Hằng suy nghĩ cả đôi đường mà phải thôi dỗ ngay không con do dự gì nữa.","giai_nghia":[":","Trần Hằng: người quyền thế thời Xuân Thu giết vua Giản Công nước Tề, lập vua Bình Công.","Tân Tự: sách của Lưu Hướng, người đời nhà Hán soạn.","陈恒: tức Trần Hằng, đại phu nước Tề, giết vua Tề Giản Công.","子渊栖: tên người, có sách chép là Tử Uyên Thê.","劫: ép buộc, uy hiếp."],"tags":["Trí dũng","Trung nghĩa","Kháng cự","Mưu trí"]},{"id":204,"title_vi":"CÁCH CƯ XỬ Ở ĐỜI","title_zh_simp":"处世之道","title_zh_trad":"處世之道","title_pinyin":"Chǔ shì zhī dào","title_han_viet":"XỬ THẾ CHI ĐẠO","title_en":"The Way of Conducting Oneself in the World","source_book":"《呻吟语》","source_author":"吕坤","source_period":"明代","content_zh_simp":"泛爱众，和而不同，和而不流，群而不党，周而不比，慈祥恺悌，爱人，亲民，天下一家，中国一人。若孤介自持，苛刻寡恩，则非处世之道。","content_zh_trad":"泛愛眾，和而不同，和而不流，群而不黨，周而不比，慈祥愷悌，愛人，親民，天下一家，中國一人。若孤介自持，苛刻寡恩，則非處世之道。","content_pinyin":"Fàn ài zhòng, hé ér bù tóng, hé ér bù liú, qún ér bù dǎng, zhōu ér bù bǐ, cí xiáng kǎi tì, ài rén, qīn mín, tiānxià yī jiā, zhōngguó yī rén. Ruò gū jiè zì chí, kē kè guǎ ēn, zé fēi chǔ shì zhī dào.","content_han_viet":"Phiếm ái chúng, hòa nhi bất đồng, hòa nhi bất lưu, quần nhi bất đảng, chu nhi bất tị, từ tường khải đễ, ái nhân, thân dân, thiên hạ nhất gia, Trung Quốc nhất nhân. Nhược cô giới tự trì, khắc khắc quả ân, tắc phi xử thế chi đạo.","content_vi":"Cư xử với người mà góc gách, nghiêm ngặt quá là cái đại bệnh ở đời.\n\nBậc thánh hiền xử với người đời không có giây phút nào là rời bỏ được cách ôn hòa, trung hậu, nên mới có câu:\n\nPhiếm ắt chúng, nghĩa là rộng yêu tất cả loài người; Hòa nhi bất đồng, nghĩa là xử với người hòa hợp mà không a dua phe đảng; Hòa nhi bất lưu, nghĩa là xử với người hòa nhã mà không đua theo quá trớn; Quần nhi bất đảng nghĩa là liên hợp với mọi người cho nhân quyền mà không vào bè kết đảng với ai cả; Chu nhi bất tị nghĩa là công bình mà chẳng thiên tư; Từ tường khải dị nghĩa là nhân đức, êm ái, vui vẻ, dễ dàng.\n\nÁi nhân, nghĩa là yêu loài người; Thân nhân, nghĩa là gần gụi dân và đi sát với dân, coi dân như anh em con cái; Thiên hạ nhất gia, chung quốc nhất nhân, nghĩa là coi cả thiên hạ như một nhà, coi cả nước như một người.\n\nNếu làm người cứ vò võ một mình, tính nết khe khắt, lạnh nhạt, chẳng thân với ai thì thật là một hạng chướng ngại cho xã hội. Dù cho người phương chinh, tính nết độc lập, cũng không phải là hạng ứng dụng với đời, chẳng qua là người nhất tiết quyến giới mà thôi.\n\nLã Khôn.","loi_ban_vi":": Mùa xuân khí trời có đầm ấm ôn hòa thì muôn loài mới sinh tươi nảy nở và phồn thịnh được. Người đối với người cũng vậy, trong gia đình, ngoài thì xã hội, có “hòa khí” mới có thể sống chung với nhau mà an cư lạc nghiệp được. Ta dù có được là người tốt chăng nữa mà cứ một mực góc gách, nghiêm ngặt với người, thì người lấy làm khó chịu mà không thể nào thân với ta được. Không chịu được nhau, tất nhiên hay khích vắc nhau, thành cả đôi bên không được yên vui sung sướng, mà công việc ở giữa vì thế mà hỏng cả. Cho nên thánh hiền ở đời không bao giờ thế. Bao giờ cũng giữ được cái thái độ ôn hòa, không a dua, xu phụ ai, cũng không ghét ai để cho người đau đớn mà sinh biến. Những câu tác giả lược ra mà liệt vào bài đây thực là những vị thuốc rất hay để chữa cho nước có tính khắt khe, quá thẳng với đời mà hay ghét đời, chán đời vậy.","giai_nghia":[":","Phương chính: góc gách ngay thẳng.","Nhất tiết quyến giới: chỉ khẳng khái giỏi được một bề, một mặt.","泛爱众: rộng yêu tất cả mọi người.","和而不同: hòa hợp nhưng không a dua.","和而不流: hòa nhã nhưng không đua đòi.","群而不党: hòa đồng nhưng không kết bè phái.","周而不比: chu đáo, công bằng, không thiên vị.","慈祥恺悌: nhân từ, hiền hậu, vui vẻ, dễ gần.","亲民: gần gũi với dân, coi dân như người thân."],"tags":["Xử thế","Nhân nghĩa","Hòa khí","Đạo đức"]},{"id":205,"title_vi":"TỰ XÉT LẠI MÌNH","title_zh_simp":"自反","title_zh_trad":"自反","title_pinyin":"Zì fǎn","title_han_viet":"TỰ PHẢN","title_en":"Self-Examination","source_book":"《孟子》","source_author":"Mạnh Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"君子所以异于人者，以其存心也。君子以仁存心，以礼存心。仁者爱人，有礼者敬人。爱人者，人恒爱之；敬人者，人恒敬之。有人于此，其待我以横逆，则君子必自反也：我必不仁也，必无礼也，此物奚宜至哉？其自反而仁矣，自反而有礼矣，其横逆由是也，君子必自反也：我必不忠。自反而忠矣，其横逆由是也，君子曰：此亦妄人也已矣。如此，则与禽兽奚择哉？于禽兽又何难焉？","content_zh_trad":"君子所以異於人者，以其存心也。君子以仁存心，以禮存心。仁者愛人，有禮者敬人。愛人者，人恆愛之；敬人者，人恆敬之。有人於此，其待我以橫逆，則君子必自反也：我必不仁也，必無禮也，此物奚宜至哉？其自反而仁矣，自反而有禮矣，其橫逆由是也，君子必自反也：我必不忠。自反而忠矣，其橫逆由是也，君子曰：此亦妄人也已矣。如此，則與禽獸奚擇哉？於禽獸又何難焉？","content_pinyin":"Jūnzǐ suǒyǐ yì yú rén zhě, yǐ qí cúnxīn yě. Jūnzǐ yǐ rén cúnxīn, yǐ lǐ cúnxīn. Rén zhě ài rén, yǒu lǐ zhě jìng rén. Ài rén zhě, rén héng ài zhī; jìng rén zhě, rén héng jìng zhī. Yǒu rén yú cǐ, qí dài wǒ yǐ hèngnì, zé jūnzǐ bì zìfǎn yě: wǒ bì bù rén yě, bì wú lǐ yě, cǐ wù xī yí zhì zāi? Qí zìfǎn ér rén yǐ, zìfǎn ér yǒu lǐ yǐ, qí hèngnì yóu shì yě, jūnzǐ bì zìfǎn yě: wǒ bì bù zhōng. Zìfǎn ér zhōng yǐ, qí hèngnì yóu shì yě, jūnzǐ yuē: cǐ yì wàng rén yě yǐ yǐ. Rúcǐ, zé yǔ qínshòu xī zé zāi? Yú qínshòu yòu hé nán yān?","content_han_viet":"Quân tử sở dĩ dị ư nhân giả, dĩ kỳ tồn tâm dã. Quân tử dĩ nhân tồn tâm, dĩ lễ tồn tâm. Nhân giả ái nhân, hữu lễ giả kính nhân. Ái nhân giả, nhân hằng ái chi; kính nhân giả, nhân hằng kính chi. Hữu nhân ư thử, kỳ đãi ngã dĩ hoành nghịch, tắc quân tử tất tự phản dã: ngã tất bất nhân dã, tất vô lễ dã, thử vật hề nghi chí tai? Kỳ tự phản nhi nhân hĩ, tự phản nhi hữu lễ hĩ, kỳ hoành nghịch do thị dã, quân tử tất tự phản dã: ngã tất bất trung. Tự phản nhi trung hĩ, kỳ hoành nghịch do thị dã, quân tử viết: thử diệc vọng nhân dã dĩ hĩ. Như thử, tắc dữ cầm thú hề trạch tai? Ư cầm thú hựu hà nan yên?","content_vi":"Người quân tử sở dĩ khác người là vì lúc nào cũng để tâm đến việc “Nhân”, để tâm đến việc “Lễ”.\n\nĐã là người có nhân thì yêu người, đã là người có lễ thì kính người. Mà theo lẽ thường, yêu người thì người tất yêu lại, kính người thì người tất kính lại.\n\nNgười quân tử ăn ở như vậy, mà gián hoặc còn có kẻ đem thói ngang ngược đối đãi lại, thì tất nhiên tự xét ngay mình lại, chắc mình cón bất nhân, chắc mình còn vô lễ, thì họ mới xử với mình như thế, chớ tự dưng thì có khi nào họ lại ngang ngược với mình được.\n\nNgười quân tử xét lại thật mình có nhân, thật mình có lễ, mà người ta đối đãi với mình vẫn ngang ngược như trước thì tất xét lại mình ta tuy nhân tuy lễ thật, nhưng ta chưa được hết lòng chăng.\n\nNếu người quân tử xét rằng thật đã hết lòng mà thói người ngang ngược vẫn như trước thì bấy giờ người quân tử nói:\n\nHạng này thật là hạng càn dỡ. Người mà đến như vậy thì khác gì loài vật.\n\nĐối với loài vật thì ta còn so kể làm chi!","loi_ban_vi":": Ai cũng đều là người cả. Nhưng người quân tử chỉ khác người vì cái tâm không tàn ác, không bỉ bạc. Tâm đã như thế thì thường yêu người, quý người. Yêu quý người, mà người yêu quý lại, là lý chí thường. Song ở đời có nhiều việc bất ngờ, đã không đem điều phải ăn ở lại việc phải, lại còn giở lối cuờng bạo vô lý. Thế mà người quân tử xử với bọn ngu ngoan ấy vẫn ân cần tự xét mình đến ba lần thật là vẫn sẵn lòng thuơng xót, biết cách chu toàn không có ý gì tự cho mình là phải mà tuyệt bỏ người đời cả.\n\nCái học trách kỷ, trong làm cho mình hay thêm, ngoài làm cho người dễ theo điều phải, thật là hay lắm vậy.","giai_nghia":["存心: giữ tâm, để tâm đến điều gì","横逆: ngang ngược, trái lẽ","自反: tự xét lại mình","妄人: kẻ cuồng vọng, vô lý"],"tags":["Đạo đức","Tự phản tỉnh","Lòng nhân","Lễ nghĩa"]},{"id":206,"title_vi":"KHÔNG NÊN CÂU NỆ","title_zh_simp":"不执一","title_zh_trad":"不執一","title_pinyin":"Bù zhí yī","title_han_viet":"BẤT CHẤP NHẤT","title_en":"Not Clinging to One Way","source_book":"《关尹子》","source_author":"Quan Doãn Tử","source_period":"Tiên Tần","content_zh_simp":"天不能使冬之木开花，故圣人不违时。地不能使楚之乡为越之乡，故圣人不违俗。圣人不能使手行足握，故圣人不违性。圣人不能使鱼飞鸟游，故圣人不违能。故动以时，静以时，明以时，晦以时，不执一，则合道矣。","content_zh_trad":"天不能使冬之木開花，故聖人不違時。地不能使楚之鄉為越之鄉，故聖人不違俗。聖人不能使手行足握，故聖人不違性。聖人不能使魚飛鳥游，故聖人不違能。故動以時，靜以時，明以時，晦以時，不執一，則合道矣。","content_pinyin":"Tiān bù néng shǐ dōng zhī mù kāihuā, gù shèngrén bù wéi shí. Dì bù néng shǐ chǔ zhī xiāng wèi yuè zhī xiāng, gù shèngrén bù wéi sú. Shèngrén bù néng shǐ shǒu xíng zú wò, gù shèngrén bù wéi xìng. Shèngrén bù néng shǐ yú fēi niǎo yóu, gù shèngrén bù wéi néng. Gù dòng yǐ shí, jìng yǐ shí, míng yǐ shí, huì yǐ shí, bù zhí yī, zé hé dào yǐ.","content_han_viet":"Thiên bất năng sử đông chi mộc khai hoa, cố thánh nhân bất vi thời. Địa bất năng sử Sở chi hương vi Việt chi hương, cố thánh nhân bất vi tục. Thánh nhân bất năng sử thủ hành túc ác, cố thánh nhân bất vi tính. Thánh nhân bất năng sử ngư phi điểu du, cố thánh nhân bất vi năng. Cố động dĩ thời, tĩnh dĩ thời, minh dĩ thời, hối dĩ thời, bất chấp nhất, tắc hợp đạo hĩ.","content_vi":"Trời không thể làm cho hoa mùa nọ nở vào mùa kia, cho nên thánh nhân không trái thời.\n\nĐất không có thể làm cho khí hậu xứ kia đổi thành xứ nọ, cho nên thánh nhân không trái tục.\n\nThánh nhân không thể làm cho tay biết đi chân biết cầm, cho nên thánh nhân không làm cho trái cái tài riêng.\n\nThánh nhân lại không có thể làm cho cá biết bay, chim biết bơi dưới nước, cho nên thánh nhân cũng không dùng cái tài riêng của người.\n\nVì vậy, lúc nên động, lúc nên tĩnh, lúc nên tối, lúc nên sáng, ta không nên câu nệ một đường nào thì mới là hợp đạo.","loi_ban_vi":"Hết thảy động vật, thực vật cả đến người ta, mỗi loài mỗi giống thường có đặc tính riêng của loài ấy, giống ấy, cách trí dù có tinh xảo cũng không thể bắt cho cả mọi loài, mọi giống cùng y như nhau cả. Suy như thế, thì bất cứ về mặt gì tính tình, phong tục cho đến cả tôn giáo, học thuật, ta không nên câu nệ chấp nhất một đường nào mà chỉ biết cái phải của ta, không rõ cái phải của người. Ta phải có lượng rộng dong được cả một cái, bao quát được cả mọi việc, thì ngõ hầu mới là người thông hiểu và sáng suốt vậy.","giai_nghia":["违时: trái thời, không hợp thời","违俗: trái phong tục","违性: trái bản tính","违能: trái khả năng","执一: câu nệ một lẽ, chấp nhất"],"tags":["Tư tưởng","Thích ứng","Không câu nệ","Đạo giáo"]},{"id":207,"title_vi":"TRI KỶ","title_zh_simp":"知己","title_zh_trad":"知己","title_pinyin":"Zhījǐ","title_han_viet":"TRI KỶ","title_en":"A True Friend","source_book":"《史记》","source_author":"司马迁","source_period":"西汉","content_zh_simp":"越石父贤，在缧绁中。晏子出，遭之涂，解左骖赎之，载归。弗谢，入闺。久之，越石父请绝。晏子戄然，摄衣冠谢曰：“婴虽不仁，免子于厄，何子求绝之速也？”石父曰：“不然。吾闻君子诎于不知己而信于知己者。方吾在缧绁中，彼不知我也。夫子既以感寤而赎我，是知己；知己而无礼，固不如在缧绁之中。”晏子于是延入为上客。","content_zh_trad":"越石父賢，在縲紲中。晏子出，遭之塗，解左驂贖之，載歸。弗謝，入閨。久之，越石父請絕。晏子戄然，攝衣冠謝曰：“嬰雖不仁，免子於厄，何子求絕之速也？”石父曰：“不然。吾聞君子詘於不知己而信於知己者。方吾在縲紲中，彼不知我也。夫子既以感寤而贖我，是知己；知己而無禮，固不如在縲紲之中。”晏子於是延入為上客。","content_pinyin":"Yuè Shífù xián, zài léixiè zhōng. Yànzǐ chū, zāo zhī tú, jiě zuǒ cān shú zhī, zài guī. Fú xiè, rù guī. Jiǔ zhī, Yuè Shífù qǐng jué. Yànzǐ juérán, shè yīguān xiè yuē: “Yīng suī bù rén, miǎn zǐ yú è, hé zǐ qiú jué zhī sù yě?” Shífù yuē: “Bù rán. Wú wén jūnzǐ qū yú bù zhījǐ ér xìn yú zhījǐ zhě. Fāng wú zài léixiè zhōng, bǐ bù zhī wǒ yě. Fūzǐ jì yǐ gǎn wù ér shú wǒ, shì zhījǐ; zhījǐ ér wúlǐ, gù bùrú zài léixiè zhī zhōng.” Yànzǐ yúshì yán rù wéi shàng kè.","content_han_viet":"Việt Thạch Phụ hiền, tại luy tiết trung. Yến Tử xuất, tao chi đồ, giải tả tham thục chi, tái quy. Phù tạ, nhập khuê. Cửu chi, Việt Thạch Phụ thỉnh tuyệt. Yến Tử quyết nhiên, nhiếp y quan tạ viết: “Anh tuy bất nhân, miễn tử ư ách, hà tử cầu tuyệt chi tốc dã?” Thạch Phụ viết: “Bất nhiên. Ngô văn quân tử quất ư bất tri kỷ nhi tín ư tri kỷ giả. Phương ngô tại luy tiết trung, bỉ bất tri ngã dã. Phu tử ký dĩ cảm ngộ nhi thục ngã, thị tri kỷ; tri kỷ nhi vô lễ, cố bất như tại luy tiết chi trung.” Yến Tử ư thị diên nhập vi thượng khách.","content_vi":"Thạch Phủ người nước Tề thời Xuân Thu, có tiếng là người giỏi. Anh ta phải tội oan, bị giam trói. Án Tử đi chơi, gặp ở đường, tháo một con ngựa đang đóng xe ra bán, để chuộc tội cho anh ta, rồi đưa lên xe đem ra về.\n\nVề đến nhà, Án Tử chẳng hỏi han gì đến, vào ngay nhà trong rồi ở mãi không ra.\n\nThạch Phủ tức giận bỏ đi và nói rằng từ rày không bước đến nhà Án Tử nữa.\n\nÁn Tử nghe tiếng, ngạc nhiên, sử khăn áo chạy ra, tạ rằng:\n\n- Tuy tôi chẳng ra gì, song cũng vừa gỡ được tội cho ông, sao ông lại vội cự tuyệt tôi thế.\n\nThạch Phủ nói:\n\n- Không phải. Tôi nghe người quân tử gặp phải kẻ bất tri kỉ thì phải cực thân gặp được người tri kỷ thì được hả dạ. Tôi đã phải giam trói oan là tôi gặp phải kẻ bất tri kỷ. Tôi nay gặp được ông đã biết tôi mà chuộc cho tôi khỏi tội oan, thì ông là tri kỷ của tôi. Nếu tôi lại gặp phải người tri kỷ mà vô lễ thì thà rằng tôi cứ ngồi trong chỗ giam trói còn hơn.\n\nÁn Tử nghe ra bèn kính trọng Thạch Phủ, rồi sau tôn Thạch Phủ làm thượng khách.\n\nSử ký","loi_ban_vi":"Xem chuyện này ta trọng Thạch Phủ là người tinh đời và lại có tài, có khí ngang nhiên nói thẳng băng mà không mất lòng ân nhân, lại còn nhân đó làm cho ân nhân biết giá trị của mình nữa. Ông vừa biết mình vừa biết người và giỏi cả khoa ngôn ngữ. Còn như Án Tử là người biết người mà lại có đức, có lượng. Bán ngựa để chuộc tội cho Thạch Phủ, thế là biết được anh hùng trong lúc còn trần ai và thương người như thể thương thân vậy. Phải Thạch Phủ nặng lời oán trách, mà ông xử lại kính trọng bội phần, thật là ái tài như mạnh (yêu quí người hiền tài như yêu quí mạng mình). Đáng phục lắm thay! Án Tử làm tướng nước Tề, suốt đời tận tụy quên cả bản thân; nhất là với việc bồi thực nhân tài để cho có người giúp dân giúp nước, ông lại càng hết lòng lắm.","giai_nghia":["越石父: tên người, hiền sĩ nước Tề.","缧绁: dây trói tù nhân, chỉ cảnh tù ngục.","晏子: tức Án Anh, danh tướng nước Tề.","左骖: con ngựa bên trái trong cỗ xe.","戄然: giật mình, kinh ngạc.","诎: khuất, khó chịu; 信: thân, thoải mái."],"tags":["Tri kỷ","Án Tử","Thạch Phủ","Đãi ngộ hiền tài"]},{"id":208,"title_vi":"TRỒNG KHÓ, NHỔ DỄ","title_zh_simp":"种难拔易","title_zh_trad":"種難拔易","title_pinyin":"Zhǒng nán bá yì","title_han_viet":"CHỦNG NAN BẠT DỊ","title_en":"Planting Is Hard, Uprooting Is Easy","source_book":"《百子全书》","source_author":"不详","source_period":"先秦","content_zh_simp":"田需贵于魏王，惠子曰：“子必善事左右。夫杨，横树之即生，倒树之即生，折而树之又生。然使十人树杨，一人拔之，则无生杨矣。故以十人之众，树易生之物，然而不胜一人者，何也？树之难而去之易也。今子虽自树于王，而欲去子者众，则子危矣。”","content_zh_trad":"田需貴於魏王，惠子曰：“子必善事左右。夫楊，橫樹之即生，倒樹之即生，折而樹之又生。然使十人樹楊，一人拔之，則無生楊矣。故以十人之眾，樹易生之物，然而不勝一人者，何也？樹之難而去之易也。今子雖自樹於王，而欲去子者眾，則子危矣。”","content_pinyin":"Tián Xū guì yú Wèi wáng, Huìzǐ yuē: \"Zǐ bì shàn shì zuǒyòu. Fú yáng, héng shù zhī jí shēng, dào shù zhī jí shēng, zhé ér shù zhī yòu shēng. Rán shǐ shí rén shù yáng, yī rén bá zhī, zé wú shēng yáng yǐ. Gù yǐ shí rén zhī zhòng, shù yì shēng zhī wù, rán'ér bù shèng yī rén zhě, hé yě? Shù zhī nán ér qù zhī yì yě. Jīn zǐ suī zì shù yú wáng, ér yù qù zǐ zhě zhòng, zé zǐ wēi yǐ.\"","content_han_viet":"Điền Nhu quý ư Ngụy vương, Huệ Tử viết: “Tử tất thiện sự tả hữu. Phù dương, hoành thụ chi tức sinh, đảo thụ chi tức sinh, chiết nhi thụ chi hựu sinh. Nhiên sử thập nhân thụ dương, nhất nhân bạt chi, tắc vô sinh dương hĩ. Cố dĩ thập nhân chi chúng, thụ dị sinh chi vật, nhiên nhi bất thắng nhất nhân giả, hà dã? Thụ chi nan nhi khứ chi dị dã. Kim tử tuy tự thụ ư vương, nhi dục khứ tử giả chúng, tắc tử nguy hĩ.”","content_vi":"Điền Nhu được vua nước Ngụy tin dùng.\n\nHuệ Tử bảo Điền Nhu:\n\n- Ngươi phải khéo ăn ở với cận thần nhà vua mới được. Này xem như cây dương, trồng ngang cũng mọc, trồng ngược cũng mọc, bẻ cành mà trồng cũng mọc. Giả sử mười người trồng cây dương, một người nhổ lên thì không cây dương nào sống được. Thế cho nên nhiều đến mười người trồng giống thứ cây dễ mọc cũng không lại được với một người nhổ là tại làm sao? - Là tại trồng thì khó mà nhổ thì dễ. Nay ngươi muốn được vua tin dùng lâu dài, nhưng có nhiều người muốn bỏ ngươi thì ngươi nguy mất.","loi_ban_vi":"Được vua tin dùng thế là vua đã có lòng yêu, mà vua đã có lòng yêu thì lại còn lo chi không giữ được địa vị vững chắc. Thế mà vị tất. Vua yêu, tuy vua là chủ nữa, nhưng cũng chỉ là một người, còn bao nhiêu người bên cạnh vua, nếu ai ai cũng ghét mình cả, thì mình không thể sao đứng lại được. Nên cái lẽ trồng khó, nhổ dễ của Huệ Tử nói với Điền Nhu là rất phải. Bài này có ý lo xa trừ bỏ cái hại dèm pha.","giai_nghia":["Huệ Tử: tức là Huệ Thi, là một nhà đàm luận biện bác giỏi thời Chiến Quốc","田需: tên người, đại phu nước Ngụy.","惠子: tức Huệ Thi, nhà biện sĩ thời Chiến Quốc.","杨: cây dương, dễ trồng.","树: trồng.","拔: nhổ.","左右: những người hầu cận, bề tôi thân cận."],"tags":["Trồng khó nhổ dễ","Huệ Tử","Điền Nhu","Cảnh giác kẻ dèm pha"]},{"id":209,"title_vi":"NGƯỜI KIẾM CỦI ĐƯỢC CON HƯƠU","title_zh_simp":"樵夫得鹿","title_zh_trad":"樵夫得鹿","title_pinyin":"Qiáofū dé lù","title_han_viet":"TIỀU PHU ĐẮC LỘC","title_en":"The Woodcutter and the Deer","source_book":"《列子》","source_author":"Liệt Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"郑人有薪于野者，遇骇鹿，御而击之，毙之。恐人见之也，遽而藏诸隍中，覆之以蕉，不胜其喜。俄而遗其所藏之处，遂以为梦焉。顺途而咏其事，傍人有闻者，用其言而取之。既归，告其室人曰：“向薪者梦得鹿而不知其处；吾今得之，彼直真梦者矣。”室人曰：“若将是梦见薪者之得鹿邪？讵有薪者邪？今真得鹿，是若之梦真邪？”夫曰：“吾据得鹿，何用知彼梦我梦邪？”薪者之归，不厌失鹿。其夜真梦藏之之处，又梦得之之主。爽旦，案所梦而寻得之。遂讼而争之，归之士师。士师曰：“若初真得鹿，妄谓之梦；真梦得鹿，妄谓之实。彼真取若鹿，而与若争鹿。室人又谓梦仞人之鹿者，无人得鹿。今据有此鹿，请二分之。”以闻郑君。郑君曰：“嘻！士师将复梦分人鹿乎？”访之国相。国相曰：“梦与不梦，臣所不能辨也。欲辨觉梦，唯黄帝、孔丘。今亡黄帝、孔丘，孰辨之哉？且恂士师之言可也。”","content_zh_trad":"鄭人有薪於野者，遇駭鹿，御而擊之，斃之。恐人見之也，遽而藏諸隍中，覆之以蕉，不勝其喜。俄而遺其所藏之處，遂以為夢焉。順途而詠其事，傍人有聞者，用其言而取之。既歸，告其室人曰：“向薪者夢得鹿而不知其處；吾今得之，彼直真夢者矣。”室人曰：“若將是夢見薪者之得鹿邪？詎有薪者邪？今真得鹿，是若之夢真邪？”夫曰：“吾據得鹿，何用知彼夢我夢邪？”薪者之歸，不厭失鹿。其夜真夢藏之之處，又夢得之之主。爽旦，案所夢而尋得之。遂訟而爭之，歸之士師。士師曰：“若初真得鹿，妄謂之夢；真夢得鹿，妄謂之實。彼真取若鹿，而與若爭鹿。室人又謂夢仞人之鹿者，無人得鹿。今據有此鹿，請二分之。”以聞鄭君。鄭君曰：“嘻！士師將復夢分人鹿乎？”訪之國相。國相曰：“夢與不夢，臣所不能辨也。欲辨覺夢，唯黃帝、孔丘。今亡黃帝、孔丘，孰辨之哉？且恂士師之言可也。”","content_pinyin":"Zhèng rén yǒu xīn yú yě zhě, yù hài lù, yù ér jī zhī, bì zhī. Kǒng rén jiàn zhī yě, jù ér cáng zhū huáng zhōng, fù zhī yǐ jiāo, bù shèng qí xǐ. É ér yí qí suǒ cáng zhī chù, suì yǐ wéi mèng yān. Shùn tú ér yǒng qí shì, bàng rén yǒu wén zhě, yòng qí yán ér qǔ zhī. Jì guī, gào qí shì rén yuē: “Xiàng xīn zhě mèng dé lù ér bù zhī qí chù; wú jīn dé zhī, bǐ zhí zhēn mèng zhě yǐ.” Shì rén yuē: “Ruò jiāng shì mèng jiàn xīn zhě zhī dé lù xié? Jù yǒu xīn zhě xié? Jīn zhēn dé lù, shì ruò zhī mèng zhēn xié?” Fū yuē: “Wú jù dé lù, hé yòng zhī bǐ mèng wǒ mèng xié?” Xīn zhě zhī guī, bù yàn shī lù. Qí yè zhēn mèng cáng zhī zhī chù, yòu mèng dé zhī zhī zhǔ. Shuǎng dàn, àn suǒ mèng ér xún dé zhī. Suì sòng ér zhēng zhī, guī zhī shì shī. Shì shī yuē: “Ruò chū zhēn dé lù, wàng wèi zhī mèng; zhēn mèng dé lù, wàng wèi zhī shí. Bǐ zhēn qǔ ruò lù, ér yǔ ruò zhēng lù. Shì rén yòu wèi mèng rèn rén zhī lù zhě, wú rén dé lù. Jīn jù yǒu cǐ lù, qǐng èr fēn zhī.” Yǐ wén Zhèng jūn. Zhèng jūn yuē: “Xī! Shì shī jiāng fù mèng fēn rén lù hū?” Fǎng zhī guó xiàng. Guó xiàng yuē: “Mèng yǔ bù mèng, chén suǒ bù néng biàn yě. Yù biàn jué mèng, wéi Huángdì, Kǒng Qiū. Jīn wáng Huángdì, Kǒng Qiū, shú biàn zhī zāi? Qiě xún shì shī zhī yán kě yě.”","content_han_viet":"Trịnh nhân hữu tân dã giả, ngộ hãi lộc, ngự nhi kích chi, tễ chi. Khủng nhân kiến chi dã, cự nhi tàng chư hoàng trung, phúc chi dĩ tiêu, bất thắng kỳ hỉ. Nga nhi di kỳ sở tàng chi xứ, toại dĩ vi mộng yên. Thuận đồ nhi vịnh kỳ sự, bàng nhân hữu văn giả, dụng kỳ ngôn nhi thủ chi. Ký quy, cáo kỳ thất nhân viết: “Hướng tân giả mộng đắc lộc nhi bất tri kỳ xứ; ngô kim đắc chi, bỉ trực chân mộng giả hĩ.” Thất nhân viết: “Nhược tương thị mộng kiến tân giả chi đắc lộc da? Cự hữu tân giả da? Kim chân đắc lộc, thị nhược chi mộng chân da?” Phu viết: “Ngô cứ đắc lộc, hà dụng tri bỉ mộng ngã mộng da?” Tân giả chi quy, bất yếm thất lộc. Kỳ dạ chân mộng tàng chi chi xứ, hựu mộng đắc chi chi chủ. Sảng đán, án sở mộng nhi tầm đắc chi. Toại tụng nhi tranh chi, quy chi sĩ sư. Sĩ sư viết: “Nhược sơ chân đắc lộc, vọng vị chi mộng; chân mộng đắc lộc, vọng vị chi thực. Bỉ chân thủ nhược lộc, nhi dữ nhược tranh lộc. Thất nhân hựu vị mộng nhận nhân chi lộc giả, vô nhân đắc lộc. Kim cứ hữu thử lộc, thỉnh nhị phân chi.” Dĩ văn Trịnh quân. Trịnh quân viết: “Hi! Sĩ sư tương phục mộng phân nhân lộc hồ?” Phỏng chi quốc tướng. Quốc tướng viết: “Mộng dữ bất mộng, thần sở bất năng biện dã. Dục biện giác mộng, duy Hoàng Đế, Khổng Khâu. Kim vong Hoàng Đế, Khổng Khâu, thục biện chi tai? Thả tuân sĩ sư chi ngôn khả dã.”","content_vi":"Người nước Trịnh kiếm củi ngoài đồng, thấy con hươu lạc, đón đánh chết được ngay. Anh ta sợ người ngoài trông thấy, vội giấu xác con hươu vào trong cái hào cạn, lấy lá chuối phủ lên. Trong bụng mừng rỡ không biết thế nào mà kể.\n\nChợt một cái, anh ta lú ngay chỗ giấu hươu, bèn cho ngay là chuyện chiêm bao. Lúc gánh củi về, anh ta đi đường thẫn thờ thở than và cứ một mình lẩm bẩm kể câu chuyện ấy.\n\nCó một người đi cạnh, nghe thấy cứ theo lời kể mà tìm được hươu, đưa về bảo vợ rằng:\n\n- Lúc nãy anh kiếm củi mộng bắt được hươu mà không biết ở chỗ nào, bây giờ ta tìm được thế thì hẳn là kẻ mộng thật.\n\nVợ nói:\n\n- Hay chính anh mộng thấy người kiếm củi bắt được hươu. Chớ làm gì có người kiếm củi thật. Bây giờ anh ta bắt được hươu thật, thế là mộng anh thật chăng.\n\nChồng bảo:\n\n- Đây ta cứ biết được hươu là được hươu, cần gì phải biết rằng ta mộng hay hắn mộng nữa.\n\nAnh kiếm củi về nhà, trong bụng tấm tức băn khoăn về việc mất hươu.\n\nĐêm hôm ấy nằm mộng thấy chỗ mình giấu hươu và cả người đến lấy hươu ấy. Sáng ra, cứ theo như mộng rồi tìm ra được, mới đem lên quan sĩ sư kiện để đòi lại hươu.\n\nQuan xử rằng:\n\n- Mày trước thật là bắt được hươu lại hoảng lên cho là mộng, sau mày mộng tìm thấy hươu lại hoảng lên cho là thật. Còn thằng kia thật là lấy hươu mà tranh nhau với mày thì vợ nó lại tưởng là mộng được hươu của người ta chớ không ai bắt được hươu thật, Bây giờ rõ rang là con hươu đây, thời chia đôi cho mỗi bên nửa.\n\nCái án ấy tâu nên vua nước Trịnh.\n\nVua nói rằng:\n\n- Hừ! Quan án cũng lấy mộng mà xử kiện con hươu ư! Rồi cho đòi thủ tướng đến hỏi.\n\nThủ tướng tâu rằng:\n\n- Mộng cùng chẳng mộng, tôi không thể phân biện được. Muốn phân biện mộng hay giác thì chỉ có ông Hoàng Đế, ông Khổng Tử mà thôi. Bây giờ không có hai bực ấy, thì ai phân biện ra được?\n\nThôi, xin cứ y như lời xử đoán của quan sĩ sư là xong.","loi_ban_vi":"Đánh chết được con hươu thật lại đem giấu cẩn thận, vì quên mất chỗ giấu mà cho là mộng. Thế là thực mà hóa ra mộng. Nghe lỏm rồi tranh lấy hươu của người đem về tận nhà khoe với vợ. Thế là mộng hóa ra thực! Ôi! Như thế thì chẳng ra sự mộng và sự thực không có gì để phân biệt tách bạch hẳn ra ư.\n\nHay ở đời có lắm cái như thực mà là mộng cả, lại có lắm cái tưởng mộng mà thực cả. Tác giả chính có ý muốn bày tỏ sự mộng, sự thực ở đời là như thế.\n\nNhà Phật còn có cả cuộc đời là một giấc mộng nữa là những việc vụn vặt hàng ngày.\n\nCòn câu cuối bài, tác giả có ý bác Hoàng Đế và ông Khổng Tử cứ như muốn giáo hóa người đời, cho ở đời cái gì cũng là thực cả.\n\nTự xưa đến nay, ở đâu mà chẳng là thật, việc gì mà chẳng là chiêm bao, chẳng qua như chuyện được hươu mất hươu, tìm thấy hươu, kiện nhau hươu.\n\nNghĩ cho cùng, tưởng cũng buồn cười.","giai_nghia":["Trịnh: nước nhỏ thời Xuân Thu, ở vào huyện Tân Trịnh, một phần đất phủ Khai Phong tỉnh Hà Nam ngày nay","Sĩ sư: chức quan tra xét việc ngục tụng","Hoàng Đế: một bậc thánh đế thời cổ, thay vua Thần Nông cai trị nước Tàu","Khổng Tử: người nước Lỗ về thời Xuân Thu, tên là Khưu tự là Trọng Ni, ông tổ nho học","骇鹿: hươu hoảng sợ","遽: vội vàng","隍: hào khô, rãnh","蕉: lá chuối","士师: quan tòa, quan xử án","黄帝、孔丘: Hoàng Đế và Khổng Tử, tượng trưng cho bậc thánh trí có thể phân biệt mộng và thực"],"tags":["Triết lý","Mộng và thực","Liệt Tử","Ngụ ngôn"]},{"id":210,"title_vi":"HỎI THĂM DÂN","title_zh_simp":"问民","title_zh_trad":"問民","title_pinyin":"Wèn mín","title_han_viet":"VẤN DÂN","title_en":"Inquiring About the People","source_book":"《战国策》","source_author":"Lưu Hướng (biên soạn)","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"齐王使使者问赵威后。书未发，威后问使者曰：“岁亦无恙耶？民亦无恙耶？王亦无恙耶？”使者不说，曰：“臣奉使使威后，今不问王，而先问岁与民，岂先贱而后尊贵者乎？”威后曰：“不然。苟无岁，何以有民？苟无民，何以有君？故有问，舍本而问末者耶？”乃进而问之曰：“齐有处士曰钟离子，无恙耶？是其为人也，有粮者亦食，无粮者亦食；有衣者亦衣，无衣者亦衣。是助王养其民者也，何以至今不业也？叶阳子无恙乎？是其为人，哀鳏寡，恤孤独，振困穷，补不足。是助王息其民者也，何以至今不业也？北宫之女婴儿子无恙耶？彻其环瑱，至老不嫁，以养父母。是皆率民而出于孝情者也，胡为至今不朝也？此二士弗业，一女不朝，何以王齐国、子万民乎？於陵子仲尚存乎？是其为人也，上不臣于王，下不治其家，中不索交诸侯。此率民而出于无用者，何为至今不杀乎？”","content_zh_trad":"齊王使使者問趙威后。書未發，威后問使者曰：“歲亦無恙耶？民亦無恙耶？王亦無恙耶？”使者不說，曰：“臣奉使使威后，今不問王，而先問歲與民，豈先賤而後尊貴者乎？”威后曰：“不然。苟無歲，何以有民？苟無民，何以有君？故有問，舍本而問末者耶？”乃進而問之曰：“齊有處士曰鍾離子，無恙耶？是其為人也，有糧者亦食，無糧者亦食；有衣者亦衣，無衣者亦衣。是助王養其民者也，何以至今不業也？葉陽子無恙乎？是其為人，哀鰥寡，恤孤獨，振困窮，補不足。是助王息其民者也，何以至今不業也？北宮之女嬰兒子無恙耶？徹其環瑱，至老不嫁，以養父母。是皆率民而出於孝情者也，胡為至今不朝也？此二士弗業，一女不朝，何以王齊國、子萬民乎？於陵子仲尚存乎？是其為人也，上不臣於王，下不治其家，中不索交諸侯。此率民而出於無用者，何為至今不殺乎？”","content_pinyin":"Qí wáng shǐ shǐzhě wèn Zhào Wēi hòu. Shū wèi fā, Wēi hòu wèn shǐzhě yuē: “Suì yì wúyàng yé? Mín yì wúyàng yé? Wáng yì wúyàng yé?” Shǐzhě bù yuè, yuē: “Chén fèng shǐ shǐ Wēi hòu, jīn bù wèn wáng, ér xiān wèn suì yǔ mín, qǐ xiān jiàn ér hòu zūn guì zhě hū?” Wēi hòu yuē: “Bù rán. Gǒu wú suì, hé yǐ yǒu mín? Gǒu wú mín, hé yǐ yǒu jūn? Gù yǒu wèn, shě běn ér wèn mò zhě yé?” Nǎi jìn ér wèn zhī yuē: “Qí yǒu chǔshì yuē Zhōnglí zǐ, wúyàng yé? Shì qí wéi rén yě, yǒu liáng zhě yì shí, wú liáng zhě yì shí; yǒu yī zhě yì yī, wú yī zhě yì yī. Shì zhù wáng yǎng qí mín zhě yě, hé yǐ zhìjīn bù yè yě? Yèyáng zǐ wúyàng hū? Shì qí wéi rén, āi guān guǎ, xù gūdú, zhèn qióngkùn, bǔ bùzú. Shì zhù wáng xī qí mín zhě yě, hé yǐ zhìjīn bù yè yě? Běigōng zhī nǚ Yīng'ér zǐ wúyàng yé? Chè qí huán tiàn, zhì lǎo bù jià, yǐ yǎng fùmǔ. Shì jiē lǜ mín ér chū yú xiào qíng zhě yě, hú wéi zhìjīn bù cháo yě? Cǐ èr shì fú yè, yī nǚ bù cháo, hé yǐ wáng Qí guó, zǐ wàn mín hū? Wūlíng Zǐzhòng shàng cún hū? Shì qí wéi rén yě, shàng bù chén yú wáng, xià bù zhì qí jiā, zhōng bù suǒ jiāo zhūhóu. Cǐ lǜ mín ér chū yú wúyòng zhě, hé wéi zhìjīn bù shā hū?”","content_han_viet":"Tề vương sử sứ giả vấn Triệu Uy hậu. Thư vị phát, Uy hậu vấn sứ giả viết: “Tuế diệc vô dạng da? Dân diệc vô dạng da? Vương diệc vô dạng da?” Sứ giả bất duyệt, viết: “Thần phụng sứ sử Uy hậu, kim bất vấn vương, nhi tiên vấn tuế dữ dân, khởi tiên tiện nhi hậu tôn quý giả hồ?” Uy hậu viết: “Bất nhiên. Cẩu vô tuế, hà dĩ hữu dân? Cẩu vô dân, hà dĩ hữu quân? Cố hữu vấn, xả bổn nhi vấn mạt giả da?” Nãi tiến nhi vấn chi viết: “Tề hữu xử sĩ viết Chung Ly tử, vô dạng da? Thị kỳ vi nhân dã, hữu lương giả diệc thực, vô lương giả diệc thực; hữu y giả diệc y, vô y giả diệc y. Thị trợ vương dưỡng kỳ dân giả dã, hà dĩ chí kim bất nghiệp dã? Diệp Dương tử vô dạng hồ? Thị kỳ vi nhân, ai quan quả, tuất cô độc, chấn khốn cùng, bổ bất túc. Thị trợ vương tức kỳ dân giả dã, hà dĩ chí kim bất nghiệp dã? Bắc cung chi nữ Anh nhi tử vô dạng da? Triệt kỳ hoàn thiến, chí lão bất giá, dĩ dưỡng phụ mẫu. Thị giai suất dân nhi xuất ư hiếu tình giả dã, hồ vi chí kim bất triều dã? Thử nhị sĩ phất nghiệp, nhất nữ bất triều, hà dĩ vương Tề quốc, tử vạn dân hồ? Ô Lăng Tử Trọng thượng tồn hồ? Thị kỳ vi nhân dã, thượng bất thần ư vương, hạ bất trị kỳ gia, trung bất sách giao chư hầu. Thử suất dân nhi xuất ư vô dụng giả, hà vi chí kim bất sát hồ?”","content_vi":"Vua nước Tề sai sứ đem thư sang hỏi thăm bà Uy Hậu nước Triệu.\n\nSang đến nơi, sang đến nơi bà Uy Hậu chưa xem thư đã hỏi sứ giả rằng:\n\n- Năm nay không mất mùa chứ? Dân bình yên chứ? Vua cũng mạnh khỏe chứ?\n\nSứ giả nghe hỏi không bằng lòng, nói rằng:\n\n- Tôi vâng mệnh vua nước tôi sang sứ bên này, thái hậu không hỏi đến vua tôi, lại hỏi thăm mùa màng với dân sự trước, thế chẳng ra tôn trọng kẻ hèn hơn người sang ư?\n\nUy Hậu bảo:\n\n- Không phải. Nếu không có mùa màng thì lấy đâu có dân, không có dân thì lấy đâu có vua. Cho nên ta hỏi mùa màng và nhân dân trước. Ai lại bỏ gốc mà hỏi ngọn bao giờ!\n\nNói xong, Thái hậu lại hỏi luôn rằng:\n\n- Chung Li Tử là xử sĩ bên ấy vẫn được bình yên đấy chứ? Người ấy có lương ăn cũng thế, không có lương ăn cũng thế, có áo mặc cũng thế, không có áo mặc cũng thế, ấy là người giúp vua mà nuôi dân đấy, sao đến bây giờ chưa triệu ra làm quan? Cả Nghiệp Dương Tử bên ấy vẫn bình yên đấy chứ?\n\nNgười ấy thương xót kẻ quan quả chu tuất, kẻ có độc, chuẩn tế kẻ khốn cùng, giúp đỡ kẻ túng bấn, thế là người ta giúp vua để sinh tức cho dân, sao đến bây giờ còn chưa triệu ra làm quan? Người con gái Bắc cung tên là Anh Nhi Tử vẫn bình yên đấy chứ? Người ấy bỏ cả đồ trang sức đến già không lấy chồng để nuôi cha mẹ. Ấy là người ta làm gương cho dân bắt chước ăn ở với cha mẹ cho có hiếu, sao đến bây giờ vẫn chưa cho người ấy vào chầu? Nếu hai người xử sĩ ấy không được làm quan, người con gái ấy không được vào chầu, thì làm vua nước Tề sao trị vạn dân được! À mà thằng Tử Trọng ở Ô Lăng vẫn còn đấy chứ? Người ấy trên không làm tôi vua, dưới không trị việc nhà, giữa không kết giao với ai. Thế là người ấy dạy dân làm điều vô dụng, sao đến bây giờ vẫn còn chưa giết đi?\n\nThái hậu hỏi mấy câu chuyện xong rồi mới xem đến thư.","loi_ban_vi":"Nước lấy dân làm gốc. Dân không đủ ăn thì nước nguy cho nên dân sinh là việc trọng. Dân không an cư thì nước loạn, cho nên trị an là việc cần. Bà Uy Hậu hỏi hai việc này trước, rồi hỏi thăm vua sau là có ý quí dân lắm. Rồi bà hỏi đến hai người xử sĩ, một người hiến nữ, là mong cho dân có được nhân tài để lãnh đạo. Bà hỏi đến một tên tiểu nhân là ngại cho dân lỡ phải quân gian ác cổ hoặc làm càn, thủy chung câu nào bà hỏi cũng chú trọng về dân, còn vua thì hỏi qua, thật là một tay thấu hiểu việc trị nước, ám hợp với cái ý tưởng của ông Mạnh là: “Dân vi quý, xã tắc thí chi, quân vi khanh” vậy.","giai_nghia":["Tề: tên nước lớn trong bảy nước thời Chiến Quốc, ở vào địa phận tỉnh Sơn Đông bây giờ","Uy Hậu: mẹ của Uy Vương, bấy giờ bà có dự triều chính","Triệu: tên một nước lớn thời Chiến Quốc, ở vào phía nam tỉnh Trực Lệ, phía bắc Tỉnh Sơn Tây bây giờ","Xử sĩ: người hiền tài ẩn cư một chỗ","Quan quả: quan: người góa vợ, quả:người góa chồng","Chẩn tế: cứu giúp kẻ đói khổ","赵威后: Triệu Uy hậu, mẹ vua nước Triệu","处士: ẩn sĩ, người tài không ra làm quan","钟离子: Chung Ly tử, ẩn sĩ nước Tề","叶阳子: Diệp Dương tử, ẩn sĩ nước Tề","北宫之女婴儿子: Anh Nhi tử, con gái họ Bắc Cung, nổi tiếng hiếu thảo","於陵子仲: Ô Lăng Tử Trọng, kẻ vô dụng"],"tags":["Dân vi quý","Chính trị","Triệu Uy hậu","Chiến Quốc sách"]},{"id":211,"title_vi":"DÂN QUÍ NHẤT","title_zh_simp":"民为贵","title_zh_trad":"民為貴","title_pinyin":"Mín wéi guì","title_han_viet":"DÂN VI QUÝ","title_en":"The People Are the Most Important","source_book":"《孟子》","source_author":"Mạnh Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"孟子曰：“民为贵，社稷次之，君为轻。是故得乎丘民而为天子，得乎天子为诸侯，得乎诸侯为大夫。诸侯危社稷，则变置。牺牲既成，粢盛既洁，祭祀以时，然而旱干水溢，则变置社稷。”","content_zh_trad":"孟子曰：“民為貴，社稷次之，君為輕。是故得乎丘民而為天子，得乎天子為諸侯，得乎諸侯為大夫。諸侯危社稷，則變置。犧牲既成，粢盛既潔，祭祀以時，然而旱乾水溢，則變置社稷。”","content_pinyin":"Mèngzǐ yuē: “Mín wéi guì, shèjì cì zhī, jūn wéi qīng. Shìgù dé hū qiū mín ér wéi tiānzǐ, dé hū tiānzǐ wéi zhūhóu, dé hū zhūhóu wéi dàfū. Zhūhóu wēi shèjì, zé biàn zhì. Xīshēng jì chéng, zī shèng jì jié, jìsì yǐ shí, rán'ér hànhàn shuǐ yì, zé biàn zhì shèjì.”","content_han_viet":"Mạnh Tử viết: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Thị cố đắc hồ khâu dân nhi vi thiên tử, đắc hồ thiên tử vi chư hầu, đắc hồ chư hầu vi đại phu. Chư hầu nguy xã tắc, tắc biến trí. Hy sinh ký thành, tư thịnh ký khiết, tế tự dĩ thì, nhiên nhi hạn hán thủy dật, tắc biến trí xã tắc.”","content_vi":"Nước mà trông cậy để vững bền được là nhờ ở ba thứ:\n\nMột là dân; hai là xã tắc; ba là vua.\n\nĐem ba điều ấy so sánh với nhau, dân tuy không có thế đáng tôn, nhưng có hình đáng sợ, đáng trọng, thật là dân quí nhất.\n\nXã tắc là thổ thần và cốc thần tí hộ cho dân được yên, được sống nhưng cũng vì dân mới đặt ra, thì chẳng chúng ta bì với dân được. Vậy xã tắc còn là đáng quý thứ hai.\n\nVua chúa tuy kể cả thần, kể cả dân nhưng kỳ thực cũng phải nhờ lòng dân có yêu mến, xã tắc có yên ổn thì vua mới lâu dài được. Thế thì vua ví với dân, với xã tắc, vua không trọng lắm, nghĩa là đáng quý thứ ba.","loi_ban_vi":"Nước có quân chủ, thì còn ai trọng bằng vua chúa. Tục chuộng Thần quyền, thì còn ai sợ bằng thần thánh. Một đàn dân ngu, tha hồ mà giày xéo, bóc lột! Nhưng biết đâu dân chính là gốc của nước, có dân mới có xã tắc, có dân mới có vua, nên đem so dân với vua thì dân là quý nhất, không thể khinh thường được. Ông Mạnh sinh vào thời cổ, quân chủ áp chế, mà thực đã hiểu rõ cái lẽ tối tân của đời bân giờ là đời dân chủ. Dù có quân chủ chăng nữa nhưng cũng là tượng trưng cho toàn dân, mà phải thực hành trọng dân quyền thì mới hợp trào lưu tiến hóa vậy. Còn dân, cố nhiên là dân vi quý, nhưng dân trí không mở mang thì dân chủ cũng nguy hại lắm.","giai_nghia":["Xã tắc: xã: nơi thờ thổ thần tức là thần giữ đất; tắc: nơi thờ cốc thần, tức là thần cho được mùa.","Tí hộ: che chỡ, đỡ đần cho được bình yên","社稷 (shèjì): thần đất và thần ngũ cốc, tượng trưng cho quốc gia.","丘民 (qiū mín): dân chúng, người dân ở vùng quê.","牺牲 (xīshēng): con vật hiến tế, như bò, dê, lợn.","粢盛 (zī shèng): lúa gạo đựng trong đồ đựng để tế lễ."],"tags":["Mạnh Tử","Dân vi quý","Chính trị","Nhân nghĩa"]},{"id":212,"title_vi":"NHUỘM TƠ","title_zh_simp":"染丝","title_zh_trad":"染絲","title_pinyin":"Rǎn sī","title_han_viet":"NHIỄM TI","title_en":"Dyeing Silk","source_book":"《墨子》","source_author":"Mặc Tử","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"子墨子言见染丝者而叹曰：“染于苍则苍，染于黄则黄。所入者变，其色亦变；五入必，而已则为五色矣。故染不可不慎也！”非独染丝然也，国亦有染。","content_zh_trad":"子墨子言見染絲者而嘆曰：“染於蒼則蒼，染於黃則黃。所入者變，其色亦變；五入必，而已則為五色矣。故染不可不慎也！”非獨染絲然也，國亦有染。","content_pinyin":"Zǐ Mòzǐ yán jiàn rǎn sī zhě ér tàn yuē: “Rǎn yú cāng zé cāng, rǎn yú huáng zé huáng. Suǒ rù zhě biàn, qí sè yì biàn; wǔ rù bì, ér yǐ zé wéi wǔ sè yǐ. Gù rǎn bù kě bù shèn yě!” Fēi dú rǎn sī rán yě, guó yì yǒu rǎn.","content_han_viet":"Tử Mặc Tử ngôn kiến nhiễm ti giả nhi thán viết: “Nhiễm vu thương tắc thương, nhiễm vu hoàng tắc hoàng. Sở nhập giả biến, kỳ sắc diệc biến; ngũ nhập tất, nhi dĩ tắc vi ngũ sắc hĩ. Cố nhiễm bất khả bất thận dã!” Phi độc nhiễm ti nhiên dã, quốc diệc hữu nhiễm.","content_vi":"Mặc Tử thấy người ta nhuộm tơ, ngẫm nghĩ than rằng:\n\nNhuộm vào màu xanh thì hóa xanh, nhuộm vào màu vàng thì hóa vàng.\n\nNhúng vào màu nào thì biến ra màu ấy. Năm lần nhuộm, hóa ra năm sắc, cho nên nhuộm phải cẩn thận.\n\nKhông những tơ nhuộm như vậy. Người ta tiêm nhiễm nhau cũng thế, bạn với người hay thì hóa hay, bạn với kẻ dở thì hóa dở. Vinh hay nhục quan hệ ở những người bạn mình hay giao du.","loi_ban_vi":": Bài này ý tưởng không có gì là cao lạ, chẳng qua cũng chỉ nói đến sự giao du làm cho người ta chóng giống tính những người mình hằng đi lại với nhau. Nào “Gần mực thì đen gần đèn thì rạng” (hoặc: gần son thì đỏ), nào: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, nào: “Mày bảo tao biết mày chơi với ai, tao sẽ bảo mày là hạng người thế nào”. “Vợ bắt tựa chồng, người ăn người ở giống tông chúa nhà”. “Ở nhà hàng mắm thì thối, ở nhà hàng hương thì thơm”, có biết bao nhiêu câu do cái khôn ngoan của loài người đều công nhận một chân lý ấy cả. Sự chơi bời ở đời, gần người hay thì được hay, gần kẻ dở hóa dở cần là như thế, thành hiền còn phải nghĩ đến, huống chi là ta, lúc muốn kết bạn bè với ai, chẳng nên cẩn thận mà kén chọn trước ru? Nói tóm, bài này khuyên người ta “chọn bạn mà chơi”.","giai_nghia":[":","Mặc Tử: người nước Lỗ thời Chiến quốc, họ Mặc tên Địch, làm quan đại phu nước Tống, xướng ra học thuyết “Kiêm ái”","苍 (cāng): màu xanh đậm, xanh da trời.","五入 (wǔ rù): nhúng năm lần, ý nói nhiều lần.","国亦有染 (guó yì yǒu rǎn): nước cũng có sự nhuộm, tức chịu ảnh hưởng của người xung quanh."],"tags":["Mặc Tử","Nhuộm tơ","Ảnh hưởng","Kết bạn"]},{"id":213,"title_vi":"KÉO LÊ ĐUÔI MÀ ĐI","title_zh_simp":"曳尾于涂","title_zh_trad":"曳尾於塗","title_pinyin":"Yè wěi yú tú","title_han_viet":"DUỆ VĨ Ư ĐỒ","title_en":"Dragging the Tail in the Mud","source_book":"《庄子》","source_author":"庄周","source_period":"战国","content_zh_simp":"庄子钓于濮水，楚王使大夫二人往先焉，曰：“愿以境内累矣！”庄子持竿不顾，曰：“吾闻楚有神龟，死已三千岁矣，王巾笥而藏之庙堂之上。此龟者，宁其死为留骨而贵乎？宁其生而曳尾于涂中乎？”二大夫曰：“宁生而曳尾涂中。”庄子曰：“往矣！吾将曳尾于涂中。”","content_zh_trad":"莊子釣於濮水，楚王使大夫二人往先焉，曰：“願以境內累矣！”莊子持竿不顧，曰：“吾聞楚有神龜，死已三千歲矣，王巾笥而藏之廟堂之上。此龜者，寧其死為留骨而貴乎？寧其生而曳尾於塗中乎？”二大夫曰：“寧生而曳尾塗中。”莊子曰：“往矣！吾將曳尾於塗中。”","content_pinyin":"Zhuāngzǐ diào yú Pú shuǐ, Chǔ wáng shǐ dàfū èr rén wǎng xiān yān, yuē: “Yuàn yǐ jìng nèi lèi yǐ!” Zhuāngzǐ chí gān bù gù, yuē: “Wú wén Chǔ yǒu shén guī, sǐ yǐ sān qiān suì yǐ, wáng jīn sì ér cáng zhī miào táng zhī shàng. Cǐ guī zhě, níng qí sǐ wèi liú gǔ ér guì hū? Níng qí shēng ér yè wěi yú tú zhōng hū?” Èr dàfū yuē: “Níng shēng ér yè wěi tú zhōng.” Zhuāngzǐ yuē: “Wǎng yǐ! Wú jiāng yè wěi yú tú zhōng.”","content_han_viet":"Trang Tử điếu vu Bộc thủy, Sở vương sử đại phu nhị nhân vãng tiên yên, viết: “Nguyện dĩ cảnh nội lụy hĩ!” Trang Tử trì can bất cố, viết: “Ngô văn Sở hữu thần quy, tử dĩ tam thiên tuế hĩ, vương cân tứ nhi tàng chi miếu đường chi thượng. Thử quy giả, ninh kỳ tử vi lưu cốt nhi quý hồ? Ninh kỳ sinh nhi duệ vĩ ư đồ trung hồ?” Nhị đại phu viết: “Ninh sinh nhi duệ vĩ đồ trung.” Trang Tử viết: “Vãng hĩ! Ngô tương duệ vĩ ư đồ trung.”","content_vi":"Trang Tử đang câu cá ở trên sông Bộc.\n\nVua Sở sai hai quan đai phu đến ngỏ ý rằng, ý vua muốn đem việc nước lại phiền.\n\nTrang Tử không nhìn hai quan đại phu, cứ cầm cần câu cá mà nói rằng:\n\nTa nghe nước Sở có con thần qui chết đã ba nghìn năm mà vua còn quý, lấy khăn bọc cất vào hòm để trên miếu đường. Như con thần qui ấy chết mà để xương lại cho người ta quý hơn hay là sống mà kéo lê đuôi đi ở giữa đường quý hơn?\n\nHai quan đại phu nói:\n\nThà rằng sống mà kéo lê đuôi đi ở giữa đường còn hơn.\n\nTrang Tử nói:\n\nVậy xin mời hai ngài cứ về. Ta đây cũng sắp kéo lê đuôi mà đi ở giữa đường.","loi_ban_vi":": Hiền như Trang Tử đã đi câu trên sông Bộc là muốn an nhà không còn để thân bó buộc vào trong vòng danh lợi nữa. Sở Vương không hay còn cho người cầu đến. Trang Tử hỏi chuyện con thần qui mà tức là để tỏ ý kiến rằng từ chối. Ôi! Bây giờ nhân đời Chiến quốc, người ta đã có câu:\n\n“Chiến quốc chi sĩ tiện” nghĩa là kẻ sĩ đời Chiến quốc hèn hạ, và đáng khinh bỉ, cho nên Trang Tử không chịu ra cũng có lẽ vậy. Lúc đời đang sôi nổi, đắm đuối về danh lợi, xâu xé tranh cướp nhau, xác người tuy còn, lòng người đã chết, thì ra đua với đời chỉ ô uế đến thân. Có đâu cao thượng bằng cầm câu trên sông Bộc làm lão ngư ông sống gần tạo hóa, xa đời ô trọc lại chả nhẹ nhàng cái thân ư!","giai_nghia":[":","Bộc: một ngành của con sông chảy qua địa phận tỉnh Hà Nam.","Thần qui: con rùa thiêng. Rùa sở dĩ cho là con vật thiêng là vì xưa người ta dùng để bói.","Miếu đường: nơi thờ phụng tổ tiên của nhà vua","濮水: Tên sông, nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.","神龟: Con rùa thiêng, chỉ loài rùa được coi là linh vật.","巾笥: Khăn và hòm, ý nói bọc trong khăn và cất trong hòm.","曳尾于涂: Kéo lê đuôi trong bùn, ý nói sống tự do ngoài vòng danh lợi."],"tags":["Trang Tử","Danh lợi","Tự do","Ẩn dật"]},{"id":214,"title_vi":"PHẢI BIẾT PHÒNG XA","title_zh_simp":"讳疾忌医","title_zh_trad":"諱疾忌醫","title_pinyin":"Huì jí jì yī","title_han_viet":"HUỆ TẬT KỴ Y","title_en":"Concealing Illness and Avoiding the Doctor","source_book":"《韩非子·喻老》","source_author":"韩非","source_period":"战国","content_zh_simp":"扁鹊见蔡桓公，立有间，扁鹊曰：“君有疾在腠理，不治将恐深。”桓侯曰：“寡人无疾。”扁鹊出，桓侯曰：“医之好治不病以为功！”居十日，扁鹊复见，曰：“君之病在肌肤，不治将益深。”桓侯不应。扁鹊出，桓侯又不悦。居十日，扁鹊复见，曰：“君之病在肠胃，不治将益深。”桓侯又不应。扁鹊出，桓侯又不悦。居十日，扁鹊望桓侯而还走。桓侯故使人问之，扁鹊曰：“疾在腠理，汤熨之所及也；在肌肤，针石之所及也；在肠胃，火齐之所及也；在骨髓，司命之所属，无奈何也。今在骨髓，臣是以无请也。”居五日，桓侯体痛，使人索扁鹊，已逃秦矣。桓侯遂死。","content_zh_trad":"扁鵲見蔡桓公，立有間，扁鵲曰：“君有疾在腠理，不治將恐深。”桓侯曰：“寡人無疾。”扁鵲出，桓侯曰：“醫之好治不病以為功！”居十日，扁鵲復見，曰：“君之病在肌膚，不治將益深。”桓侯不應。扁鵲出，桓侯又不悅。居十日，扁鵲復見，曰：“君之病在腸胃，不治將益深。”桓侯又不應。扁鵲出，桓侯又不悅。居十日，扁鵲望桓侯而還走。桓侯故使人問之，扁鵲曰：“疾在腠理，湯熨之所及也；在肌膚，針石之所及也；在腸胃，火齊之所及也；在骨髓，司命之所屬，無奈何也。今在骨髓，臣是以無請也。”居五日，桓侯體痛，使人索扁鵲，已逃秦矣。桓侯遂死。","content_pinyin":"Biǎn Què jiàn Cài Huán Gōng, lì yǒu jiān, Biǎn Què yuē: “Jūn yǒu jí zài còu lǐ, bù zhì jiāng kǒng shēn.” Huán Hóu yuē: “Guǎ rén wú jí.” Biǎn Què chū, Huán Hóu yuē: “Yī zhī hào zhì bù bìng yǐ wéi gōng!” Jū shí rì, Biǎn Què fù jiàn, yuē: “Jūn zhī bìng zài jī fū, bù zhì jiāng yì shēn.” Huán Hóu bù yìng. Biǎn Què chū, Huán Hóu yòu bù yuè. Jū shí rì, Biǎn Què fù jiàn, yuē: “Jūn zhī bìng zài cháng wèi, bù zhì jiāng yì shēn.” Huán Hóu yòu bù yìng. Biǎn Què chū, Huán Hóu yòu bù yuè. Jū shí rì, Biǎn Què wàng Huán Hóu ér huán zǒu. Huán Hóu gù shǐ rén wèn zhī, Biǎn Què yuē: “Jí zài còu lǐ, tàng wèi zhī suǒ jí yě; zài jī fū, zhēn shí zhī suǒ jí yě; zài cháng wèi, huǒ jì zhī suǒ jí yě; zài gǔ suǐ, sī mìng zhī suǒ shǔ, wú nài hé yě. Jīn zài gǔ suǐ, chén shì yǐ wú qǐng yě.” Jū wǔ rì, Huán Hóu tǐ tòng, shǐ rén suǒ Biǎn Què, yǐ táo Qín yǐ. Huán Hóu suì sǐ.","content_han_viet":"Biển Thước kiến Thái Hoàn Công, lập hữu gian, Biển Thước viết: “Quân hữu tật tại thấu lý, bất trị tương khủng thâm.” Hoàn Hầu viết: “Quả nhân vô tật.” Biển Thước xuất, Hoàn Hầu viết: “Y chi hảo trị bất bệnh dĩ vi công!” Cư thập nhật, Biển Thước phục kiến, viết: “Quân chi bệnh tại cơ phu, bất trị tương ích thâm.” Hoàn Hầu bất ưng. Biển Thước xuất, Hoàn Hầu hựu bất duyệt. Cư thập nhật, Biển Thước phục kiến, viết: “Quân chi bệnh tại tràng vị, bất trị tương ích thâm.” Hoàn Hầu hựu bất ưng. Biển Thước xuất, Hoàn Hầu hựu bất duyệt. Cư thập nhật, Biển Thước vọng Hoàn Hầu nhi hoàn tẩu. Hoàn Hầu cố sử nhân vấn chi, Biển Thước viết: “Tật tại thấu lý, thang úy chi sở cập dã; tại cơ phu, châm thạch chi sở cập dã; tại tràng vị, hỏa tề chi sở cập dã; tại tủy, ti mệnh chi sở thuộc, vô nại hà dã. Kim tại cốt tủy, thần thị dĩ vô thỉnh dã.” Cư ngũ nhật, Hoàn Hầu thể thống, sử nhân sách Biển Thước, dĩ đào Tần hĩ. Hoàn Hầu toại tử.","content_vi":"Ông Biển Thước đến yết kiến Hoàn Hầu nước Tề, đứng ngắm một lát, tâu rằng:\n\nVua có bệnh ở trong bì phu, không chữa sợ sau nặng.\n\nHoàn Hầu bảo:\n\nTa vô bệnh.\n\nBiển thước đi ra.\n\nHoàn Hầu nói:\n\nThầy thuốc này lý tài lắm! Muốn chữa người khỏe để lấy công.\n\nMười hôm sau, Biển Thước vào yết kiến Hoàn Hầu lại nói:\n\nVua có bệnh ở gan ruột, không chữa mau sau khó lòng.\n\nHoàn Hầu không trả lời, còn lấy làm không bằng lòng.\n\nBiển Thước đi ra.\n\nCách mười hôm nữa, Biển Thước lại vào yết kiến Hoàn Hầu, vừa trông thấy, lùi chạy ra ngay.\n\nHoàn Hầu cho người gọi lại hỏi, vì cớ gì mà ra ngay như vậy.\n\nBiển Thước tâu:\n\nBệnh ở bì phu còn châm trích được, bệnh ở gan ruột còn thuốc thang được, bệnh đã vào xương tủy, thì không tài nào chữa được nữa. Bây giờ bệnh nhà vua đã vào đến xương tủy cho nên tôi không dám nói mà phải ra ngay.\n\nNăm hôm sau, Hoàn Hầu phát bệnh, cho tìm Biển Thước, thì Biển Thước đã sang nước Tần rồi. Quả nhiên bệnh Hoàn Hầu không thầy nào chữa được nữa Hoàn Hầu mất.","loi_ban_vi":": Theo y học phương đông thì đối với bệnh nhân: vọng, văn, vấn, thiết là bốn việc cần. Biển Thước là bậc danh y vọng ( trông) mà biết bệnh nhẹ rồi nặng có chi là lạ.\n\nPhàm bệnh gì cũng vậy, lúc mới phát ra, biết mà chữa ngay còn dễ, chớ để lâu ngày, thì rất khó hơn hoặc có khi nguy, không sao chữa được nữa.\n\nSuy rộng ý bài này ra, ta lại có thể lấy việc bệnh tật mà so với việc thân, việc nhà, việc nước, đại khái đều như thế cả. Nghĩa là bất kỳ việc gì, nếu đã gọi là hư hỏng, thì phải sớm biết lo xa ngay đi, hoặc còn chữa chạy được, chớ để lâu ngày quá, đợi khi nước đến chân thì dù có muốn cũng không sao kịp được nữa, vì trễ quá rồi.","giai_nghia":[":","Biển Thước: Thầy thuốc hay có tiếng đời Xuân Thu.","Lý tài: lập cách kiếm tiền","Châm trích: châm: kim lể, trích: lửa đốt","扁鹊: Biển Thước, danh y thời Chiến Quốc, tên thật là Tần Việt Nhân.","蔡桓公: Hoàn Hầu nước Sái (trong sách ghi là Tề, nhưng nguyên tác là Sái).","腠理: Thấu lý, lớp da và cơ bắp.","汤熨: Phép chườm nóng.","针石: Châm cứu và đá châm.","火齐: Thuốc sắc lửa, tức thuốc thang.","司命: Thần coi số mệnh."],"tags":["Biển Thước","Phòng bệnh","Y học","Ẩn dụ"]},{"id":215,"title_vi":"MỘT CÂU ĐOÁN ĐÚNG","title_zh_simp":"一言知亡","title_zh_trad":"一言知亡","title_pinyin":"Yī yán zhī wáng","title_han_viet":"NHẤT NGÔN TRI VONG","title_en":"A Word Foretells Destruction","source_book":"《左传》","source_author":"左丘明","source_period":"春秋","content_zh_simp":"郑子产如陈，莅盟。归，复命，告大夫曰：“陈，亡国也，不可与也。聚禾粟，缮城郭，恃此二者，而不抚其民。其君弱植，公子侈，大夫敖，政多门，以介于大国，能无亡乎？不过十年矣。”后陈果亡。","content_zh_trad":"鄭子產如陳，蒞盟。歸，復命，告大夫曰：“陳，亡國也，不可與也。聚禾粟，繕城郭，恃此二者，而不撫其民。其君弱植，公子侈，大夫敖，政多門，以介於大國，能無亡乎？不過十年矣。”後陳果亡。","content_pinyin":"Zhèng Zǐchǎn rú Chén, lì méng. Guī, fù mìng, gào dàfū yuē: “Chén, wáng guó yě, bù kě yǔ yě. Jù hé sù, shàn chéngguō, shì cǐ èr zhě, ér bù fǔ qí mín. Qí jūn ruò zhí, gōngzǐ chǐ, dàfū ào, zhèng duō mén, yǐ jiè yú dàguó, néng wú wáng hū? Bùguò shí nián yǐ.” Hòu Chén guǒ wáng.","content_han_viet":"Trịnh Tử Sản như Trần, lị minh. Quy, phục mệnh, cáo đại phu viết: “Trần, vong quốc dã, bất khả dữ dã. Tụ hòa túc, thiện thành quách, thị thử nhị giả, nhi bất phủ kỳ dân. Kỳ quân nhược thực, công tử xí, đại phu ngao, chính đa môn, dĩ giới vu đại quốc, năng vô vong hồ? Bất quá thập niên hĩ.” Hậu Trần quả vong.","content_vi":"Ông Tư Sản nước Trịnh sang nước Trần, có việc minh ước.\n\nKhi về, ông tâu mọi việc với vua xong, ông đem chuyện nước Trần nói với các quan rằng:\n\nNước Trần thế nào rồi cũng mất, chẳng nên giao hiếu với nước ấy làm gì.\n\nNay họ chứa nhiều lương thực, họ sửa sang thành quách, họ chỉ cứ cậy hai điều ấy đủ làm yên nước mà chẳng thương gì đến nhân dân. Vua thì không có chí gì là độc lập, thái tử thì hèn yếu, các nhà đại gia thì xa xỉ dâm dật, các quan thì kiêu ngạo, tham tàn, chính quyền thì chia xé, không ai chịu trách nhiệm. Như thế mà ở chen vào giữa các nước lớn, thì tài nào mà còn được.\n\nBất quá mười năm nữa, nước Trần thế nào cũng mất.\n\nSau quả nhiên nước Trần mất thật.","loi_ban_vi":": Một nước mà vua chẳng ra vua, ươn hèn ngu muội, quan chẳng ra quan, tham tàn kiêu xa, để đến nỗi dân khốn cùng, tài khánh kiệt, quân đội liệt nhược, chính sự mục nát, mà chỉ cậy vào cái kho lương đầy, cái thành đắp cao cùng những tờ minh ước của các lân lang thì tài nào nước không mất.\n\nMột nước như Trần đây, thật là tự mình làm cho mình diệt vong trước, rồi nước ngoài mới đến xâm lăng mà diệt đi sau vậy.","giai_nghia":[":","Trịnh: (xem bài số 89)","Trần: tên một nước nhỏ thời Xuân Thu ở vào một phần đất phủ Khai Phong (Hà Nam) và Bạc Châu (An Huy) ngày nay.","子产: Tử Sản, chính trị gia nổi tiếng nước Trịnh thời Xuân Thu.","如陈: đến nước Trần.","莅盟: chủ trì việc minh ước (ký kết liên minh).","亡国: nước sắp mất.","聚禾粟: tích trữ lương thực.","缮城郭: sửa sang thành quách.","弱植: không có chí khí, nhu nhược.","政多门: chính quyền chia rẽ, nhiều phe phái."],"tags":["dự đoán","chính trị","suy vong","Tả Truyện"]},{"id":216,"title_vi":"CÙNG, ĐẠT BỞI SỐ","title_zh_simp":"穷达由数","title_zh_trad":"窮達由數","title_pinyin":"Qióng dá yóu shù","title_han_viet":"CÙNG ĐẠT DO SỐ","title_en":"Poverty and Success Are Determined by Fate","source_book":"《列子》","source_author":"列御寇","source_period":"战国","content_zh_simp":"北宫子谓西门子曰：“朕与子并世也，而人子达；并族也，而人子敬；并貌也，而人子爱；并言也，而人子庸；并行也，而人子诚；并仕也，而人子贵；并农也，而人子富；并商也，而人子利。朕衣则短褐，食则粝粢，居则蓬室，出则徒行。子衣则文锦，食则粱肉，居则连欐，出则结驷。在家熙然有弃朕之心，在朝谔然有敖朕之色。请谒不相及，遨游不同行，固有年矣。子自以德过朕邪？”西门子曰：“予无以知其实。汝造事而穷，予造事而达，此厚薄之验欤？而皆谓予与汝并，汝之颜厚矣。”北宫子无以应，自失而退。中涂遇东郭先生。先生曰：“汝奚往而反，偊偊而步，有深愧之色邪？”北宫子言其状。先生曰：“请平之。子之言厚薄，不过言才德之差，吾之言厚薄，异于是。夫北宫子厚于德，薄于命；汝厚于命，薄于德。汝之达，非智得也；北宫子之穷，非愚失也。皆天也，非人也。而汝以命厚自矜，北宫子以德厚自愧，皆不识夫固然之理矣。”西门子曰：“先生止矣！予不敢复言。”北宫子既归，衣其短褐，有狐貉之温；食其粝粢，有膏粱之味；庇其蓬室，若广厦之荫；乘其筚辂，若文轩之饰。终身逌然，不知荣辱之在彼也，在我也。","content_zh_trad":"北宮子謂西門子曰：“朕與子並世也，而人子達；並族也，而人子敬；並貌也，而人子愛；並言也，而人子庸；並行也，而人子誠；並仕也，而人子貴；並農也，而人子富；並商也，而人子利。朕衣則短褐，食則糲粢，居則蓬室，出則徒行。子衣則文錦，食則粱肉，居則連欐，出則結駟。在家熙然有棄朕之心，在朝諤然有敖朕之色。請謁不相及，遨遊不同行，固有年矣。子自以德過朕邪？”西門子曰：“予無以知其實。汝造事而窮，予造事而達，此厚薄之驗歟？而皆謂予與汝並，汝之顏厚矣。”北宮子無以應，自失而退。中塗遇東郭先生。先生曰：“汝奚往而反，偊偊而步，有深愧之色邪？”北宮子言其狀。先生曰：“請平之。子之言厚薄，不過言才德之差，吾之言厚薄，異於是。夫北宮子厚於德，薄於命；汝厚於命，薄於德。汝之達，非智得也；北宮子之窮，非愚失也。皆天也，非人也。而汝以命厚自矜，北宮子以德厚自愧，皆不識夫固然之理矣。”西門子曰：“先生止矣！予不敢復言。”北宮子既歸，衣其短褐，有狐貉之溫；食其糲粢，有膏粱之味；庇其蓬室，若廣廈之蔭；乘其篳輅，若文軒之飾。終身逌然，不知榮辱之在彼也，在我也。","content_pinyin":"Běigōngzǐ wèi Xīménzǐ yuē: “Zhèn yǔ zǐ bìng shì yě, ér rén zǐ dá; bìng zú yě, ér rén zǐ jìng; bìng mào yě, ér rén zǐ ài; bìng yán yě, ér rén zǐ yōng; bìng xíng yě, ér rén zǐ chéng; bìng shì yě, ér rén zǐ guì; bìng nóng yě, ér rén zǐ fù; bìng shāng yě, ér rén zǐ lì. Zhèn yī zé duǎn hè, shí zé lì zī, jū zé péng shì, chū zé tú xíng. Zǐ yī zé wén jǐn, shí zé liáng ròu, jū zé lián lì, chū zé jié sì. Zài jiā xī rán yǒu qì zhèn zhī xīn, zài cháo è rán yǒu ào zhèn zhī sè. Qǐng yè bù xiāng jí, áo yóu bù tóng xíng, gù yǒu nián yǐ. Zǐ zì yǐ dé guò zhèn xié?” Xīménzǐ yuē: “Yǔ wú yǐ zhī qí shí. Rǔ zào shì ér qióng, yǔ zào shì ér dá, cǐ hòu bó zhī yàn yú? Ér jiē wèi yǔ yǔ rǔ bìng, rǔ zhī yán hòu yǐ.” Běigōngzǐ wú yǐ yìng, zì shī ér tuì. Zhōng tú yù Dōngguō xiānsheng. Xiānsheng yuē: “Rǔ xī wǎng ér fǎn, yǔ yǔ ér bù, yǒu shēn kuì zhī sè xié?” Běigōngzǐ yán qí zhuàng. Xiānsheng yuē: “Qǐng píng zhī. Zǐ zhī yán hòu bó, bùguò yán cái dé zhī chà, wú zhī yán hòu bó, yì yú shì. Fū Běigōngzǐ hòu yú dé, bó yú mìng; rǔ hòu yú mìng, bó yú dé. Rǔ zhī dá, fēi zhì dé yě; Běigōngzǐ zhī qióng, fēi yú shī yě. Jiē tiān yě, fēi rén yě. Ér rǔ yǐ mìng hòu zì jīn, Běigōngzǐ yǐ dé hòu zì kuì, jiē bù shí fū gùrán zhī lǐ yǐ.” Xīménzǐ yuē: “Xiānsheng zhǐ yǐ! Yǔ bù gǎn fù yán.” Běigōngzǐ jì guī, yī qí duǎn hè, yǒu hú hé zhī wēn; shí qí lì zī, yǒu gāo liáng zhī wèi; bì qí péng shì, ruò guǎng shà zhī yìn; chéng qí bì lù, ruò wén xuān zhī shì. Zhōngshēn yōu rán, bù zhī róng rǔ zhī zài bǐ yě, zài wǒ yě.","content_han_viet":"Bắc Cung tử vị Tây Môn tử viết: “Trẫm dữ tử tịnh thế dã, nhi nhân tử đạt; tịnh tộc dã, nhi nhân tử kính; tịnh mạo dã, nhi nhân tử ái; tịnh ngôn dã, nhi nhân tử dung; tịnh hành dã, nhi nhân tử thành; tịnh sĩ dã, nhi nhân tử quý; tịnh nông dã, nhi nhân tử phú; tịnh thương dã, nhi nhân tử lợi. Trẫm y tắc đoản hạt, thực tắc lệ tư, cư tắc bồng thất, xuất tắc đồ hành. Tử y tắc văn cẩm, thực tắc lương nhục, cư tắc liên lệ, xuất tắc kết tứ. Tại gia hân nhiên hữu khí trẫm chi tâm, tại triều ngạc nhiên hữu ngao trẫm chi sắc. Thỉnh yết bất tương cập, ngao du bất đồng hành, cố hữu niên hĩ. Tử tự dĩ đức quá trẫm tà?” Tây Môn tử viết: “Dư vô dĩ tri kỳ thật. Nhữ tạo sự nhi cùng, dư tạo sự nhi đạt, thử hậu bạc chi nghiệm dư? Nhi giai vị dư dữ nhữ tịnh, nhữ chi nhan hậu hĩ.” Bắc Cung tử vô dĩ ứng, tự thất nhi thoái. Trung đồ ngộ Đông Quách tiên sinh. Tiên sinh viết: “Nhữ hề vãng nhi phản, vũ vũ nhi bộ, hữu thâm quý chi sắc tà?” Bắc Cung tử ngôn kỳ trạng. Tiên sinh viết: “Thỉnh bình chi. Tử chi ngôn hậu bạc, bất quá ngôn tài đức chi sai, ngô chi ngôn hậu bạc, dị vu thị. Phù Bắc Cung tử hậu vu đức, bạc vu mệnh; nhữ hậu vu mệnh, bạc vu đức. Nhữ chi đạt, phi trí đắc dã; Bắc Cung tử chi cùng, phi ngu thất dã. Giai thiên dã, phi nhân dã. Nhi nhữ dĩ mệnh hậu tự căng, Bắc Cung tử dĩ đức hậu tự quý, giai bất thức phù cố nhiên chi lý hĩ.” Tây Môn tử viết: “Tiên sinh chỉ hĩ! Dư bất cảm phục ngôn.” Bắc Cung tử ký quy, y kỳ đoản hạt, hữu hồ hác chi ôn; thực kỳ lệ tư, hữu cao lương chi vị; tế kỳ bồng thất, nhược quảng hạ chi ấm; thừa kỳ tất lộ, nhược văn hiên chi sức. Chung thân du nhiên, bất tri vinh nhục chi tại bỉ dã, tại ngã dã.","content_vi":"Bắc Cung Tử hỏi Tây Môn Tử rằng:\n\nTôi với bác cùng một thời mà người ta quý bác cùng một họ mà người ta kính bác, cùng làm quan mà bác sang hơn tôi, cùng làm ruộng mà bác giàu hơn tôi, cùng đi buôn mà bác lắm lời hơn tôi. Tôi mặc, phải mặc áo cộc, ăn phải ăn gạo hẩm, ở thì một túp nhà tranh, đi thì đi chân không. Bác thì mặc những gầm vóc, ăn những thịt, cá, ở thì gác tía lầu hồng, đi thì đi xe xe ngựa ngựa. Ở nhà, thì coi bác ra lạt lẽo có bụng khinh tôi, trong triều thì coi ra bộ hơn hớn có dáng vẻ khinh tôi. Bác với tôi chẳng hỏi han đến nhau, chẳng chơi bời với nhau đã mấy năm nay rồi, vậy thì bác tự cho là bác tài đức hơn tôi chăng?\n\nTây Môn Tử đáp:\n\nTôi cũng không rõ thật tôi hơn được bác không. Nhưng bác làm việc gì cũng vấp váp, tôi là việc gì cũng thanh thản. Đó có phải là cái trưng nghiệm tài đức hơn kém nhau chăng? Bác lại nói điều gì cũng bằng tôi, chằng đáng thẹn lằm ư!\n\nBắc Cung Tử không biết nói sao nữa, ngậm ngùi ra về. Giữa đường gặp Đông Quách tiên sinh, tiên sinh hỏi:\n\nAnh này đi đâu về? Coi mặt sao buồn thế?\n\nBắc Cung Tử thuật lại câu chuyện kia.\n\nTiên sinh bảo:\n\nĐược, để ta gỡ khỏi xấu hổ cho.\n\nRồi tiên sinh cùng đi với Bắc Môn Tử đến nhà Tây Môn Tử, hỏi rằng:\n\nSao anh nói nhục Bắc Cung Tử tệ thế? Anh nói gì, kể lại tôi nghe.\n\nTây Môn Tử đáp:\n\nHắn nói kể về họ hàng, đi làm quan, đi buôn làm ruộng thì hắn cũng bằng như tôi mà sao giàu, nghèo sang hèn thì lại khác hẳn tôi. Tôi bảo rằng : tôi cũng không chắc tôi tài đức hơn gì hắn, nhưng cứ so cái việc của hắn làm hay vấp váp, cái việc của tôi làm được thanh thản, thì tức là cái trưng nghiệm hơn kém nhau mà hắn lại cứ nói việc gì cũng như tôi chẳng là xấu hổ lắm ru?\n\nĐông Quách tiên sinh nói:\n\nAnh nói hơn với kém chẳng qua chỉ nói hơn kém bề ngoài, chớ ta mà nói hơn với kém thì lại khác. Bắc Cung Tử hơn anh về cái đức mà kém anh về cái số phận, còn anh thì số phận hơn Bắc Cung Tử nhưng đức lại kém. Anh gặp may mà đạt không phải anh có khôn gì. Bắc Cung Tử bị rủi mà cùng cũng không phải có dại gì. Sự may rủi đó đều bởi trời cả không phải bới người.\n\nVậy mà anh dám hợm mình về số phận của anh, còn Bắc Cung Tử thì lại tủi về tài đức của mình, hai anh đều là không biết cái lẽ tự nhiên cả.\n\nTây Môn Tử nghe nói, chịu là phải bảo rằng:\n\nThôi, xin lỗi tiên sinh, từ rày tôi không dám nói vậy nữa.\n\nBắc Cung Tử cũng tỉnh ngộ ra. Khi về nhà, mặc cái áo vải cộc mà coi ấm áo như áo lông cừu, ăn cơm gạo hẩm mà coi ngon như gạo tám thơm, ở nhà tranh mà coi rộng như nhà ba tần, đi dép cỏ mà coi sung sướng như ngồi xe ngựa. Trọn đời lúc nào cũng vui sướng trong lòng, không biết cái vinh cái nhục là gì nữa.","loi_ban_vi":": Bắc Cung Tử hỏi Tây Môn Tử là có ý không phục Tây Môn Tử. Nghĩ đáng giận thật: cái gì mình cũng bằng người ta mà sao lại kém người ta? Còn Tây Môn Tử đáp Bắc Cung Tử thế là lên mặt hơn người ta, tất là có cớ làm sao chứ? Thành ra một người cậy cậy tài đức hơn mà bực mình, một người cậy vận mệnh hơn người mà lên mặt. Ấy ở đời tài đức và mệnh vận thường vẫn không đi đôi với nhau: có tài đức mà phải kém người không tài đức mà được số hơn người. Ai giải cho ta cái lẽ ấy? Đông Quách Tiên sinh, mà tức là tác giả cho rằng: Chẳng qua là do ở số phận mà số phận là do ở trời định, người ta không thể sao cãi được. Thực hợp với câu cổ ngữ “May hơn khôn” của ta đó. Vậy ở đời hơn kém nhau là tại số phận cả. Nếu ta đã biết thế, thì ta hơn người ta cũng chẳng nên khinh người vì ta hơn là hơn về cái may, chớ vị tất đã hơn về cái tài đức. Còn ta cảnh ngộ mà kém người, ta cũng chẳng nên phàn nàn, vì phàn nàn vô ích mà tâm ta lại phải cái cảnh ngoài là cho lụy mà thôi.","giai_nghia":[": Thanh thản thông suốt bằng phẳng, không có gì trở ngại.","Trưng nghiệm: việc có chứng cứ rõ ràng thật.","Đạt: làm nên vẻ vang sung sướng.","Cùng: không làm nên gì, khốn khó nghèo khổ.","Tỉnh ngộ: đương mê muội mà hiểu rõ, rồi tự biết đã lầm.","北宫子: Bắc Cung Tử, nhân vật tưởng tượng.","西门子: Tây Môn Tử, nhân vật tưởng tượng.","东郭先生: Đông Quách tiên sinh, nhân vật tưởng tượng.","朕: từ xưng hô thời cổ, tôi.","并世: cùng thời đại.","短褐: áo vải thô ngắn.","粝粢: cơm gạo thô.","蓬室: nhà tranh.","文锦: gấm vóc hoa văn.","连欐: nhà cao cửa rộng.","结驷: xe bốn ngựa.","敖: kiêu ngạo.","厚薄: dày mỏng, chỉ sự ưu đãi của trời.","穷达: cùng đạt, khốn cùng và thành đạt.","狐貉: hồ ly và lửng, lông thú quý.","膏粱: thức ăn ngon.","广厦: nhà rộng.","文轩: xe trang trí đẹp.","逌然: thong dong, tự tại."],"tags":["số phận","đức hạnh","triết lý","Liệt Tử"]},{"id":217,"title_vi":"THƯ VIẾT RĂN CON","title_zh_simp":"诫子书","title_zh_trad":"誡子書","title_pinyin":"Jiè zǐ shū","title_han_viet":"GIỚI TỬ THƯ","title_en":"Letter to Admonish My Son","source_book":"《诸葛亮集》","source_author":"Gia Cát Lượng","source_period":"Tam Quốc","content_zh_simp":"夫君子之行，静以修身，俭以养德。非淡泊无以明志，非宁静无以致远。夫学须静也，才须学也。非学无以广才，非静无以成学。慆慢则不能励精，险躁则不能治性。年与时驰，意与日去，遂成枯落，多不接世，悲守穷庐，将复何及！","content_zh_trad":"夫君子之行，靜以修身，儉以養德。非淡泊無以明志，非寧靜無以致遠。夫學須靜也，才須學也。非學無以廣才，非靜無以成學。慆慢則不能勵精，險躁則不能治性。年與時馳，意與日去，遂成枯落，多不接世，悲守窮廬，將復何及！","content_pinyin":"Fú jūnzǐ zhī xíng, jìng yǐ xiūshēn, jiǎn yǐ yǎng dé. Fēi dànbó wúyǐ míng zhì, fēi níngjìng wúyǐ zhì yuǎn. Fú xué xū jìng yě, cái xū xué yě. Fēi xué wúyǐ guǎng cái, fēi jìng wúyǐ chéng xué. Tāo màn zé bùnéng lì jīng, xiǎn zào zé bùnéng zhì xìng. Nián yǔ shí chí, yì yǔ rì qù, suì chéng kū luò, duō bù jiē shì, bēi shǒu qióng lú, jiāng fù hé jí!","content_han_viet":"PHÙ QUÂN TỬ CHI HÀNH, TĨNH DĨ TU THÂN, KIỆM DĨ DƯỠNG ĐỨC. PHI ĐẠM BẠC VÔ DĨ MINH CHÍ, PHI NINH TĨNH VÔ DĨ TRÍ VIỄN. PHÙ HỌC TU TĨNH DÃ, TÀI TU HỌC DÃ. PHI HỌC VÔ DĨ QUẢNG TÀI, PHI TĨNH VÔ DĨ THÀNH HỌC. THAO MẠN TẮC BẤT NĂNG LỆ TINH, HIỂM TÁO TẮC BẤT NĂNG TRỊ TÍNH. NIÊN DỮ THỜI TRÌ, Ý DỮ NHẬT KHỨ, TOẠI THÀNH KHÔ LẠC, ĐA BẤT TIẾP THẾ, BI THỦ CÙNG LÔ, TƯƠNG PHỤC HÀ CẬP!","content_vi":"“... Việc làm của người quân tử: tĩnh để tu tỉnh lấy thân, kiệm để bồi dưỡng lấy đức. Nếu không đạm bạc thì không thể nào nào sáng được cái chí. Nếu không ninh tĩnh thì không thể nào đi đến được xa.\n\nLấy lý mà nói: muốn học cần phải tĩnh, có tài cần phải học. Không học, thì không rộng được tài, không tĩnh thì không thành được học. Lười biếng khinh mạn thì chẳng thể biết được tường. Hiểm hóc táo bạo thì chẳng thể sửa được tính.\n\nMột năm một tuổi, mỗi tuổi mỗi kém, rồi thành ra con người khô héo, dài thở vắn than trong chỗ xó nhà, bấy giờ mới hối còn sao kịp nữa...”\n\nGia Cát Lượng","loi_ban_vi":": Có những thói xấu như nông nổi, nóng nảy, thô thiển, khinh bạc, người thường còn hại vừa, người thông minh hại mới càng nặng. Hại nặng nghĩa là thiệt đời tài hoa như không. Cho nên Khổng Minh dạy con phải theo gương quân tử ngay từ thưở còn ít tuổi cho thành thói quen. Quân Tử dùng cách gì để tu thân, để dưỡng sức, để có tài năng, để thành học nghiệp, để rộng được trí thức, để gánh vác được công việc trọng đại ở đời. Ông nói tóm tắt mà rất phân minh. Câu “Một năm một tuổi...” lại càng thống thiết. Ý ông lại còn mong cho con làm thế nào để cho tư tưởng cùng ăn nhịp với thời đại mà một ngày một tiến bộ mãi lên, chớ đừng để tư tưởng cứ cùng theo tuổi lão đại mà cằn cỗi dần thì ươn hèn lắm. Nói tóm: ông chú ý mong con sao cho thành người đừng để sau hỗi mà lỡ hóa ra con người sống thừa ở đời vậy","giai_nghia":[":","Gia Cát Lượng: người đời Tam Quốc, tự là Khổng Minh, trước ẩn ở Nam Dương, sau giúp Lưu Huyền Đức làm tướng trị nước Thục. Ông là người trí mưu trung nghĩa có tiếng ở nước Tàu.","淡泊: đạm bạc, thanh đạm, không màng danh lợi.","宁静: yên tĩnh, tập trung, không bị xao động.","慆慢: lười biếng, khinh mạn.","险躁: hiểm hóc, táo bạo, nóng nảy.","枯落: khô héo, úa tàn, chỉ sự già cỗi, vô dụng."],"tags":["Gia Cát Lượng","Giáo dục","Tu thân","Khuyên con"]},{"id":218,"title_vi":"VIẾT THƯ KHUYÊN BẠN","title_zh_simp":"与友人书","title_zh_trad":"與友人書","title_pinyin":"Yǔ yǒurén shū","title_han_viet":"DỮ HỮU NHÂN THƯ","title_en":"Letter to a Friend","source_book":"《呻吟语》","source_author":"Trần Kế Nho","source_period":"Minh triều","content_zh_simp":"浑然无善无恶者，性之天也。好善恶恶者，性之情也。舍善从恶者，习之染也，日以益下。改恶为善者，修之工也，日以益上。善恶自审，勿自欺。此圣贤捷径，即幽冥功过簿也。当自勉，当自励。","content_zh_trad":"渾然無善無惡者，性之天也。好善惡惡者，性之情也。捨善從惡者，習之染也，日以益下。改惡為善者，修之工也，日以益上。善惡自審，勿自欺。此聖賢捷徑，即幽冥功過簿也。當自勉，當自勵。","content_pinyin":"Húnrán wú shàn wú è zhě, xìng zhī tiān yě. Hào shàn wù è zhě, xìng zhī qíng yě. Shě shàn cóng è zhě, xí zhī rǎn yě, rì yǐ yì xià. Gǎi è wéi shàn zhě, xiū zhī gōng yě, rì yǐ yì shàng. Shàn è zì shěn, wù zì qī. Cǐ shèngxián jiéjìng, jí yōumíng gōngguò bù yě. Dāng zì miǎn, dāng zì lì.","content_han_viet":"HỒN NHIÊN VÔ THIỆN VÔ ÁC GIẢ, TÍNH CHI THIÊN DÃ. HẢO THIỆN Ố ÁC GIẢ, TÍNH CHI TÌNH DÃ. XẢ THIỆN TÒNG ÁC GIẢ, TẬP CHI NHIỄM DÃ, NHẬT DĨ ÍCH HẠ. CẢI ÁC VI THIỆN GIẢ, TU CHI CÔNG DÃ, NHẬT DĨ ÍCH THƯỢNG. THIỆN ÁC TỰ THẨM, VẬT TỰ KHI. THỬ THÁNH HIỀN TIỆP KÍNH, TỨC U MINH CÔNG QUÁ BỘ DÃ. ĐƯƠNG TỰ MIỄN, ĐƯƠNG TỰ LỆ.","content_vi":"“…Hồn nhiên, không thiện, không ác là tính trời bẩm sinh.\n\nThích thiện ghét ác là tính người muốn thế.\n\nBỏ thiện, theo ác là tập nhiễm thói xấu một ngày một dở.\n\nĐổi ác, làm thiện là công phu tu tỉnh một ngày một hay.\n\nHay, dở tự mình xét lấy mình, chớ tự mình dối mình.\n\nĐó là con đường tắt thánh hiền dạy ta mà tức là cái sổ ghi công, chép tội trong chốn u minh vậy.\n\nTa nên cố sức. Ta nên hết sức…”\n\nTrần Kế Nho","loi_ban_vi":"Cứ theo như ý tác giả thì người ta sinh vốn không thiện, không ác ai cũng muốn thích thiện ghét ác. Tuy nhiên, cái trò tập giữ tính thành bỏ thiện theo ác hay đổi ác ra thiện, cái tính nó bắt vào rồi thành quen đi, không sửa đổi được. Cho nên tác giả khuyên ta phải gắng công tu tỉnh cho mỗi ngày một hay, mà muốn tu tỉnh, không gì bằng tự mình phải rất nghiêm với mình để hàng ngày tự trị cho trở nên con người ra người.","giai_nghia":["Trần Kế Nho: người đời nhà Minh tức là Trần Mị Công tài cao, học rộng trước thuật rất nhiều. Ông ẩn cư dạy học, mấy lần vua triệu ra làm quan cũng không chịu ra.","浑然: hồn nhiên, thuần phác, chưa bị tác động.","好善恶恶: thích thiện, ghét ác.","舍善从恶: bỏ thiện theo ác.","改恶为善: đổi ác làm thiện.","幽冥功过簿: sổ ghi công tội ở cõi âm."],"tags":["Trần Kế Nho","Tu thân","Khuyên bạn","Thiện ác"]},{"id":219,"title_vi":"THƯ VIẾT CHO BẠN","title_zh_simp":"与友人书","title_zh_trad":"與友人書","title_pinyin":"Yǔ yǒurén shū","title_han_viet":"DỮ HỮU NHÂN THƯ","title_en":"A Letter to a Friend","source_book":"《鹤山笔录》","source_author":"钱鹤滩","source_period":"明代","content_zh_simp":"天下有两难：登天难，求人更难。天下有两苦：黄连苦，贫穷更苦。人间有两薄：春冰薄，人情更薄。人间有两险：江湖险，人心更险。知其难，忍其苦，耐其薄，测其险，方可处世。","content_zh_trad":"天下有兩難：登天難，求人更難。天下有兩苦：黃連苦，貧窮更苦。人間有兩薄：春冰薄，人情更薄。人間有兩險：江湖險，人心更險。知其難，忍其苦，耐其薄，測其險，方可處世。","content_pinyin":"Tiānxià yǒu liǎng nán: dēng tiān nán, qiú rén gèng nán. Tiānxià yǒu liǎng kǔ: huánglián kǔ, pínqióng gèng kǔ. Rénjiān yǒu liǎng bó: chūn bīng bó, rénqíng gèng bó. Rénjiān yǒu liǎng xiǎn: jiānghú xiǎn, rénxīn gèng xiǎn. Zhī qí nán, rěn qí kǔ, nài qí bó, cè qí xiǎn, fāng kě chǔshì.","content_han_viet":"Thiên hạ hữu lưỡng nan: đăng thiên nan, cầu nhân cánh nan. Thiên hạ hữu lưỡng khổ: hoàng liên khổ, bần cùng cánh khổ. Nhân gian hữu lưỡng bạc: xuân băng bạc, nhân tình cánh bạc. Nhân gian hữu lưỡng hiểm: giang hồ hiểm, nhân tâm cánh hiểm. Tri kỳ nan, nhẫn kỳ khổ, nại kỳ bạc, trắc kỳ hiểm, phương khả xử thế.","content_vi":"Trong thiên hạ có hai cái khó: lên trời khó, mà cầu cậy nhờ vả người càng khó hơn.\n\nTrong thiên hạ có hai cái đắng: hoàng liên đắng, mà nghèo kiết khốn cùng càng đắng hơn.\n\nNhân gian có hai cái mỏng: giá mùa xuân mỏng mà thói đời càng mỏng hơn.\n\nNhân gian có hai cái hiểm: núi sông hiểm mà lòng người càng hiểm hơn.\n\nBiết được cái khó, chịu được cái đắng, quen được cái mỏng, dò được cái hiểm mới có thể ở đời được.\n\nTiền Hạc Than","loi_ban_vi":"Biết được cái khó, là người có chí tự lập không làm phiền ai; chịu được cái đắng, là người có tâm kiên nhẫm, cố làm nên việc; quen được cái mỏng là người có bụng đại độ bao dung được đời; dò được cái hiểm là người có trí tinh khôn thấu được nhân tình thế thái. Ở đời mà có được bốn điều ấy, thì giao thiệp với ai mà chẳng được, làm công việc gì mà chẳng nên.","giai_nghia":["黄连: một loại thảo dược rất đắng, tượng trưng cho sự khổ cực.","春冰: băng mùa xuân, mỏng manh dễ vỡ, ví với sự bạc bẽo của nhân tình."],"tags":["Nhân sinh","Xử thế","Khó khăn","Lòng người"]},{"id":220,"title_vi":"THAM THÌ CHẾT","title_zh_simp":"贪则亡","title_zh_trad":"貪則亡","title_pinyin":"Tān zé wáng","title_han_viet":"THAM TẮC VONG","title_en":"Greed Leads to Ruin","source_book":"《左传》","source_author":"左丘明","source_period":"春秋","content_zh_simp":"虞叔有玉，虞公求之，弗献。既而悔之，曰：“周谚有之：‘匹夫无罪，怀璧其罪。’吾焉用此，其以贾害也。”乃献之。又求其宝剑，叔曰：“是无厌也。无厌，将及我。”遂伐虞公，虞公出奔共池。","content_zh_trad":"虞叔有玉，虞公求之，弗獻。既而悔之，曰：“周諺有之：‘匹夫無罪，懷璧其罪。’吾焉用此，其以賈害也。”乃獻之。又求其寶劍，叔曰：“是無厭也。無厭，將及我。”遂伐虞公，虞公出奔共池。","content_pinyin":"Yú Shū yǒu yù, Yú Gōng qiú zhī, fú xiàn. Jì ér huǐ zhī, yuē: “Zhōu yàn yǒu zhī: ‘Pǐfū wú zuì, huái bì qí zuì.’ Wú yān yòng cǐ, qí yǐ gǔ hài yě.” Nǎi xiàn zhī. Yòu qiú qí bǎojiàn, Shū yuē: “Shì wú yàn yě. Wú yàn, jiāng jí wǒ.” Suì fá Yú Gōng, Yú Gōng chū bēn Gòngchí.","content_han_viet":"Ngu Thúc hữu ngọc, Ngu Công cầu chi, phất hiến. Ký nhi hối chi, viết: “Chu ngạn hữu chi: ‘Thất phu vô tội, hoài bích kỳ tội.’ Ngô yên dụng thử, kỳ dĩ cổ hại dã.” Nãi hiến chi. Hựu cầu kỳ bảo kiếm, Thúc viết: “Thị vô yếm dã. Vô yếm, tương cập ngã.” Toại phạt Ngu Công, Ngu Công xuất bôn Cung Trì.","content_vi":"Ngu Thúc có viên ngọc. Ngu Công nghe tiếng muốn lấy, sai người đến cầu.\n\nNgu Thúc trước không chịu cho. Sau hối lại nói rằng:\n\n- Tục ngữ có câu: “Kẻ thường dân vốn không có tội chỉ vì có ngọc bích mà thành có tội”. ta giữ làm gì hòn ngọc này? Thật là mua tai vạ vào mình.\n\nRồi liền đem ngọc dâng cho Ngu Công.\n\nNgu Công đã lấy được ngọc, nghe Ngu Thúc còn thanh gươm báu, muốn lấy nốt, lại cho người đến cầu thanh gươm ấy.\n\nNgu Thúc giận quá, nói:\n\n- Ngu Công trưng cầu hết cái này, lại đến cái khác. Thật là người vô yêm!\n\nĐã là vô yêm, thì tất có ngày hạ cả đến thân ta nữa.\n\nNói rồi đem quân đi đánh Ngu Công.\n\nNgu Công thua chạy ra đất Cung Trì.\n\nTả truyện","loi_ban_vi":"Lòng tham không đáy là nguồn gốc của mọi tai họa. Người biết đủ thì thân an, kẻ tham lam tất bại vong. Ở đời nên biết dừng đúng lúc, đừng để dục vọng che mờ lý trí mà chuốc lấy họa vào thân.","giai_nghia":["Câu tục ngữ: “Kẻ thường dân…” chính chữ Hán là: “Thất phu vô tội, hoài bích kỳ tội”.","Ngọc bích: thứ ngọc quý, hình tròn có lỗ","Vô yêm: muốn lấy cho nhiều, không biết thế nào là vừa là chán.","虞叔: em trai Ngu Công, nhân vật trong Tả truyện.","怀璧其罪: câu ngạn ngữ, ý nói người thường vô tội nhưng vì có của báu mà mang tội."],"tags":["Tham lam","Họa diệt thân","Biết đủ","Nhân quả"]},{"id":221,"title_vi":"THAM VÌ BỊ HẠI","title_zh_simp":"贪小失大","title_zh_trad":"貪小失大","title_pinyin":"Tān xiǎo shī dà","title_han_viet":"THAM TIỂU THẤT ĐẠI","title_en":"Greed for Small Gains Leads to Great Loss","source_book":"《劉子》","source_author":"Lưu Trú (劉晝)","source_period":"Bắc Tề","content_zh_simp":"昔蜀侯性贪，秦惠王闻而欲伐之。山涧峻险，兵路不通。乃琢石为牛，多与金日置牛后，号曰“牛遗金”，使人与蜀侯。蜀侯贪以为己有，乃凿山填谷，遣五丁力士以迎石牛。秦人帅师随后而至，灭蜀侯，因杀之。蜀侯贪小利而亡国，为天下笑。岂非贪小利而失大利者乎？","content_zh_trad":"昔蜀侯性貪，秦惠王聞而欲伐之。山澗峻險，兵路不通。乃琢石為牛，多與金日置牛後，號曰「牛遺金」，使人與蜀侯。蜀侯貪以為己有，乃鑿山填谷，遣五丁力士以迎石牛。秦人帥師隨後而至，滅蜀侯，因殺之。蜀侯貪小利而亡國，為天下笑。豈非貪小利而失大利者乎？","content_pinyin":"Xī Shǔ hóu xìng tān, Qín Huì wáng wén ér yù fá zhī. Shān jiàn jùn xiǎn, bīng lù bù tōng. Nǎi zhuó shí wéi niú, duō yǔ jīn rì zhì niú hòu, hào yuē “niú yí jīn”, shǐ rén yǔ Shǔ hóu. Shǔ hóu tān yǐ wéi jǐ yǒu, nǎi záo shān tián gǔ, qiǎn wǔ dīng lì shì yǐ yíng shí niú. Qín rén shuài shī suí hòu ér zhì, miè Shǔ hóu, yīn shā zhī. Shǔ hóu tān xiǎo lì ér wáng guó, wéi tiān xià xiào. Qǐ fēi tān xiǎo lì ér shī dà lì zhě hū?","content_han_viet":"Tích Thục hầu tính tham, Tần Huệ vương văn nhi dục phạt chi. Sơn giản tuấn hiểm, binh lộ bất thông. Nãi trác thạch vi ngưu, đa dữ kim nhật trí ngưu hậu, hiệu viết “ngưu di kim”, sử nhân dữ Thục hầu. Thục hầu tham dĩ vi kỷ hữu, nãi tạc sơn điền cốc, khiển ngũ đinh lực sĩ dĩ nghênh thạch ngưu. Tần nhân suất sư tùy hậu nhi chí, diệt Thục hầu, nhân sát chi. Thục hầu tham tiểu lợi nhi vong quốc, vi thiên hạ tiếu. Khởi phi tham tiểu lợi nhi thất đại lợi giả hồ?","content_vi":"Vua nước Thục có tính tham lam.\n\nVua Huệ Vương nước Tần muốn đánh, nhưng ngặt vì khe núi hiểm trở, khó đem quân đi lắm.\n\nHuệ Vương bèn sai lấy đá tạc hình con trâu đem để gần địa giới nước Thục, mỗi ngày bỏ vàng vào chỗ sau đuôi trâu và bảo người nói phao lên rằng: “Trâu vãi ra vàng”.\n\nTiếng đồn ấy đến tai vua Thục. Vua Thục liền sai xẻ núi, lấy khe và cho năm người lực sĩ vào rừng kéo con trâu về.\n\nHuệ Vương sẵn lối đi, đem quân tiến đến cướp được nước Thục.\n\nVua Thục vừa mất nước, vừa hại cả mình để làm trò cười cho thiên hạ. Thế chẳng tại vì tham chút lợi nhỏ mà mất cái lợi to ư?","loi_ban_vi":"Tạc hình trâu đá, bỏ vàng vào chỗ sau đuôi trâu để bảo rằng trâu đá vãi ra vàng, cái mưu của Tần Vương rất là sâu. Tin rằng trâu đã vãi ra vàng, thật cái trí của Thục Vương rất là khờ, lại sai người đánh đường để lấy trộm trâu đá, cái bụng của Thục Vương quả là tham. Đã khờ, đã tham mà lại gặp nhiều sâu xa hiểm hóc bày mưu để đánh lừa, thì chẳng mất nước, chẳng hại mình sao được. Than ôi! “Điều tham thực nhi vong, nhân tham tài nhi tử” cái lẽ xưa nay bao giờ cũng thế.","giai_nghia":["Thục: tên nước thời Chiến Quốc, sau nhà Tần diệt mất, tức là Tứ Xuyên ngày nay.","Tần: nước mạnh thời Chiến Quốc, ở vào Tân Châu (Cam Túc) và Thiểm Tây ngày nay.","蜀侯: Vua nước Thục, một nước chư hầu thời Chiến Quốc.","秦惠王: Tần Huệ Vương, vua nước Tần (356-311 TCN).","五丁力士: Năm người lực sĩ huyền thoại của nước Thục.","石牛: Con trâu đá, biểu tượng của mưu kế lừa dối."],"tags":["tham lam","mưu kế","mất nước","bài học"]},{"id":222,"title_vi":"PHÂN TÍCH KHÔNG RÕ","title_zh_simp":"非攻上","title_zh_trad":"非攻上","title_pinyin":"Fēi Gōng Shàng","title_han_viet":"PHI CÔNG THƯỢNG","title_en":"Against Offensive Warfare I","source_book":"《墨子》","source_author":"Mặc Tử (墨子)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"今有一人，入人园圃，窃其桃李，众闻则非之，上为政者得则罚之。此何也？以亏人自利也。至攘人犬豕鸡豚者，其不义又甚入人园圃窃桃李。是何故也？以亏人愈多，其不仁兹甚，罪益厚。至入人栏厩，取人马牛者，其不义又甚攘人犬豕鸡豚。此何故也？以其亏人愈多。苟亏人愈多，其不仁兹甚，罪益厚。至杀不辜人也，拖其衣裘，取戈剑者，其不义又甚入人栏厩取人马牛。此何故也？以其亏人愈多。苟亏人愈多，其不仁兹甚矣，罪益厚。当此，天下之君子皆知而非之，谓之不义。今至大为攻国，则弗知非，从而誉之，谓之义。此可谓知义与不义之别乎？杀一人，谓之不义，必有一死罪矣。若以此说往，杀十人，十重不义，必有十死罪矣；杀百人，百重不义，必有百死罪矣。当此，天下之君子皆知而非之，谓之不义。今至大为不义攻国，则弗知非，从而誉之，谓之义。情不知其不义也，故书其言以遗后世；若知其不义也，夫奚说书其不义以遗后世哉？今有人于此，少见黑曰黑，多见黑曰白，则以此人不知白黑之辩矣；少尝苦曰苦，多尝苦曰甘，则必以此人为不知甘苦之辩矣。今小为非，则知而非之；大为非攻国，则不知非，从而誉之，谓之义。此可谓知义与不义之辩乎？是以知天下之君子也，辩义与不义之乱也。","content_zh_trad":"今有一人，入人園圃，竊其桃李，眾聞則非之，上為政者得則罰之。此何也？以虧人自利也。至攘人犬豕雞豚者，其不義又甚入人園圃竊桃李。是何故也？以虧人愈多，其不仁茲甚，罪益厚。至入人欄廄，取人馬牛者，其不義又甚攘人犬豕雞豚。此何故也？以其虧人愈多。苟虧人愈多，其不仁茲甚，罪益厚。至殺不辜人也，拖其衣裘，取戈劍者，其不義又甚入人欄廄取人馬牛。此何故也？以其虧人愈多。苟虧人愈多，其不仁茲甚矣，罪益厚。當此，天下之君子皆知而非之，謂之不義。今至大為攻國，則弗知非，從而譽之，謂之義。此可謂知義與不義之別乎？殺一人，謂之不義，必有一死罪矣。若以此說往，殺十人，十重不義，必有十死罪矣；殺百人，百重不義，必有百死罪矣。當此，天下之君子皆知而非之，謂之不義。今至大為不義攻國，則弗知非，從而譽之，謂之義。情不知其不義也，故書其言以遺後世；若知其不義也，夫奚說書其不義以遺後世哉？今有人於此，少見黑曰黑，多見黑曰白，則以此人不知白黑之辯矣；少嘗苦曰苦，多嘗苦曰甘，則必以此人為不知甘苦之辯矣。今小為非，則知而非之；大為非攻國，則不知非，從而譽之，謂之義。此可謂知義與不義之辯乎？是以知天下之君子也，辯義與不義之亂也。","content_pinyin":"Jīn yǒu yī rén, rù rén yuán pǔ, qiè qí táo lǐ, zhòng wén zé fēi zhī, shàng wéi zhèng zhě dé zé fá zhī. Cǐ hé yě? Yǐ kuī rén zì lì yě. Zhì rǎng rén quǎn shǐ jī tún zhě, qí bù yì yòu shèn rù rén yuán pǔ qiè táo lǐ. Shì hé gù yě? Yǐ kuī rén yù duō, qí bù rén zī shèn, zuì yì hòu. Zhì rù rén lán jiù, qǔ rén mǎ niú zhě, qí bù yì yòu shèn rǎng rén quǎn shǐ jī tún. Cǐ hé gù yě? Yǐ qí kuī rén yù duō. Gǒu kuī rén yù duō, qí bù rén zī shèn, zuì yì hòu. Zhì shā bù gū rén yě, tuō qí yī qiú, qǔ gē jiàn zhě, qí bù yì yòu shèn rù rén lán jiù qǔ rén mǎ niú. Cǐ hé gù yě? Yǐ qí kuī rén yù duō. Gǒu kuī rén yù duō, qí bù rén zī shèn yǐ, zuì yì hòu. Dāng cǐ, tiān xià zhī jūn zǐ jiē zhī ér fēi zhī, wèi zhī bù yì. Jīn zhì dà wéi gōng guó, zé fú zhī fēi, cóng ér yù zhī, wèi zhī yì. Cǐ kě wèi zhī yì yǔ bù yì zhī bié hū? Shā yī rén, wèi zhī bù yì, bì yǒu yī sǐ zuì yǐ. Ruò yǐ cǐ shuō wǎng, shā shí rén, shí chóng bù yì, bì yǒu shí sǐ zuì yǐ; shā bǎi rén, bǎi chóng bù yì, bì yǒu bǎi sǐ zuì yǐ. Dāng cǐ, tiān xià zhī jūn zǐ jiē zhī ér fēi zhī, wèi zhī bù yì. Jīn zhì dà wéi bù yì gōng guó, zé fú zhī fēi, cóng ér yù zhī, wèi zhī yì. Qíng bù zhī qí bù yì yě, gù shū qí yán yǐ yí hòu shì; ruò zhī qí bù yì yě, fū xī shuō shū qí bù yì yǐ yí hòu shì zāi? Jīn yǒu rén yú cǐ, shǎo jiàn hēi yuē hēi, duō jiàn hēi yuē bái, zé yǐ cǐ rén bù zhī bái hēi zhī biàn yǐ; shǎo cháng kǔ yuē kǔ, duō cháng kǔ yuē gān, zé bì yǐ cǐ rén wéi bù zhī gān kǔ zhī biàn yǐ. Jīn xiǎo wéi fēi, zé zhī ér fēi zhī; dà wéi fēi gōng guó, zé bù zhī fēi, cóng ér yù zhī, wèi zhī yì. Cǐ kě wèi zhī yì yǔ bù yì zhī biàn hū? Shì yǐ zhī tiān xià zhī jūn zǐ yě, biàn yì yǔ bù yì zhī luàn yě.","content_han_viet":"Kim hữu nhất nhân, nhập nhân viên phố, thiết kỳ đào lý, chúng văn tắc phi chi, thượng vi chính giả đắc tắc phạt chi. Thử hà dã? Dĩ khuy nhân tự lợi dã. Chí nhương nhân khuyển thỉ kê đồn giả, kỳ bất nghĩa hựu thậm nhập nhân viên phố thiết đào lý. Thị hà cố dã? Dĩ khuy nhân dụ đa, kỳ bất nhân tư thậm, tội ích hậu. Chí nhập nhân lan cứu, thủ nhân mã ngưu giả, kỳ bất nghĩa hựu thậm nhương nhân khuyển thỉ kê đồn. Thử hà cố dã? Dĩ kỳ khuy nhân dụ đa. Cẩu khuy nhân dụ đa, kỳ bất nhân tư thậm, tội ích hậu. Chí sát bất cô nhân dã, tha kỳ y cầu, thủ qua kiếm giả, kỳ bất nghĩa hựu thậm nhập nhân lan cứu thủ nhân mã ngưu. Thử hà cố dã? Dĩ kỳ khuy nhân dụ đa. Cẩu khuy nhân dụ đa, kỳ bất nhân tư thậm hĩ, tội ích hậu. Đương thử, thiên hạ chi quân tử giai tri nhi phi chi, vị chi bất nghĩa. Kim chí đại vi công quốc, tắc phất tri phi, tòng nhi dự chi, vị chi nghĩa. Thử khả vị tri nghĩa dữ bất nghĩa chi biệt hồ? Sát nhất nhân, vị chi bất nghĩa, tất hữu nhất tử tội hĩ. Nhược dĩ thử thuyết vãng, sát thập nhân, thập trọng bất nghĩa, tất hữu thập tử tội hĩ; sát bách nhân, bách trọng bất nghĩa, tất hữu bách tử tội hĩ. Đương thử, thiên hạ chi quân tử giai tri nhi phi chi, vị chi bất nghĩa. Kim chí đại vi bất nghĩa công quốc, tắc phất tri phi, tòng nhi dự chi, vị chi nghĩa. Tình bất tri kỳ bất nghĩa dã, cố thư kỳ ngôn dĩ di hậu thế; nhược tri kỳ bất nghĩa dã, phu hề thuyết thư kỳ bất nghĩa dĩ di hậu thế tai? Kim hữu nhân ư thử, thiếu kiến hắc viết hắc, đa kiến hắc viết bạch, tắc dĩ thử nhân bất tri bạch hắc chi biện hĩ; thiếu thường khổ viết khổ, đa thường khổ viết cam, tắc tất dĩ thử nhân vi bất tri cam khổ chi biện hĩ. Kim tiểu vi phi, tắc tri nhi phi chi; đại vi phi công quốc, tắc bất tri phi, tòng nhi dự chi, vị chi nghĩa. Thử khả vị tri nghĩa dữ bất nghĩa chi biện hồ? Thị dĩ tri thiên hạ chi quân tử dã, biện nghĩa dữ bất nghĩa chi loạn dã.","content_vi":"Nay có kẻ vào vường người ta hái trộm đào, mận thì ai nghe cũng chê cười, quan bắt được tất trừng phạt. Tại sao vậy? - Tại người ấy làm điều bất nghĩa, lấy của người để làm lợi cho mình.\n\nKẻ vào nhà người ta bắt trộm gà vịt, chó lợn so với kẻ vào vườn nhà người ta hái trộm đào mận thì lại là bất nghĩa hơn nữa. Tại sao vậy? - Tại lấy của người càng nhiều thì bất nhân càng to, tội càng nặng.\n\nKẻ vào chuồng người ta bắt trộm trâu, dê, ngựa so với kẻ vào nhà người ta bắt trộm gà vit, chó lợn thì lại là bất nghĩa hơn nữa. Tại sao vậy? - Tại lấy của người càng nhiều thì bất nhân càng to, tội càng nặng.\n\nKẻ giết người lương thiện, ăn cướp của cải đồ đạc của người ta, so với kẻ vào chuồng trộm trâu bò, dê ngựa thì lại là kẻ bất nghĩa hơn nữa. Tại sao vậy? - Tại giết người lấy của, bất nhân to lắm, tội càng nặng lắm.\n\nGiết người là một điều bất nghĩa, tất phải chịu một tử tội. Cứ cái lẽ ấy mà nói rộng ra: giết mười người tất phải chịu mười tử tội, giết trăm người tất phải chịu trăm tử tội… Nay, những kẻ làm điều bất nghĩa nhỏ mọn, tầm thường như nói trên thì biết chê cười. Đến như những việc bất nghĩa thậm tệ như cướp nước người, tàn sát sinh linh hàng ức vạn…thường khi thiên hạ không biết chê cười lại còn hùa theo và khen ngợi cho là “nghĩa” và ca tụng ghi chép công đức; như thế thì có gọi được là biết phân biệt “nghĩa” với “bất nghĩa” hay không?\n\nKẻ nào mà lúc thấy đen ít bảo là đen, lúc thấy đen nhiều lại bảo là trắng, thì ta cho kẻ ấy là người không biết đen với trắng.\n\nKẻ nào nếm đắng ít cho là đắng, lúc nếm đằng nhiều cho là ngọt, thì ta cho kẻ ấy là người không biết phân biệt đắng và ngọt.\n\nThiên hạ bây giờ phân biệt phải trái hay lầm lẫn lắm!","loi_ban_vi":"Tác giả vốn là một nhà kiêm ái nên cốt ý muốn công kích sự tranh đoạt mà khuyến khích người ta không nên hại lẫn nhau, vì đã có ý hại nhau tất chiếm đoạt của nhau, đều là có bụng tổn nhiều để cầu lợi cho mình cả. Cho nên, muốn viện lẽ gì để buộc tội ác cho người ta mà mua tiếng hay cho omình thì cũng là bất nghĩa đáng chê cả. Thế mà ngán thay thiên hạ đã không biết chê thì chớ, lại còn theo, còn khen, thực là có khác nào như nối giáo cho giặc để tâng bốc thúc đẩy những kẻ làm điều bất nghĩa lên không. Kẻ làm điều bất nghĩa thường vẫn sợ dư luận của thiên hạ lầm lẫn đến thế, thì điều bất nghĩa ở đời càng mạnh, thật là ác hại càng tăng, biết bao giờ nhân tâm biến đổi mà ai nấy cùng được hưởng cuộc Hòa bình? Kể từ đời Mặc Tử đến giờ xa cách bao nhiêu thế kỉ mà nhân loại đã nuốt lẫn nhau, kẻ khỏe hiếp kẻ yếu, kẻ khôn lừa kẻ ngu, kẻ lớn nạt kẻ nhỏ, số nhiều lấn số ít, xâu xé nhau, tranh cướp nhau, tàn hại nhau, thực là đắm đuối trong các điều bất nghĩa đáng thương, đáng than thở lắm thay!","giai_nghia":["園圃: Vườn rau, vườn cây ăn quả.","攘: Chiếm đoạt, trộm cắp.","欄廄: Chuồng trại gia súc.","不辜: Người vô tội.","攻國: Tấn công nước khác, chỉ chiến tranh xâm lược."],"tags":["bất nghĩa","chiến tranh","đạo đức","Mặc Tử"]},{"id":223,"title_vi":"KHÔNG YÊU NHAU MỚI LOẠN","title_zh_simp":"不相爱则乱","title_zh_trad":"不相愛則亂","title_pinyin":"Bù xiāng ài zé luàn","title_han_viet":"BẤT TƯƠNG ÁI TẮC LOẠN","title_en":"Disorder Arises from Lack of Mutual Love","source_book":"《墨子》","source_author":"Mặc Tử","source_period":"Tiên Tần","content_zh_simp":"圣人以治天下为事者也，必知乱之所自起，焉能治之；不知乱之所自起，则不能治。譬之如医之攻人之疾者然，必知疾之所自起，焉能攻之；不知疾之所自起，则弗能攻。治乱者何独不然？必知乱之所自起，焉能治之；不知乱之所自起，则弗能治。圣人以治天下为事者也，不可不察乱之所自起。当察乱何自起？起不相爱。臣子之不孝君父，所谓乱也。子自爱，不爱父，故亏父而自利；弟自爱，不爱兄，故亏兄而自利；臣自爱，不爱君，故亏君而自利。此所谓乱也。虽父之不慈子，兄之不慈弟，君之不慈臣，此亦天下之所谓乱也。父自爱也，不爱子，故亏子而自利；兄自爱也，不爱弟，故亏弟而自利；君自爱也，不爱臣，故亏臣而自利。是何也？皆起不相爱。虽至天下之为盗贼者，亦然。盗爱其室，不爱其异室，故窃异室以利其室；贼爱其身，不爱人，故贼人以利其身。此何也？皆起不相爱。虽至大夫之相乱家、诸侯之相攻国者，亦然。大夫各爱其家，不爱异家，故乱异家以利其家；诸侯各爱其国，不爱异国，故攻异国以利其国。天下之乱物，具此而已矣。察此何自起？皆起不相爱。若使天下兼相爱，爱人若爱其身，犹有不孝者乎？视父兄与君若其身，恶施不孝？犹有不慈者乎？视弟子与臣若其身，恶施不慈？故不孝不慈亡。犹有盗贼乎？视人之室若其室，谁窃？视人身若其身，谁贼？故盗贼有亡。犹有大夫之相乱家、诸侯之相攻国者乎？视人家若其家，谁乱？视人国若其国，谁攻？故大夫之相乱家、诸侯之相攻国者有亡。若使天下兼相爱，国与国不相攻，家与家不相乱，盗贼无有，君臣父子皆能孝慈，若此则天下治。故圣人以治天下为事者，恶得不禁恶而劝爱？故天下兼相爱则治，交相恶则乱。故子墨子曰不可以不劝爱人者，此也。","content_zh_trad":"聖人以治天下為事者也，必知亂之所自起，焉能治之；不知亂之所自起，則不能治。譬之如醫之攻人之疾者然，必知疾之所自起，焉能攻之；不知疾之所自起，則弗能攻。治亂者何獨不然？必知亂之所自起，焉能治之；不知亂之所自起，則弗能治。聖人以治天下為事者也，不可不察亂之所自起。當察亂何自起？起不相愛。臣子之不孝君父，所謂亂也。子自愛，不愛父，故虧父而自利；弟自愛，不愛兄，故虧兄而自利；臣自愛，不愛君，故虧君而自利。此所謂亂也。雖父之不慈子，兄之不慈弟，君之不慈臣，此亦天下之所謂亂也。父自愛也，不愛子，故虧子而自利；兄自愛也，不愛弟，故虧弟而自利；君自愛也，不愛臣，故虧臣而自利。是何也？皆起不相愛。雖至天下之為盜賊者，亦然。盜愛其室，不愛其異室，故竊異室以利其室；賊愛其身，不愛人，故賊人以利其身。此何也？皆起不相愛。雖至大夫之相亂家、諸侯之相攻國者，亦然。大夫各愛其家，不愛異家，故亂異家以利其家；諸侯各愛其國，不愛異國，故攻異國以利其國。天下之亂物，具此而已矣。察此何自起？皆起不相愛。若使天下兼相愛，愛人若愛其身，猶有不孝者乎？視父兄與君若其身，惡施不孝？猶有不慈者乎？視弟子與臣若其身，惡施不慈？故不孝不慈亡。猶有盜賊乎？視人之室若其室，誰竊？視人身若其身，誰賊？故盜賊有亡。猶有大夫之相亂家、諸侯之相攻國者乎？視人家若其家，誰亂？視人國若其國，誰攻？故大夫之相亂家、諸侯之相攻國者有亡。若使天下兼相愛，國與國不相攻，家與家不相亂，盜賊無有，君臣父子皆能孝慈，若此則天下治。故聖人以治天下為事者，惡得不禁惡而勸愛？故天下兼相愛則治，交相惡則亂。故子墨子曰不可以不勸愛人者，此也。","content_pinyin":"Shèngrén yǐ zhì tiānxià wéi shì zhě yě, bì zhī luàn zhī suǒ zì qǐ, yān néng zhì zhī; bù zhī luàn zhī suǒ zì qǐ, zé bù néng zhì. Pì zhī rú yī zhī gōng rén zhī jí zhě rán, bì zhī jí zhī suǒ zì qǐ, yān néng gōng zhī; bù zhī jí zhī suǒ zì qǐ, zé fú néng gōng. Zhì luàn zhě hé dú bù rán? Bì zhī luàn zhī suǒ zì qǐ, yān néng zhì zhī; bù zhī luàn zhī suǒ zì qǐ, zé fú néng zhì. Shèngrén yǐ zhì tiānxià wéi shì zhě yě, bù kě bù chá luàn zhī suǒ zì qǐ. Dāng chá luàn hé zì qǐ? Qǐ bù xiāng ài. Chénzǐ zhī bù xiào jūn fù, suǒwèi luàn yě. Zǐ zì ài, bù ài fù, gù kuī fù ér zì lì; dì zì ài, bù ài xiōng, gù kuī xiōng ér zì lì; chén zì ài, bù ài jūn, gù kuī jūn ér zì lì. Cǐ suǒwèi luàn yě. Suī fù zhī bù cí zǐ, xiōng zhī bù cí dì, jūn zhī bù cí chén, cǐ yì tiānxià zhī suǒwèi luàn yě. Fù zì ài yě, bù ài zǐ, gù kuī zǐ ér zì lì; xiōng zì ài yě, bù ài dì, gù kuī dì ér zì lì; jūn zì ài yě, bù ài chén, gù kuī chén ér zì lì. Shì hé yě? Jiē qǐ bù xiāng ài. Suī zhì tiānxià zhī wéi dàozéi zhě, yì rán. Dào ài qí shì, bù ài qí yì shì, gù qiè yì shì yǐ lì qí shì; zéi ài qí shēn, bù ài rén, gù zéi rén yǐ lì qí shēn. Cǐ hé yě? Jiē qǐ bù xiāng ài. Suī zhì dàfū zhī xiāng luàn jiā, zhūhóu zhī xiāng gōng guó zhě, yì rán. Dàfū gè ài qí jiā, bù ài yì jiā, gù luàn yì jiā yǐ lì qí jiā; zhūhóu gè ài qí guó, bù ài yì guó, gù gōng yì guó yǐ lì qí guó. Tiānxià zhī luàn wù, jù cǐ ér yǐ yǐ. Chá cǐ hé zì qǐ? Jiē qǐ bù xiāng ài. Ruò shǐ tiānxià jiān xiāng ài, ài rén ruò ài qí shēn, yóu yǒu bù xiào zhě hū? Shì fùxiōng yǔ jūn ruò qí shēn, è shī bù xiào? Yóu yǒu bù cí zhě hū? Shì dìzǐ yǔ chén ruò qí shēn, è shī bù cí? Gù bù xiào bù cí wáng. Yóu yǒu dàozéi hū? Shì rén zhī shì ruò qí shì, shéi qiè? Shì rén shēn ruò qí shēn, shéi zéi? Gù dàozéi yǒu wáng. Yóu yǒu dàfū zhī xiāng luàn jiā, zhūhóu zhī xiāng gōng guó zhě hū? Shì rén jiā ruò qí jiā, shéi luàn? Shì rén guó ruò qí guó, shéi gōng? Gù dàfū zhī xiāng luàn jiā, zhūhóu zhī xiāng gōng guó zhě yǒu wáng. Ruò shǐ tiānxià jiān xiāng ài, guó yǔ guó bù xiāng gōng, jiā yǔ jiā bù xiāng luàn, dàozéi wú yǒu, jūnchén fùzǐ jiē néng xiào cí, ruò cǐ zé tiānxià zhì. Gù shèngrén yǐ zhì tiānxià wéi shì zhě, è dé bù jìn è ér quàn ài? Gù tiānxià jiān xiāng ài zé zhì, jiāo xiāng è zé luàn. Gù zǐ Mòzǐ yuē bù kě yǐ bù quàn ài rén zhě, cǐ yě.","content_han_viet":"Thánh nhân dĩ trị thiên hạ vi sự giả dã, tất tri loạn chi sở tự khởi, yên năng trị chi; bất tri loạn chi sở tự khởi, tắc bất năng trị. Thí chi như y chi công nhân chi tật giả nhiên, tất tri tật chi sở tự khởi, yên năng công chi; bất tri tật chi sở tự khởi, tắc phất năng công. Trị loạn giả hà độc bất nhiên? Tất tri loạn chi sở tự khởi, yên năng trị chi; bất tri loạn chi sở tự khởi, tắc phất năng trị. Thánh nhân dĩ trị thiên hạ vi sự giả dã, bất khả bất sát loạn chi sở tự khởi. Đương sát loạn hà tự khởi? Khởi bất tương ái. Thần tử chi bất hiếu quân phụ, sở vị loạn dã. Tử tự ái, bất ái phụ, cố khoa phụ nhi tự lợi; đệ tự ái, bất ái huynh, cố khoa huynh nhi tự lợi; thần tự ái, bất ái quân, cố khoa quân nhi tự lợi. Thử sở vị loạn dã. Tuy phụ chi bất từ tử, huynh chi bất từ đệ, quân chi bất từ thần, thử diệc thiên hạ chi sở vị loạn dã. Phụ tự ái dã, bất ái tử, cố khoa tử nhi tự lợi; huynh tự ái dã, bất ái đệ, cố khoa đệ nhi tự lợi; quân tự ái dã, bất ái thần, cố khoa thần nhi tự lợi. Thị hà dã? Giai khởi bất tương ái. Tuy chí thiên hạ chi vi đạo tặc giả, diệc nhiên. Đạo ái kỳ thất, bất ái kỳ dị thất, cố thiết dị thất dĩ lợi kỳ thất; tặc ái kỳ thân, bất ái nhân, cố tặc nhân dĩ lợi kỳ thân. Thử hà dã? Giai khởi bất tương ái. Tuy chí đại phu chi tương loạn gia, chư hầu chi tương công quốc giả, diệc nhiên. Đại phu các ái kỳ gia, bất ái dị gia, cố loạn dị gia dĩ lợi kỳ gia; chư hầu các ái kỳ quốc, bất ái dị quốc, cố công dị quốc dĩ lợi kỳ quốc. Thiên hạ chi loạn vật, cụ thử nhi dĩ hĩ. Sát thử hà tự khởi? Giai khởi bất tương ái. Nhược sử thiên hạ kiêm tương ái, ái nhân nhược ái kỳ thân, do hữu bất hiếu giả hồ? Thị phụ huynh dữ quân nhược kỳ thân, ác thí bất hiếu? Do hữu bất từ giả hồ? Thị đệ tử dữ thần nhược kỳ thân, ác thí bất từ? Cố bất hiếu bất từ vong. Do hữu đạo tặc hồ? Thị nhân chi thất nhược kỳ thất, thùy thiết? Thị nhân thân nhược kỳ thân, thùy tặc? Cố đạo tặc hữu vong. Do hữu đại phu chi tương loạn gia, chư hầu chi tương công quốc giả hồ? Thị nhân gia nhược kỳ gia, thùy loạn? Thị nhân quốc nhược kỳ quốc, thùy công? Cố đại phu chi tương loạn gia, chư hầu chi tương công quốc giả hữu vong. Nhược sử thiên hạ kiêm tương ái, quốc dữ quốc bất tương công, gia dữ gia bất tương loạn, đạo tặc vô hữu, quân thần phụ tử giai năng hiếu từ, nhược thử tắc thiên hạ trị. Cố thánh nhân dĩ trị thiên hạ vi sự giả, ác đắc bất cấm ác nhi khuyến ái? Cố thiên hạ kiêm tương ái tắc trị, giao tương ác tắc loạn. Cố Tử Mặc Tử viết bất khả dĩ bất khuyến ái nhân giả, thử dã.","content_vi":"Thánh nhân trị thiên hạ tất phải biết loạn từ đâu mà ra trị thiên hạ thì mới được, không biết loạn từ đâu thì không trị nổi được thiên hạ. Ví như thầy thuốc chữa bệnh cho người ta, tất phải biết bệnh căn tự khởi đâu khởi ra từ mới chữa được, chớ không biết thì chữa không nổi được bệnh. Người trị loạn có khác gì thế?\n\nLoạn từ đâu mà sinh ra? Sinh ra bởi không yêu nhau.\n\n- Con không hiếu với cha, tôi không trung với vua thế là loạn đấy. Con chỉ yêu thân con, không yêu đến cha, cho nên làm thiệt cha để lợi mình; em chỉ yêu thân em, không yêu đến anh, cho nên làm thiệt anh để lợi mình; bầy tôi chỉ biết yêu thân mình mà khồn biết yêu vua cho nên làm thiệt vua để lợi mình. Thế là loạn đấy.\n\nTuy đến cả cha mà cũng không thương con, anh mà cũng không thương em, vua mà cũng không thương bầy tôi, thế cũng là loạn. Cha chỉ yêu thân cha, không yêu đến con, cho nên làm thiệt con để mình được lợi; anh chỉ yêu thân anh không yêu đến em cho nên làm thiệt em để mình anh được lợi; vua chỉ yêu thân vua, không yêu bầy tôi, cho nên làm thiệt bầy tôi để mình được lợi.\n\nTại sao mà sinh ra những điều ấy? Có phải chỉ tại không yêu nhau cả thôi không? Đến cả quân trộm quân giặc cũng vậy. Thằng trộm chỉ biết yêu nhà mình, không biết yêu nhà khác, cho nên ăn trộm nhà khác để lợi nhà mình; thằng giặc chỉ biết yêu thân mình mà chẳng yêu thân người khác, cho nên sát hạn thân người khác để lợi thân mình. Tại sao mà sinh ra thế? Có phải chỉ tại không yêu nhau cả mà thôi không?\n\nCho đến các quan khuynh loát nhau, các nước chư hầu đánh lẫn nhau, cũng chỉ tại các quan chỉ biết yêu nhà mình, không yêu nhà khác cho nên hại nhà khác để lợi cho nhà mình, các nước chỉ biết yêu nước mình không yêu nước khác cho nên đánh nước khác để lợi cho nước mình.\n\nẤy thiên hạ sinh ra loạn là bởi như thế cả.\n\nNếu biết yêu nhau thì còn ai nỡ hại ai, mà thiên hạ làm gì chẳng bình trị.","loi_ban_vi":"Đại ý của bài rút lại một câu là: loạn mà sinh ra là chỉ do cái lòng không yêu nhau hết cả. Cầu lợi cho mình tức là muốn hại người, mà hại người tất ghét người; ghét người tất người ghét lại mà thành ra không ai được bình yên, ai cũng chỉ lo toan tranh cướp lấy lẫn của nhau mà thôi. Vậy muốn cho khỏi loạn tất phải làm sao cho thiên hạ biết yêu nhau. Mà có yêu nhau thì mới thương nhau; đã yêu thương nhau thì mầm loạn tắt. Đó chính là cái cốt yêu của Mặc Tử, là cái ý kiêm ái, yêu cả loài người không phân biệt thân sơ.\n\nÝ Mặc Tử đây cũng giống như ý của Mạnh Tử nói: “Ở đời, ai nấy đều con cái biết thân yêu cha mẹ kẻ dưới biết tôn trọng người trên, thì tự khắc thiên hạ bình trị”, nhưng có phần thống thiết hơn, vì nói đế cả vua trên, cả cha mẹ cũng không thương yêu tôi con cho nên sinh loạn. Cái thuyết ấy kể thật xác đáng; ở cái đời ai ai cũng chỉ tự tư, tự lợi, có nói thế mới mong người tỉnh lại được ít nhiều chăng.","giai_nghia":["Thánh nhân: bậc thánh nhân, người có đức hạnh và trí tuệ siêu phàm.","Loạn: sự rối loạn, mất trật tự trong xã hội.","Tương ái: yêu thương lẫn nhau, khái niệm trung tâm của Mặc Tử.","Kiêm ái: tình yêu thương bao trùm tất cả, không phân biệt thân sơ.","Khuyến ái: khuyến khích lòng yêu thương."],"tags":["Mặc Tử","Kiêm ái","Trị loạn","Đạo đức"]},{"id":224,"title_vi":"CŨNG LÀ ĂN TRỘM","title_zh_simp":"亦为盗","title_zh_trad":"亦為盜","title_pinyin":"Yì wéi dào","title_han_viet":"DIỆT VI ĐẠO","title_en":"Stealing Is Also Theft","source_book":"《列子》","source_author":"列御寇","source_period":"战国","content_zh_simp":"齐之国氏大富，宋之向氏大贫。自宋之齐，请其术。国氏告之曰：“吾善为盗。始吾为盗也，一年而给，二年而足，三年大穰。自此以往，施及州闾。”向氏大喜，喻其为盗之言，而不喻其为盗之道，遂逾垣凿室，手目所及，亡不探也。未及时，以赃获罪，没其先居之财。向氏以国氏之谬己也，往而怨之。国氏曰：“若为盗若何？”向氏言其状。国氏曰：“嘻！若失为盗之道至此乎？今将告若矣。吾闻天有时，地有利。吾盗天地之时利，云雨之滂润，山泽之产育，以生吾禾，殖吾稼，筑吾垣，建吾舍。陆盗禽兽，水盗鱼鳖，亡非盗也。夫禾稼、土木、禽兽、鱼鳖，皆天之所生，岂吾之所有？然吾盗天而亡殃。夫金玉珍宝、谷帛财货，人之所聚，岂天之所与？若盗之而获罪，孰怨哉？”向氏大惑，以为国氏重罔己也，过东郭先生问焉。东郭先生曰：“若一身庸非盗乎？盗阴阳之和以成若生，载若形，况外物而非盗哉？诚然，天地万物不相离也，仞而有之，皆惑也。”","content_zh_trad":"齊之國氏大富，宋之向氏大貧。自宋之齊，請其術。國氏告之曰：“吾善為盜。始吾為盜也，一年而給，二年而足，三年大穰。自此以往，施及州閭。”向氏大喜，喻其為盜之言，而不喻其為盜之道，遂逾垣鑿室，手目所及，亡不探也。未及時，以贓獲罪，沒其先居之財。向氏以國氏之謬己也，往而怨之。國氏曰：“若為盜若何？”向氏言其狀。國氏曰：“嘻！若失為盜之道至此乎？今將告若矣。吾聞天有時，地有利。吾盜天地之時利，雲雨之滂潤，山澤之產育，以生吾禾，殖吾稼，築吾垣，建吾舍。陸盜禽獸，水盜魚鱉，亡非盜也。夫禾稼、土木、禽獸、魚鱉，皆天之所生，豈吾之所有？然吾盜天而亡殃。夫金玉珍寶、穀帛財貨，人之所聚，豈天之所與？若盜之而獲罪，孰怨哉？”向氏大惑，以為國氏重罔己也，過東郭先生問焉。東郭先生曰：“若一身庸非盜乎？盜陰陽之和以成若生，載若形，況外物而非盜哉？誠然，天地萬物不相離也，仞而有之，皆惑也。”","content_pinyin":"Qí zhī Guó shì dà fù, Sòng zhī Xiàng shì dà pín. Zì Sòng zhī Qí, qǐng qí shù. Guó shì gào zhī yuē: “Wú shàn wéi dào. Shǐ wú wéi dào yě, yī nián ér jǐ, èr nián ér zú, sān nián dà ráng. Zì cǐ yǐ wǎng, shī jí zhōu lǘ.” Xiàng shì dà xǐ, yù qí wéi dào zhī yán, ér bù yù qí wéi dào zhī dào, suì yú yuán záo shì, shǒu mù suǒ jí, wáng bù tàn yě. Wèi jí shí, yǐ zāng huò zuì, mò qí xiān jū zhī cái. Xiàng shì yǐ Guó shì zhī miù jǐ yě, wǎng ér yuàn zhī. Guó shì yuē: “Ruò wéi dào ruò hé?” Xiàng shì yán qí zhuàng. Guó shì yuē: “Xī! Ruò shī wéi dào zhī dào zhì cǐ hū? Jīn jiāng gào ruò yǐ. Wú wén tiān yǒu shí, dì yǒu lì. Wú dào tiān dì zhī shí lì, yún yǔ zhī pāng rùn, shān zé zhī chǎn yù, yǐ shēng wú hé, zhí wú jià, zhú wú yuán, jiàn wú shè. Lù dào qín shòu, shuǐ dào yú biē, wáng fēi dào yě. Fú hé jià, tǔ mù, qín shòu, yú biē, jiē tiān zhī suǒ shēng, qǐ wú zhī suǒ yǒu? Rán wú dào tiān ér wáng yāng. Fú jīn yù zhēn bǎo, gǔ bó cái huò, rén zhī suǒ jù, qǐ tiān zhī suǒ yǔ? Ruò dào zhī ér huò zuì, shú yuàn zāi?” Xiàng shì dà huò, yǐ wéi Guó shì zhòng wǎng jǐ yě, guò Dōngguō xiānshēng wèn yān. Dōngguō xiānshēng yuē: “Ruò yī shēn yōng fēi dào hū? Dào yīn yáng zhī hé yǐ chéng ruò shēng, zài ruò xíng, kuàng wài wù ér fēi dào zāi? Chéng rán, tiān dì wàn wù bù xiāng lí yě, rèn ér yǒu zhī, jiē huò yě.”","content_han_viet":"Tề chi Quốc thị đại phú, Tống chi Hướng thị đại bần. Tự Tống chi Tề, thỉnh kỳ thuật. Quốc thị cáo chi viết: “Ngô thiện vi đạo. Thủy ngô vi đạo dã, nhất niên nhi cấp, nhị niên nhi túc, tam niên đại nhương. Tự thử dĩ vãng, thí cập châu lư.” Hướng thị đại hỷ, dụ kỳ vi đạo chi ngôn, nhi bất dụ kỳ vi đạo chi đạo, toại du viên tạc thất, thủ mục sở cập, vong bất thám dã. Vị cập thì, dĩ tang hoạch tội, một kỳ tiên cư chi tài. Hướng thị dĩ Quốc thị chi mậu kỷ dã, vãng nhi oán chi. Quốc thị viết: “Nhược vi đạo nhược hà?” Hướng thị ngôn kỳ trạng. Quốc thị viết: “Hi! Nhược thất vi đạo chi đạo chí thử hồ? Kim tương cáo nhược hĩ. Ngô văn thiên hữu thì, địa hữu lợi. Ngô đạo thiên địa chi thì lợi, vân vũ chi bàng nhuận, sơn trạch chi sản dục, dĩ sinh ngô hòa, thực ngô giá, trúc ngô viên, kiến ngô xá. Lục đạo cầm thú, thủy đạo ngư miết, vong phi đạo dã. Phù hòa giá, thổ mộc, cầm thú, ngư miết, giai thiên chi sở sinh, khởi ngô chi sở hữu? Nhiên ngô đạo thiên nhi vong ương. Phù kim ngọc trân bảo, cốc bạch tài hóa, nhân chi sở tụ, khởi thiên chi sở dữ? Nhược đạo chi nhi hoạch tội, thục oán tai?” Hướng thị đại hoặc, dĩ vi Quốc thị trọng võng kỷ dã, quá Đông Quách tiên sinh vấn yên. Đông Quách tiên sinh viết: “Nhược nhất thân dung phi đạo hồ? Đạo âm dương chi hòa dĩ thành nhược sinh, tái nhược hình, huống ngoại vật nhi phi đạo tai? Thành nhiên, thiên địa vạn vật bất tương ly dã, nhẫn nhi hữu chi, giai hoặc dã.”","content_vi":"Họ Quốc ở nước Tề rất giàu. Họ hướng ở nước Tống rất nghèo. Hướng bèn sang nước Tề hỏi Quốc cách làm giàu.\n\nQuốc bảo:\n\nTa chỉ khéo ăn trộm thôi. Thoạt đầu ta ăn trộm một năm thì đủ dùng, hai năm thì thừa ăn, ba năm thì giàu có, tự đó trở đi tài sản ta có đến cả làng, cả tỉnh.\n\nHướng nghe nói, mừng lắm, nhưng khốn chỉ hiểu câu chuyện ăn trộm, chớ không hiểu cái lối ăn trộm ra làm sao.\n\nLúc về, bèn trèo tường, khoét ngạch, phàm cái gì mắt trông thấy, tay cầm được là cũng lấy tất.\n\nHướng đi ăn trộm chưa được bao lâu, bị bắt quả tang, thành phải tội, cả bao nhiêu của cải lúc trước khó nhọc kiếm ra cũng đều bị tịch thu hết.\n\nBấy giờ Hướng cho Quốc là đánh lừa mình, đến tận nơi trách.\n\nQuốc hỏi:\n\nAnh ăn trộm thế nào chứ?\n\nHướng bèn thuật lại cung cách ăn trộm cho Quốc nghe.\n\nQuốc nói:\n\nChết thật! Cái lối của anh ăn trộm sai lầm đến như thế kia ư! Này để tôi bảo rõ cho mà biết. Trời có thời tiết, đất có hoa lợi. Ta ăn trộm thời của trời, lợi của đất, sự thuận hòa của mưa gió, những sản vật của non sông, để ta cấy lúa trồng cây, xây tường, làm nhà, trên cạn thì ta ăn trộm giống chim muông, dười nước thì ta ăn trộm loài tôm cá. Những cái ấy không có cái gì là không phải của ăn trộm cả. Này lùa mạ, đất cát, cây cối, chim muông, cá, ba ba đều là của trời sinh ra cả há có phải của ta đâu. Song ta ăn trộm của trời, nên không có tai vạ gì.\n\nCòn như vàng ngọc, chau báu, thóc lúa, của cải đều là người ta làm kiếm ra mới có, há có phải là của trời đâu. Nên anh ăn trộm những của ấy mà phải tội là phải lắm, anh cón trách gì ai nữa.\n\nHướng nghe nói càng nghi hoặc cho là Quốc lại nói dối mình lần nữa, bèn qua nhà Đông Quách tiên sinh đem câu chuyện lại hỏi.\n\nĐông Quách tiên sinh nói:\n\nChính cả cái thân anh cũng là của ăn trộm nữa, nghĩa là trộm cái khí âm, khí dương mà hòa hợp lại thành cái đời, mới có cái xác anh, huống chi ngoại vật, cái gì mà chẳng là của ăn trộm hay sao. Người ta mà cái gì cũng nhận là của mình có, đều là lầm cả.","loi_ban_vi":": tác giả làm bài này cốt bày tỏ cái ý rằng: Cách làm giàu không phải ở sự bon chen cướp nhỏ nhen những cái của người ta làm ra, nhưng ở sự biết lợi dụng những vật của trời đất sinh ra. Chiếm của của riêng của người đã kiếm được, mà làm giàu cho mình, thế là không chính đáng, thế tức là ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp có pháp luật trừng trị, có công lý bắt phải bồi thường lại. Chớ lấy của chung của trời đất, biết lợi dụng những sản vật, thiên nhiên, tuy không phải của mình mà lấy thì khác gì ăn trộm, nhưng trộm cái kho vô tận của tạo hóa, chẳng những không ai buộc được tội, mà người ta lại còn phải phục, phải chịu là tài giỏi khéo lấy nữa. Muôn vật ở đời không phải là của riêng của một ai, hay một loài nào, nhưng của công của cả mọi người, ai khôn thì biết lợi dụng, ai hèn thì chiu bó tay.\n\nCòn cái ý tác giả cho chính thân mình cũng không phải là của mình lại cao hơn một bậc nữa. Quả vậy cái xác thịt của mình, đến cả cái tâm hồn của mình, nào có phải tự mình làm nên đâu hay chẳng qua cũng chỉ là tứ đại ( địa, thủy, hỏa, phong) hợp lại rồi tan đi mà thế thường vẫn cho là \"Ngã\".","giai_nghia":[":","Đông Quách tiên sinh: một nhà ẩn sĩ đời Xuân Thu.","Ngoại vật: các vật ngoài cái thân ta.","国氏: họ Quốc, người nước Tề","向氏: họ Hướng, người nước Tống","大穰: đại phong, được mùa lớn","州闾: làng xóm, khu phố","东郭先生: Đông Quách tiên sinh, nhân vật ẩn dật trong Liệt Tử","阴阳之和: sự hòa hợp của âm dương"],"tags":["Liệt Tử","Đạo gia","Ẩn dụ","Triết lý sống"]},{"id":225,"title_vi":"LƠ TRỜI ĐỔ","title_zh_simp":"杞人忧天","title_zh_trad":"杞人憂天","title_pinyin":"Qǐ rén yōu tiān","title_han_viet":"KỶ NHÂN ƯU THIÊN","title_en":"The Man of Qi Worried About the Sky Falling","source_book":"《列子》","source_author":"列御寇","source_period":"战国","content_zh_simp":"杞国有人忧天地崩坠，身亡所寄，废寝食者。又有忧彼之所忧者，因往晓之，曰：“天，积气耳，亡处亡气。若屈伸呼吸，终日在天中行止，奈何忧崩坠乎？”其人曰：“天果积气，日月星宿，不当坠耶？”晓之者曰：“日月星宿，亦积气中之有光耀者，只使坠，亦不能有所中伤。”其人曰：“奈地坏何？”晓之者曰：“地积块耳，充塞四虚，亡处亡块。若躇步跐蹈，终日在地上行止，奈何忧其坏？”其人舍然大喜，晓之者亦舍然大喜。","content_zh_trad":"杞國有人憂天地崩墜，身亡所寄，廢寢食者。又有憂彼之所憂者，因往曉之，曰：“天，積氣耳，亡處亡氣。若屈伸呼吸，終日在天中行止，奈何憂崩墜乎？”其人曰：“天果積氣，日月星宿，不當墜耶？”曉之者曰：“日月星宿，亦積氣中之有光耀者，只使墜，亦不能有所中傷。”其人曰：“奈地壞何？”曉之者曰：“地積塊耳，充塞四虛，亡處亡塊。若躇步跐蹈，終日在地上行止，奈何憂其壞？”其人捨然大喜，曉之者亦捨然大喜。","content_pinyin":"Qǐ guó yǒu rén yōu tiān dì bēng zhuì, shēn wáng suǒ jì, fèi qǐn shí zhě. Yòu yǒu yōu bǐ zhī suǒ yōu zhě, yīn wǎng xiǎo zhī, yuē: “Tiān, jī qì ěr, wáng chù wáng qì. Ruò qū shēn hū xī, zhōng rì zài tiān zhōng xíng zhǐ, nài hé yōu bēng zhuì hū?” Qí rén yuē: “Tiān guǒ jī qì, rì yuè xīng xiù, bù dāng zhuì yé?” Xiǎo zhī zhě yuē: “Rì yuè xīng xiù, yì jī qì zhōng zhī yǒu guāng yào zhě, zhǐ shǐ zhuì, yì bù néng yǒu suǒ zhòng shāng.” Qí rén yuē: “Nài dì huài hé?” Xiǎo zhī zhě yuē: “Dì jī kuài ěr, chōng sè sì xū, wáng chù wáng kuài. Ruò chú bù cǐ dǎo, zhōng rì zài dì shàng xíng zhǐ, nài hé yōu qí huài?” Qí rén shě rán dà xǐ, xiǎo zhī zhě yì shě rán dà xǐ.","content_han_viet":"Kỷ quốc hữu nhân ưu thiên địa băng trụy, thân vong sở ký, phế tẩm thực giả. Hựu hữu ưu bỉ chi sở ưu giả, nhân vãng hiểu chi, viết: “Thiên, tích khí nhĩ, vong xứ vong khí. Nhược khuất thân hô hấp, chung nhật tại thiên trung hành chỉ, nại hà ưu băng trụy hồ?” Kỳ nhân viết: “Thiên quả tích khí, nhật nguyệt tinh tú, bất đương trụy da?” Hiểu chi giả viết: “Nhật nguyệt tinh tú, diệc tích khí trung chi hữu quang diệu giả, chỉ sử trụy, diệc bất năng hữu sở trúng thương.” Kỳ nhân viết: “Nại địa hoại hà?” Hiểu chi giả viết: “Địa tích khối nhĩ, sung tắc tứ hư, vong xứ vong khối. Nhược trứ bộ thử đạo, chung nhật tại địa thượng hành chỉ, nại hà ưu kỳ hoại?” Kỳ nhân xả nhiên đại hỉ, hiểu chi giả diệc xả nhiên đại hỉ.","content_vi":"Nước Kỷ có kẻ lo trời đổ, đất long thì thân mình không biết nương tựa vào đâu. Anh ta lo quá đến nỗi bỏ cả ăn, cả ngủ.\n\nLại có người thấy anh ta lo thế, mà lo cho anh ta, mới giảng giải cho biết rằng:\n\nTrời chỉ là không khí chứa đầy lại mà thôi. Không chỗ nào là không có khí, anh co, duỗi, hít, thở suốt ngày ở trong vòng trời, thì việc gì lo trời đổ.\n\nAnh ta nói:\n\nTrời mà quả là không khí, thì còn mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao chẳng có lúc sa xuông ư?\n\nNgười kia lại giảng:\n\nMặt trời, mặt trăng, các ngôi sao cũng là thứ hoặc phát quang hoặc thụ quang ở tầng không khí, giá có xuống nữa, thì chẳng qua cũng là khí thôi có hại chi đến người.\n\nAnh ta lại nói:\n\nThế còn đất long lở thì sao?\n\nNgười kia lại giảng:\n\nĐất là một khối rất to, đâu đâu cũng có đất cả. Ta đi đứng suốt ngày ở trên mặt đất thì lo gì đất lở mà không có đất.\n\nAnh lo nghe hiểu ra, mừng lắm. Anh đến giảng cũng lấy làm thích và mừng lắm.","loi_ban_vi":": Liệt Tử đặt ra chuyện này tuy về mặt thiên văn không hợp với khoa học bây giờ, nhưng cái gì muốn dạy người phải đạt lý đừng có nghĩ quẩn lo quanh rất là như vậy.\n\nNày ngay chính cái thân mình cũng chẳng phải của mình có, mà lo cho cái thân ấy còn thường khi không được, thế mà đi lo trời đổ đất long, thì anh người nước Kỷ cũng lo xa quá thật!\n\nHiền triết xưa đã ví trời đất như một cái nhà trọ lớn, người ta chỉ là khách qua chơi đến trọ một thời. Nếu người khách ấy không biết hưởng thụ cái thú tự nhiên cùng tiêu dùng cái thời giờ \" sống\", đinh đoạt cái tài sản \"chết\" mà cứ băn khoăn phiền bực, ăn chẳng ngon nằm chẳng yên, lo đứng, lo ngồi, lo đêm, lo ngày, lo rằng cái nhà trọ kia lỡ ra hư hỏng nát dột, thì chẳng đáng bật cười lắm sao!\n\nỞ đời, cố nhiên có thân là có khổ, ai mà chẳng lo. Nhưng đem cái thân trăm năm lo những việc nghìn đời, chả biết chi là hỷ hoan, chỉ những là rầu rĩ thế chả là tự chuốc lấy khổ ư?\n\nTôi nói câu này anh nhớ lấy:\n\n\" Ở đời chuốc khổ biết bao người\".","giai_nghia":[":","Kỷ: nước nhỏ thời Xuân Thu, xưa phải nước Sở diệt mất, tức là huyện Kỷ, tỉnh Hà Nam ngày nay.","杞人忧天: 成语，比喻不必要的忧虑。","积气: 指空气，古人认为天是积聚的气体。","积块: 指土地，古人认为地是积聚的土块。","舍然: 释然，放心的样子。"],"tags":["寓言","哲学","忧虑","列子"]},{"id":226,"title_vi":"DÙNG RƯỢU SAY ĐỂ KHIẾN CHỒNG","title_zh_simp":"醉遣重耳","title_zh_trad":"醉遣重耳","title_pinyin":"Zuì qiǎn Chóng'ěr","title_han_viet":"TUÝ KHIỂN TRÙNG NHĨ","title_en":"Sending Chong'er Away While Drunk","source_book":"《左传》","source_author":"左丘明","source_period":"春秋","content_zh_simp":"晋公子重耳之及于难也，晋人伐之蒲城。蒲城人欲战，重耳不可，曰：“保君父之命而享其生禄，于是乎得人。有人而校，罪莫大焉。吾其奔也。”遂奔狄。从者狐偃、赵衰、颠颉、魏武子、司空季子。狄人伐廧咎如，获其二女，以叔隗妻赵衰，以季隗妻重耳。生伯儵、叔刘。及齐，齐桓公妻之，有马二十乘，公子安之。从者以为不可，将行，谋于桑下。蚕妾在其上，以告姜氏。姜氏杀之，而谓公子曰：“子有四方之志，其闻之者，吾杀之矣。”公子曰：“无之。”姜曰：“行也！怀与安，实败名。”公子不可。姜与子犯谋，醉而遣之。醒，以戈逐子犯。","content_zh_trad":"晉公子重耳之及於難也，晉人伐之蒲城。蒲城人欲戰，重耳不可，曰：“保君父之命而享其生祿，於是乎得人。有人而校，罪莫大焉。吾其奔也。”遂奔狄。從者狐偃、趙衰、顛頡、魏武子、司空季子。狄人伐廧咎如，獲其二女，以叔隗妻趙衰，以季隗妻重耳。生伯儵、叔劉。及齊，齊桓公妻之，有馬二十乘，公子安之。從者以為不可，將行，謀於桑下。蠶妾在其上，以告姜氏。姜氏殺之，而謂公子曰：“子有四方之志，其聞之者，吾殺之矣。”公子曰：“無之。”姜曰：“行也！懷與安，實敗名。”公子不可。姜與子犯謀，醉而遣之。醒，以戈逐子犯。","content_pinyin":"Jìn gōngzǐ Chóng'ěr zhī jí yú nán yě, Jìn rén fá zhī Púchéng. Púchéng rén yù zhàn, Chóng'ěr bù kě, yuē: “Bǎo jūn fù zhī mìng ér xiǎng qí shēng lù, yú shì hū dé rén. Yǒu rén ér jiào, zuì mò dà yān. Wú qí bēn yě.” Suì bēn Dí. Cóng zhě Hú Yǎn, Zhào Shuāi, Diān Xié, Wèi Wǔzǐ, Sīkōng Jìzǐ. Dí rén fá Qiánggāorú, huò qí èr nǚ, yǐ Shū Wěi qī Zhào Shuāi, yǐ Jì Wěi qī Chóng'ěr. Shēng Bó Shū, Shū Liú. Jí Qí, Qí Huángōng qī zhī, yǒu mǎ èrshí shèng, gōngzǐ ān zhī. Cóng zhě yǐwéi bù kě, jiāng xíng, móu yú sāng xià. Cán qiè zài qí shàng, yǐ gào Jiāng shì. Jiāng shì shā zhī, ér wèi gōngzǐ yuē: “Zǐ yǒu sìfāng zhī zhì, qí wén zhī zhě, wú shā zhī yǐ.” Gōngzǐ yuē: “Wú zhī.” Jiāng yuē: “Xíng yě! Huái yǔ ān, shí bài míng.” Gōngzǐ bù kě. Jiāng yǔ Zǐfàn móu, zuì ér qiǎn zhī. Xǐng, yǐ gē zhú Zǐfàn.","content_han_viet":"Tấn công tử Trùng Nhĩ chi cập vu nạn dã, Tấn nhân phạt chi Bồ Thành. Bồ Thành nhân dục chiến, Trùng Nhĩ bất khả, viết: “Bảo quân phụ chi mệnh nhi hưởng kỳ sinh lộc, vu thị hồ đắc nhân. Hữu nhân nhi giáo, tội mạc đại yên. Ngô kỳ bôn dã.” Toại bôn Địch. Tòng giả Hồ Dẫn, Triệu Suy, Điên Hiệt, Ngụy Vũ Tử, Tư Không Quý Tử. Địch nhân phạt Tường Cáo Như, hoạch kỳ nhị nữ, dĩ Thúc Ngỗi thê Triệu Suy, dĩ Quý Ngỗi thê Trùng Nhĩ. Sinh Bá Thù, Thúc Lưu. Cập Tề, Tề Hoàn Công thê chi, hữu mã nhị thập thặng, công tử an chi. Tòng giả dĩ vi bất khả, tương hành, mưu vu tang hạ. Tàm thiếp tại kỳ thượng, dĩ cáo Khương thị. Khương thị sát chi, nhi vị công tử viết: “Tử hữu tứ phương chi chí, kỳ văn chi giả, ngô sát chi hĩ.” Công tử viết: “Vô chi.” Khương viết: “Hành dã! Hoài dữ an, thực bại danh.” Công tử bất khả. Khương dữ Tử Phạm mưu, túy nhi khiển chi. Tỉnh, dĩ qua trục Tử Phạm.","content_vi":"Công tử nước Tần tên là Trùng Nhĩ gặp trong nước có nạn, phải chạy ra nước ngoài. Công tử đi hết nước này sang nước khác.\n\nKhi sang đến Tề, vua Hoàn Công đem con gái là Khương Thi gả cho và tàm mươi con ngựa hay. Công tử được vậy, lấy làm yên thân muốn suốt đời ở nước Tề.\n\nCác quan tòng vong, biết nước Tề không thế tin cậy được, toan đi sang nước khác, mới họp nhau âm mưu ở chỗ vườn dâu.\n\nCó một người đàn bà hài dâu nghe lỏm, biết chuyện, đến mách với Khương Thị.\n\nKhương Thị sợ việc tiết lộ, giết ngay người ấy rồi bảo công tử rằng:\n\nCông tử có chí tứ phương, đứa nghe lỏm mưu ấy, thiếp đã giết đi rồi.\n\nCông tử nói:\n\nTa thật không có chí đi đâu cả.\n\nKhương Thị bảo:\n\nPhải đi mới được! Say một người yêu mà cứ mê mệt, thích một cảnh vui mà cứ yên nhàn, thực là làm bại hoại hết cả công dánh sự nghiệp một đời.\n\nCông tử vẫn không muốn đi.\n\nKhương Thị bèn cùng với Tử Phạm lập kế một hôm cho công tử uống rượu thật say, rồi bỏ lên xe, bắt kéo đi. Công tử tỉnh rượu, biết là mình lìa xa nước Tề, giận quá, cầm giáo đuổi Tử Phạm muốn giết. Nhưng ít lâu công tử tỉnh ngộ, biết hối lại ngay.\n\nNhờ có thế mà sau công tử về làm vua ở nước Tần và bá cả chư hầu.","loi_ban_vi":": Trùng Nhĩ gặp nạn nước mà đem thân ra đi, thật là có chí đáng trọng. Song đi đến Tề, được vợ đẹp ngựa nhiều, mà để cho sự vui chơi nồng nàn nó làm nguội lạnh cả chí khí thật lại là đáng tiếc mà cũng đáng khinh.\n\nQuả thật \" Phong lưu là cạm ở đời, hồng nhan đánh bỏ con người tài hoa\" .\n\nNgười khôn mà lỡ mê thì cái dại to lắm. Trùng nhĩ lúc này, tưởng đã gần như ông\" lạc bất tư Thục\" (- - - Đời Tam Quốc nước Thục mất, vua là Lưu Thiện bị bắt sang ở Lạc Dương, vua Tấn hậu đãi Lưu Thiện, mỗi khi có yến ẩm.\n\nLưu Thiện vui cười như không. Vua Tấn hỏi: có nhớ nước Thục không? Lưu Thiện nói: \" Thử gian lạc bất tư thục đã\" nghĩa là ở đâu vui lắm, chẳng nhớ đến nước Thục nữa. - - - ) May thay cho Trùng Nhĩ gặp được bọn tòng vong biết lo xa tính sâu mà nhất là được bà vợ là người có kiến thức cao xa, có gan dạ quả quyết, biết rõ cái thói thường, \"Nhi nữ tình trường, anh hung khí đoản(\n\n- - - nghĩa là cái tình quyến luyến vợ con càng nồng nà đầm ấm bao nhiên thì cái khí phách anh hùng càng cùn mằn kém cỏi đi bất nhiêu- - - ) mà bà cố đẩy mãi cái bánh xe đã chệt bệt xuống đống bùn phải lăm quay cho kỳ được mới nghe. Nên ta khen cái chí Trung Nhĩ phục quốc bao nhiêu thì lại phải quý cái công lao Tử Phạm, phải trọng cái kiến thức, cái mưu trí của Khương Thị bấy nhiêu. Sao mà đời cổ có những thần, thiếp giỏi giang như thế!","giai_nghia":[":","Công tử: tiếng gọi con vua chư hầu, hay con quan to.","Tấn: tên nước lớn thời Xuân Thu, ở vào vùng tỉnh Sơn Tây, và một ít đất tỉnh Trục Lệ ngày nay.","Tòng vong: người theo vua chạy trốn, lúc có quốc nạn.","醉遣: 用酒灌醉然后送走。","四方之志: 远大的志向。","怀与安: 留恋安逸。","戈: 古代兵器。"],"tags":["历史","春秋","重耳","左传"]},{"id":227,"title_vi":"TƯỚI DƯA CHO NGƯỜI","title_zh_simp":"灌瓜","title_zh_trad":"灌瓜","title_pinyin":"Guàn guā","title_han_viet":"QUÁN QUA","title_en":"Watering the Melons for Others","source_book":"《賈子新書》","source_author":"賈誼","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"梁大夫宋就為邊縣令，與楚鄰界。梁之邊亭與楚之邊亭皆種瓜。梁亭人勤數灌其瓜，瓜美。楚亭人稀灌其瓜，瓜惡。楚令以梁瓜之美，怒其亭瓜之惡也。楚亭人心惡梁亭之賢己，因往夜竊搔梁亭之瓜，皆有死焦者矣。梁亭覺之，因請其尉，亦欲竊往報搔楚亭之瓜。尉以請宋就。就曰：“惡！是何可？構怨召禍之道也。人惡亦惡，何褊之甚也。若我教子，必每暮令人往，竊為楚亭夜善灌其瓜，勿令知也。”於是梁亭乃每暮夜竊灌楚亭之瓜。楚亭旦而行瓜，則又皆以灌矣，瓜日以美。楚亭怪而察之，則乃梁亭之為也。楚令聞之大悅，因具以聞楚王。楚王聞之，惄然愧，以意自閔也，告吏曰：“微搔瓜者，得無有他罪乎？此吾之不善也。”乃謝以重幣，而請交於梁王。梁王信楚王之誠，修好於楚。故梁楚之歡，由宋就始。語曰：“轉敗而為功，因禍而為福。”老子曰：“報怨以德。”此之謂也。夫人既不善，胡足效哉！","content_zh_trad":"梁大夫宋就為邊縣令，與楚鄰界。梁之邊亭與楚之邊亭皆種瓜。梁亭人勤數灌其瓜，瓜美。楚亭人稀灌其瓜，瓜惡。楚令以梁瓜之美，怒其亭瓜之惡也。楚亭人心惡梁亭之賢己，因往夜竊搔梁亭之瓜，皆有死焦者矣。梁亭覺之，因請其尉，亦欲竊往報搔楚亭之瓜。尉以請宋就。就曰：“惡！是何可？構怨召禍之道也。人惡亦惡，何褊之甚也。若我教子，必每暮令人往，竊為楚亭夜善灌其瓜，勿令知也。”於是梁亭乃每暮夜竊灌楚亭之瓜。楚亭旦而行瓜，則又皆以灌矣，瓜日以美。楚亭怪而察之，則乃梁亭之為也。楚令聞之大悅，因具以聞楚王。楚王聞之，惄然愧，以意自閔也，告吏曰：“微搔瓜者，得無有他罪乎？此吾之不善也。”乃謝以重幣，而請交於梁王。梁王信楚王之誠，修好於楚。故梁楚之歡，由宋就始。語曰：“轉敗而為功，因禍而為福。”老子曰：“報怨以德。”此之謂也。夫人既不善，胡足效哉！","content_pinyin":"Liáng dàfū Sòng Jiù wéi biān xiànlìng, yǔ Chǔ línjiè. Liáng zhī biāntíng yǔ Chǔ zhī biāntíng jiē zhòng guā. Liáng tíng rén qín shù guàn qí guā, guā měi. Chǔ tíng rén xī guàn qí guā, guā è. Chǔ lìng yǐ Liáng guā zhī měi, nù qí tíng guā zhī è yě. Chǔ tíng rén xīn è Liáng tíng zhī xián jǐ, yīn wǎng yè qiè sāo Liáng tíng zhī guā, jiē yǒu sǐ jiāo zhě yǐ. Liáng tíng jué zhī, yīn qǐng qí wèi, yì yù qiè wǎng bào sāo Chǔ tíng zhī guā. Wèi yǐ qǐng Sòng Jiù. Jiù yuē: “Wù! Shì hé kě? Gòu yuàn zhào huò zhī dào yě. Rén è yì è, hé biǎn zhī shèn yě. Ruò wǒ jiào zǐ, bì měi mù lìng rén wǎng, qiè wèi Chǔ tíng yè shàn guàn qí guā, wù lìng zhī yě.” Yúshì Liáng tíng nǎi měi mù yè qiè guàn Chǔ tíng zhī guā. Chǔ tíng dàn ér xíng guā, zé yòu jiē yǐ guàn yǐ, guā rì yǐ měi. Chǔ tíng guài ér chá zhī, zé nǎi Liáng tíng zhī wèi yě. Chǔ lìng wén zhī dà yuè, yīn jù yǐ wén Chǔ wáng. Chǔ wáng wén zhī, nì rán kuì, yǐ yì zì mǐn yě, gào lì yuē: “Wēi sāo guā zhě, dé wú yǒu tā zuì hū? Cǐ wú zhī bù shàn yě.” Nǎi xiè yǐ zhòng bì, ér qǐng jiāo yú Liáng wáng. Liáng wáng xìn Chǔ wáng zhī chéng, xiū hǎo yú Chǔ. Gù Liáng Chǔ zhī huān, yóu Sòng Jiù shǐ. Yǔ yuē: “Zhuǎn bài ér wéi gōng, yīn huò ér wéi fú.” Lǎo zǐ yuē: “Bào yuàn yǐ dé.” Cǐ zhī wèi yě. Fū rén jì bù shàn, hú zú xiào zāi!","content_han_viet":"Lương đại phu Tống Tựu vi biên huyện lệnh, dữ Sở lân giới. Lương chi biên đình dữ Sở chi biên đình giai chủng qua. Lương đình nhân cần sổ quán kỳ qua, qua mỹ. Sở đình nhân hi quán kỳ qua, qua ác. Sở lệnh dĩ Lương qua chi mỹ, nộ kỳ đình qua chi ác dã. Sở đình nhân tâm ác Lương đình chi hiền kỷ, nhân vãng dạ thiết tao Lương đình chi qua, giai hữu tử tiêu giả hĩ. Lương đình giác chi, nhân thỉnh kỳ úy, diệc dục thiết vãng báo tao Sở đình chi qua. Úy dĩ thỉnh Tống Tựu. Tựu viết: “Ố! Thị hà khả? Cấu oán triệu họa chi đạo dã. Nhân ác diệc ác, hà biển chi thậm dã. Nhược ngã giáo tử, tất mỗi mộ lệnh nhân vãng, thiết vi Sở đình dạ thiện quán kỳ qua, vật linh tri dã.” Vu thị Lương đình nãi mỗi mộ dạ thiết quán Sở đình chi qua. Sở đình đán nhi hành qua, tắc hựu giai dĩ quán hĩ, qua nhật dĩ mỹ. Sở đình quái nhi sát chi, tắc nãi Lương đình chi vi dã. Sở lệnh văn chi đại duyệt, nhân cụ dĩ văn Sở vương. Sở vương văn chi, nục nhiên quý, dĩ ý tự mẫn dã, cáo lại viết: “Vi tao qua giả, đắc vô hữu tha tội hồ? Thử ngô chi bất thiện dã.” Nãi tạ dĩ trọng tệ, nhi thỉnh giao vu Lương vương. Lương vương tín Sở vương chi thành, tu hảo vu Sở. Cố Lương Sở chi hoan, do Tống Tựu thủy. Ngữ viết: “Chuyển bại nhi vi công, nhân họa nhi vi phúc.” Lão Tử viết: “Báo oán dĩ đức.” Thử chi vị dã. Phù nhân ký bất thiện, hồ túc hiệu tai!","content_vi":"Tống Tựu làm quan Roãn một huyện gần biên thùy nước Lương, chỗ giáp giới với nước Sở.\n\nNgười đình trưởng ở biên thùy nước Lương cùng người đình trưởng ở biên thùy nước Sở, hai người cùng trồng dưa. Người bên nước Lương chăm làm và tưới luôn nên dưa tốt. Người bên nước Sở biếng làm và tưới ít nên dưa xấu.\n\nQuan Roãn ở huyện biên thùy nước Sở, thấy bên Lương tốt, bên mình xấu, lấy làm tức giận lắm.\n\nNgười đình trưởng nước Sở thấy dưa bên Lương tốt hơn dưa mình, cũng sinh ra ghen ghét, đêm đêm cứ lẻn sang cào vò dưa của bên Lương, đến nỗi dưa bên ấy phải héo chết mất một ít.\n\nSau người đình trưởng nước Lương biết mới nói với người trưởng trong huyện, ý cũng muốn lẻn sang cào vò dưa bên Sở.\n\nNgười trưởng lại đem việc ấy nói với Tống Tựu Tống Tựu bảo:\n\nÔi! Sao lại thế! Thế chỉ là gây thù oán chuốc tai vạ thôi. Này ta bảo ngươi, chớ sang cào dưa của người ta, cứ đêm đêm lẻn sang tưới dưa cho người ta mà đừng để cho người ta biết.\n\nNgười đình trưởng cứ theo thế mà làm.\n\nSau dưa bên nước Sở mỗi ngày một tốt. Người đình trưởng nước Sở lấy làm lạ, xét mãi ra mới biết người đình trưởng nước Lương làm giúp.\n\nQuan Roãn nước Sở biết rõ việc ấy, lấy làm vui lòng, tâu lên vua Sở.\n\nVua Sở biết chuyện, buồn và có ý thẹn, nghĩ rằng:\n\nNgoài cái tội đi cào dưa của người ta, chắc còn có nhiều việc khác đáng tội với người ta nữa.\n\nVua bèn lấy nhiều của đưa sang tạ tội với vua Lương và xin giao hiếu.\n\nVua Lương cũng tin lòng. Thành hai nước giao hoan với nhau được lâu.\n\nCổ ngữ có câu: \" Chuyển bại nhi vi công, nhân họa nhi vi phúc\", nghĩa là xoay cái bại mà làm nên công, nhân cái họa mà gây phúc. Lão Tử có nói: \"\n\nBáo oàn dĩ đức\" nghĩa là đem đức để báo oán. Hai câu ấy tức như chuyện này.\n\nÔi! Người ta đã làm không phải, sao ta còn bắt chước người ta!","loi_ban_vi":"Lấy đức báo oán, lấy thiện cảm hóa ác, ấy là phép xử thế cao minh, biến thù thành bạn, chuyển họa thành phúc. Kẻ tiểu nhân chỉ biết trả đũa để hả giận, rốt cuộc chỉ chuốc lấy tai vạ mà thôi.","giai_nghia":[":","Quan Roãn: quan cai trị địa hạt tức như quan châu huyện gần đây.","Lương: một nước mạnh đời chiến quốc tức là nước Ngụy ở vào phĩa bắc Hà Nam, phía tây nam Sơn Tây ngày nay.","Biên thùy: chỗ đất chia giới hạn hai nước giáp nhau.","Sở: một nước mạnh đời Chiến quốc ở vào Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tô, Chiết Giang, và phía nam tỉnh Hà Nam ngày nay.","Đình trưởng: người chủ coi cái quán hành khách quan lại ở trọ. Đời cổ đường dài mười dặm đặt một cái đình để cho hành khách ở đây, nên người coi cái đình ấy gọi là đình trưởng.","邊亭 (biên đình): trạm gác nơi biên giới, nơi canh giữ biên thùy.","搔 (tao): cào, làm hư hại.","惄然 (nục nhiên): buồn bã, lo lắng.","報怨以德 (báo oán dĩ đức): lấy đức để đáp lại oán hờn, xuất phát từ Lão Tử, Đạo Đức Kinh."],"tags":["Đức trị","Xử thế","Báo oán bằng đức","Ngoại giao"]},{"id":228,"title_vi":"CÁCH BIẾT LÒNG NGƯỜI","title_zh_simp":"知人","title_zh_trad":"知人","title_pinyin":"Zhī rén","title_han_viet":"TRI NHÂN","title_en":"How to Know a Person's Heart","source_book":"《莊子》","source_author":"莊周","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"凡人心險於山川，難於知天。天猶有春秋冬夏旦暮之期，人者厚貌深情。故有貌愿而益，有長若不肖，有順懁而達，有堅而縵，有緩而釬。故其就義若渴者，其去義若熱。故君子遠使之而觀其忠，近使之而觀其敬，煩使之而觀其能，卒然問焉而觀其知，急與之期而觀其信，委之以財而觀其仁，告之以危而觀其節，醉之以酒而觀其側，雜之以處而觀其色。九徵至，不肖人得矣。","content_zh_trad":"凡人心險於山川，難於知天。天猶有春秋冬夏旦暮之期，人者厚貌深情。故有貌愿而益，有長若不肖，有順懁而達，有堅而縵，有緩而釬。故其就義若渴者，其去義若熱。故君子遠使之而觀其忠，近使之而觀其敬，煩使之而觀其能，卒然問焉而觀其知，急與之期而觀其信，委之以財而觀其仁，告之以危而觀其節，醉之以酒而觀其側，雜之以處而觀其色。九徵至，不肖人得矣。","content_pinyin":"Fán rén xīn xiǎn yú shānchuān, nán yú zhī tiān. Tiān yóu yǒu chūnqiū dōngxià dànmù zhī qī, rén zhě hòu mào shēn qíng. Gù yǒu mào yuàn ér yì, yǒu cháng ruò bùxiào, yǒu shùn xuān ér dá, yǒu jiān ér màn, yǒu huǎn ér hàn. Gù qí jiù yì ruò kě zhě, qí qù yì ruò rè. Gù jūnzǐ yuǎn shǐ zhī ér guān qí zhōng, jìn shǐ zhī ér guān qí jìng, fán shǐ zhī ér guān qí néng, cù rán wèn yān ér guān qí zhī, jí yǔ zhī qī ér guān qí xìn, wěi zhī yǐ cái ér guān qí rén, gào zhī yǐ wēi ér guān qí jié, zuì zhī yǐ jiǔ ér guān qí cè, zá zhī yǐ chù ér guān qí sè. Jiǔ zhēng zhì, bùxiào rén dé yǐ.","content_han_viet":"Phàm nhân tâm hiểm vu sơn xuyên, nan vu tri thiên. Thiên do hữu xuân thu đông hạ đán mộ chi kỳ, nhân giả hậu mạo thâm tình. Cố hữu mạo nguyện nhi ích, hữu trường nhược bất tiếu, hữu thuận quyên nhi đạt, hữu kiên nhi mạn, hữu hoãn nhi hãn. Cố kỳ tựu nghĩa nhược khát giả, kỳ khứ nghĩa nhược nhiệt. Cố quân tử viễn sử chi nhi quan kỳ trung, cận sử chi nhi quan kỳ kính, phiền sử chi nhi quan kỳ năng, tốt nhiên vấn yên nhi quan kỳ tri, cấp dữ chi kỳ nhi quan kỳ tín, ủy chi dĩ tài nhi quan kỳ nhân, cáo chi dĩ nguy nhi quan kỳ tiết, túy chi dĩ tửu nhi quan kỳ trắc, tạp chi dĩ xử nhi quan kỳ sắc. Cửu trưng chí, bất tiếu nhân đắc hĩ.","content_vi":"Lòng người ta nham hiểm hơn núi sông, khó biết hơn là biết trời.\n\nTrời thì hằng năm có xuân hạ thu đông, hàng này còn có buổi sáng, buổi tối, ta do đấy mà biết được.\n\nĐến như người ta thì có kẻ ngoài rõ như cẩn hậu mà trong thật kiêu căng, có kẻ trông rõ thật tài giỏi mà ngoài coi ra ngu độn, có kẻ rõ như vững vàng thư thái mà trong cuống rỗi nóng nảy. Tâm tính bên trong, diện mạo bên ngoài trái nhau khó lường như thế.\n\nCho nên quân tử dùng người cho ở xa để xem lòng trung, cho ở gần để xem lòng kính, sai làm nhiều việc để xem cái tài, hỏi lúc vội vàng để xem cái trí, hẹn cho ngặt ngày để xem có tín, ủy cho tiền của để xem có nhân, giao cho việc nguy biến để xem có tiết, cho đánh chén say sưa để xem cử chỉ, cho ở chỗ phiền tạp để xem thần sắc. Xem người đại khái như vậy, thì họa mới có thể biết được người.","loi_ban_vi":": Khéo thật! Người ta chỉ cách nhau một làn da, mà ai đã chắc biết được ai! Sông còn đò, núi còn đo được, vì nó biểu hiện ra bên ngoài,chớ lòng người ẩn phục bên trong, lấy gì mà cân nhắc, lấy gì mà lường xét. Cho nên ta chỉ trông thấy bề ngoài, thì ta chớ vội đã tin bên trong. Trong, ngoài thường khi trái hẳn nhau. Ta phải để tâm nhận cho kỹ, ta phải biết cách xem cho tường. Đoạn dưới bàn này, tác giả chính bảo cho ta cái cách ấy, là cái cách biết được người thế nào là trung, tín, là tài, trí, nhân tiết.v.v.. Cái cách ấy kể cũng không khó, chỉ cốt phải đưa người ta hẳn vào việc làm hay khiến người ta làm trái lại sự thực để dò biết sự thực.","giai_nghia":["厚貌深情 (hậu mạo thâm tình): bề ngoài dày dạn, tình cảm sâu kín, ý nói khó lường.","九徵 (cửu trưng): chín phép thử để biết người.","卒然 (tốt nhiên): đột nhiên, bất thình lình.","側 (trắc): chỉ hành vi, cử chỉ, đức hạnh."],"tags":["Nhân tâm","Tri nhân","Quân tử","Chín phép thử"]},{"id":229,"title_vi":"CÁCH LÀM CHO KHỎI TỨC GIẬN","title_zh_simp":"止怒之法","title_zh_trad":"止怒之法","title_pinyin":"Zhǐ nù zhī fǎ","title_han_viet":"CHỈ NỘ CHI PHÁP","title_en":"The Way to Stop Anger","source_book":"《抱朴子》","source_author":"葛洪","source_period":"Đông Tấn","content_zh_simp":"人之处世，遇横逆之来，当如行荆棘中，衣挂于刺，但徐徐解之而已。彼荆棘何知，而可怒乎？若能如此，则心无烦恼，怨尤自消。昔人有言：吾当以横逆之来，如虚舟之触，如飘风之过，思之何怒之有？孟子三自反，真保身之要，养性之方也。盖若只见人之非，则兄弟妻子朋友仆婢，乃至鸡犬，皆足令人愠怒。若事事能自反，则忿怒之来，十减其五。正如病热者之得清凉散也。","content_zh_trad":"人之處世，遇橫逆之來，當如行荊棘中，衣掛於刺，但徐徐解之而已。彼荊棘何知，而可怒乎？若能如此，則心無煩惱，怨尤自消。昔人有言：吾當以橫逆之來，如虛舟之觸，如飄風之過，思之何怒之有？孟子三自反，真保身之要，養性之方也。蓋若只見人之非，則兄弟妻子朋友僕婢，乃至雞犬，皆足令人慍怒。若事事能自反，則忿怒之來，十減其五。正如病熱者之得清涼散也。","content_pinyin":"Rén zhī chǔ shì, yù héng nì zhī lái, dāng rú xíng jīng jí zhōng, yī guà yú cì, dàn xú xú jiě zhī ér yǐ. Bǐ jīng jí hé zhī, ér kě nù hū? Ruò néng rú cǐ, zé xīn wú fán nǎo, yuàn yóu zì xiāo. Xī rén yǒu yán: wú dāng yǐ héng nì zhī lái, rú xū zhōu zhī chù, rú piāo fēng zhī guò, sī zhī hé nù zhī yǒu? Mèngzǐ sān zì fǎn, zhēn bǎo shēn zhī yào, yǎng xìng zhī fāng yě. Gài ruò zhǐ jiàn rén zhī fēi, zé xiōng dì qī zǐ péng yǒu pú bì, nǎi zhì jī quǎn, jiē zú lìng rén yùn nù. Ruò shì shì néng zì fǎn, zé fèn nù zhī lái, shí jiǎn qí wǔ. Zhèng rú bìng rè zhě zhī dé qīng liáng sàn yě.","content_han_viet":"Nhân chi xử thế, ngộ hoành nghịch chi lai, đương như hành kinh cức trung, y quải vu thích, đãn từ từ giải chi nhi dĩ. Bỉ kinh cức hà tri, nhi khả nộ hồ? Nhược năng như thử, tắc tâm vô phiền não, oán do tự tiêu. Tích nhân hữu ngôn: ngô đương dĩ hoành nghịch chi lai, như hư chu chi xúc, như phiêu phong chi quá, tư chi hà nộ chi hữu? Mạnh Tử tam tự phản, chân bảo thân chi yếu, dưỡng tính chi phương dã. Cái nhược chỉ kiến nhân chi phi, tắc huynh đệ thê tử bằng hữu bộ tỳ, nãi chí kê khuyển, giai túc linh nhân uẩn nộ. Nhược sự sự năng tự phản, tắc phẫn nộ chi lai, thập giảm kỳ ngũ. Chính như bệnh nhiệt giả chi đắc thanh lương tán dã.","content_vi":"Người ta ở đời, đối với loài người mà gặp phải kẻ xử với mình một cách ngang ngược, thì nên coi như đi trong bụi rậm, áo vướng phải gai, chỉ nên thong thả đứng lại, gỡ dần ra mà thôi. Cái gai góc kia có biết gì mà đáng giận?\n\nXử được như thế, thì tâm mình không phiền não mà bao nhiêu nỗi oán hận cũng tiêu tan được ngay. Cổ nhân có câu nói:\n\nTa nên coi những sự ngang ngược phạm đến ta như chiếc thuyền không lỡ đâm phải ta, như cơn gió dữ tạt phải ta, ta nghĩ cho cùng, có gì mà đáng giận.\n\nBa câu tự phản của ông Mạnh Tử thật là cái phép để giữ thân, cái phương để nuôi tính vậy.\n\nVì nếu ta chỉ một mực thấy cái trái của người, thì ngay như anh em, vợ con, bè bạn, tôi tớ cho đến con gà, con chó trong nhà, thật cũng có nhiều lúc đáng làm cho ta bực.\n\nNếu ta việc gì cũng biết tự phản thì sực tức giận mười phần giảm ngay năm phần. Thật chẳng khác nào như người đang phải bệnh nóng sốt mà uống thuốc thanh lương vậy.\n\nBảo Huấn","loi_ban_vi":"Phàm người đời, gặp kẻ ngang ngược, nên lấy lòng khoan dung mà đối đãi, chớ nên cố chấp mà tự chuốc lấy phiền não. Xét mình cho kỹ, thì giận dữ tự tiêu, tâm được thanh thản, ấy là phép dưỡng sinh vậy.","giai_nghia":[":","Ba câu tự phản: ba câu tự hỏi mình, xét lại mình đã thật là nhân hậu chưa, đã thật là lễ độ chưa, đã thật là khôn ngoan chưa.","Thanh lương: mát lạnh, tức là giải nhiệt.","横逆: ngang ngược, trái lẽ, chỉ sự đối xử bất công.","虚舟: thuyền rỗng, ý nói sự va chạm không cố ý.","三自反: ba điều tự xét lại mình, xuất phát từ Mạnh Tử: 'Ái nhân bất thân, phản kỳ nhân; trị nhân bất trì, phản kỳ trí; lễ nhân bất đáp, phản kỳ kính.'"],"tags":["tu dưỡng","kiềm chế","tự phản","Mạnh Tử"]},{"id":230,"title_vi":"TIỄN MỘT LỜI NÓI","title_zh_simp":"送人以言","title_zh_trad":"送人以言","title_pinyin":"Sòng rén yǐ yán","title_han_viet":"TỐNG NHÂN DĨ NGÔN","title_en":"Giving a Word as a Farewell Gift","source_book":"《孔子家语》","source_author":"王肃","source_period":"Ngụy Tấn","content_zh_simp":"孔子观周，遂入太祖后稷之庙。庙堂右阶之前，有金人焉，三缄其口，而铭其背曰：古之慎言人也。戒之哉！无多言，多言多败；无多事，多事多患。安乐必戒，无行所悔。勿谓何伤，其祸将长；勿谓何害，其祸将大；勿谓不闻，神将伺人。焰焰不灭，炎炎若何？涓涓不壅，终为江河。绵绵不绝，或成网罗。毫末不札，将寻斧柯。诚能慎之，福之根也。口是何伤？祸之门也。强梁者不得其死，好胜者必遇其敌。盗憎主人，民怨其上。君子知天下之不可上也，故下之；知众人之不可先也，故后之。温恭慎德，使人慕之；执雌持下，人莫逾之。人皆趋彼，我独守此；人皆或之，我独不徙。内藏我智，不示人技。我虽尊高，人莫害我。夫江河长百谷者，以其卑下也。天道无亲，常与善人。戒之哉！戒之哉！","content_zh_trad":"孔子觀周，遂入太祖后稷之廟。廟堂右階之前，有金人焉，三緘其口，而銘其背曰：古之慎言人也。戒之哉！無多言，多言多敗；無多事，多事多患。安樂必戒，無行所悔。勿謂何傷，其禍將長；勿謂何害，其禍將大；勿謂不聞，神將伺人。焰焰不滅，炎炎若何？涓涓不壅，終為江河。綿綿不絕，或成網羅。毫末不札，將尋斧柯。誠能慎之，福之根也。口是何傷？禍之門也。強梁者不得其死，好勝者必遇其敵。盜憎主人，民怨其上。君子知天下之不可上也，故下之；知眾人之不可先也，故後之。溫恭慎德，使人慕之；執雌持下，人莫逾之。人皆趨彼，我獨守此；人皆或之，我獨不徙。內藏我智，不示人技。我雖尊高，人莫害我。夫江河長百谷者，以其卑下也。天道無親，常與善人。戒之哉！戒之哉！","content_pinyin":"Kǒngzǐ guān Zhōu, suì rù Tàizǔ Hòujì zhī miào. Miàotáng yòu jiē zhī qián, yǒu jīn rén yān, sān jiān qí kǒu, ér míng qí bèi yuē: Gǔ zhī shèn yán rén yě. Jiè zhī zāi! Wú duō yán, duō yán duō bài; wú duō shì, duō shì duō huàn. Ānlè bì jiè, wú xíng suǒ huǐ. Wù wèi hé shāng, qí huò jiāng cháng; wù wèi hé hài, qí huò jiāng dà; wù wèi bù wén, shén jiāng cì rén. Yànyàn bù miè, yányán ruò hé? Juānjuān bù yōng, zhōng wéi jiānghé. Miánmián bù jué, huò chéng wǎngluó. Háomò bù zhā, jiāng xún fǔ kē. Chéng néng shèn zhī, fú zhī gēn yě. Kǒu shì hé shāng? Huò zhī mén yě. Qiángliáng zhě bù dé qí sǐ, hàoshèng zhě bì yù qí dí. Dào zēng zhǔrén, mín yuàn qí shàng. Jūnzǐ zhī tiānxià zhī bùkě shàng yě, gù xià zhī; zhī zhòngrén zhī bùkě xiān yě, gù hòu zhī. Wēn gōng shèn dé, shǐ rén mù zhī; zhí cí chí xià, rén mò yú zhī. Rén jiē qū bǐ, wǒ dú shǒu cǐ; rén jiē huò zhī, wǒ dú bù xǐ. Nèi cáng wǒ zhì, bù shì rén jì. Wǒ suī zūn gāo, rén mò hài wǒ. Fū jiānghé cháng bǎi gǔ zhě, yǐ qí bēi xià yě. Tiāndào wú qīn, cháng yǔ shàn rén. Jiè zhī zāi! Jiè zhī zāi!","content_han_viet":"Khổng Tử quan Chu, toại nhập Thái Tổ Hậu Tắc chi miếu. Miếu đường hữu giai chi tiền, hữu kim nhân yên, tam giam khẩu, nhi minh kỳ bối viết: Cổ chi thận ngôn nhân dã. Giới chi tai! Vô đa ngôn, đa ngôn đa bại; vô đa sự, đa sự đa hoạn. An lạc tất giới, vô hành sở hối. Vật vị hà thương, kỳ họa tương trường; vật vị hà hại, kỳ họa tương đại; vật vị bất văn, thần tương tự nhân. Diệm diệm bất diệt, viêm viêm nhược hà? Quyên quyên bất ung, chung vi giang hà. Miên miên bất tuyệt, hoặc thành võng la. Hào mạt bất trát, tương tầm phủ kha. Thành năng thận chi, phúc chi căn dã. Khẩu thị hà thương? Họa chi môn dã. Cường lương giả bất đắc kỳ tử, hiếu thắng giả tất ngộ kỳ địch. Đạo tăng chủ nhân, dân oán kỳ thượng. Quân tử tri thiên hạ chi bất khả thượng dã, cố hạ chi; tri chúng nhân chi bất khả tiên dã, cố hậu chi. Ôn cung thận đức, sử nhân mộ chi; chấp thư trì hạ, nhân mạc du chi. Nhân giai xu bỉ, ngã độc thủ thử; nhân giai hoặc chi, ngã độc bất tỉ. Nội tàng ngã trí, bất thị nhân kỹ. Ngã tuy tôn cao, nhân mạc hại ngã. Phu giang hà trường bách cốc giả, dĩ kỳ ti hạ dã. Thiên đạo vô thân, thường dữ thiện nhân. Giới chi tai! Giới chi tai!","content_vi":"Đức Khổng Tử ở nước Lỗ vào kinh đô nhà Chu, hỏi lễ ông Lão Đam, hỏi nhạc ông Trành Hoằng, xem xét cả giao xã, minh đường cùng triều đình, tôn miếu.\n\nKhi trở về, ông Lão Đam đưa chân có nói rằng:\n\n- Ta nghe người giàu sang tiễn người thì dùng của cải, người nhân hậu tiễn người thì dùng lời nói. Ta tuy không được giàu sang nhưng mang tiếng là người nhân hậu, vậy xin tiễn người một lời nói vậy.\n\nNày, phàm kẻ sĩ đời này, những người thông minh, sâu sắc, xét nét mà có khi thiệt mạng đều là kẻ hay chê bai, nghị luận tâm sự người ta cả; những người biện bác rộng rãi xa xôi mà có khi khổ thân đều là kẻ hay bới móc phơi bày tội lỗi người ta cả.\n\nĐức Khổng Tử nói: - Vâng, xin kính theo lời người dạy.\n\nKhi Đức Khổng Tử về đến nước Lỗ, đạo của ngài mỗi ngày một tôn, học trò của ngài mỗi ngày một đông.","loi_ban_vi":"Bài này làm ra có ý phơi bày cái học thuyết Khổng, Lão không giống nhau có nhiều điểm lại như phản đối hẳn. Đây là lời Lão Đam như có ý khuyên bảo Khổng Tử là người lúc bấy giờ hay đi chu du các nước định bày cái lẽ trái phải của vua các nước chư hầu, nếu cứ rằng nay đây mai đó như thế mãi thì có khi nguy đến tính mệnh. Câu cuối bài nói vì Lão Đam khuyên bảo như thế mà đạo Khổng Tử được đông hơn là vì Khổng Thị biết nghe lời Lão Thị, tự đó về chỉ chuyên có một mặt dạy học trò mà thôi.","giai_nghia":["Lỗ: tên một nước nhỏ, có tự đời nhà Chu sau phải nước Sở diệt mất, ở vào phủ Duyên Châu và Bĩ tức tỉnh Sơn Đông ngày nay.","Chu: tên chỗ kinh đô thiên tử nhà Chu đóng","Lão Đam: tức là Lão Tử, họ Lý tên Nhi tự là Bá Dương, tổ Đạo gia.","Tranh Hoằng: người đời nhà Chu, làm chức đại phu, sau có tội bị giết.","Giao: nơi vua tế trời về ngày đông chí, cho nên tế giao tức là tế trời.","Xã: nơi vua tế đất về ngày hạ chí, cho nên tế xã gọi là tế đất","Minh đường: nhà của vua, đời cổ làm ra nhà ấy để bày tỏ công việc chính giáo, cùng làm những điền lễ lớn.","金人: pho tượng bằng kim loại, tương truyền là tượng người có miệng bị bịt kín để khuyên con người cẩn ngôn.","三缄其口: ba lần bịt miệng, ý nói hết sức cẩn thận lời ăn tiếng nói.","后稷: Hậu Tắc, tổ tiên của nhà Chu, được coi là thần nông.","强梁: kẻ mạnh bạo, ngang ngược."],"tags":["Khổng Tử","Lão Tử","cẩn ngôn","đạo đức"]},{"id":231,"title_vi":"QUÝ LỜI NÓI PHẢI","title_zh_simp":"贵直言","title_zh_trad":"貴直言","title_pinyin":"Guì zhí yán","title_han_viet":"QUÝ TRỰC NGÔN","title_en":"Valuing Right Words","source_book":"《尸子》","source_author":"尸佼","source_period":"战国时期","content_zh_simp":"晋平公游于河而乐，曰：“安得贤士与之乐此也？”船人盍胥跪而对曰：“主君亦不好士耳。昔者，华元、子皮、叔向、子产，皆贤士也。今主君独无，何也？”公曰：“吾有大夫栾武子，其贤，吾任之；有大夫中行献子，其贤，吾任之；有大夫叔向，其贤，吾任之。吾何谓无士也？”对曰：“臣闻之，邻国之民，有贤者，必往求之。今主君之贤，臣未见也。昔者，赵武、魏绛、韩厥，皆贤士也，主君不能用，而独任栾武子，此其所以亡也。且栾氏之孤，其未死乎？臣恐其为患也。”公惧，曰：“奈何？”对曰：“主君诚能反其政，修其德，则栾氏之孤，不足患也；若不能，则臣恐舟中之人，皆为栾氏也。”公曰：“善。”明日，召盍胥而赐之田万顷。盍胥辞曰：“臣以一言而受万顷之田，是臣卖言也。”公曰：“吾闻君子不卖言，然子之言，利吾国甚大，吾是以赏子。”盍胥乃受之。","content_zh_trad":"晉平公遊於河而樂，曰：“安得賢士與之樂此也？”船人盍胥跪而對曰：“主君亦不好士耳。昔者，華元、子皮、叔向、子產，皆賢士也。今主君獨無，何也？”公曰：“吾有大夫欒武子，其賢，吾任之；有大夫中行獻子，其賢，吾任之；有大夫叔向，其賢，吾任之。吾何謂無士也？”對曰：“臣聞之，鄰國之民，有賢者，必往求之。今主君之賢，臣未見也。昔者，趙武、魏絳、韓厥，皆賢士也，主君不能用，而獨任欒武子，此其所以亡也。且欒氏之孤，其未死乎？臣恐其為患也。”公懼，曰：“奈何？”對曰：“主君誠能反其政，修其德，則欒氏之孤，不足患也；若不能，則臣恐舟中之人，皆為欒氏也。”公曰：“善。”明日，召盍胥而賜之田萬頃。盍胥辭曰：“臣以一言而受萬頃之田，是臣賣言也。”公曰：“吾聞君子不賣言，然子之言，利吾國甚大，吾是以賞子。”盍胥乃受之。","content_pinyin":"Jìn píng gōng yóu yú hé ér lè, yuē: “Ān dé xián shì yǔ zhī lè cǐ yě?” Chuán rén Hé Xū guì ér duì yuē: “Zhǔ jūn yì bù hǎo shì ěr. Xī zhě, Huá Yuán, Zǐ Pí, Shū Xiàng, Zǐ Chǎn, jiē xián shì yě. Jīn zhǔ jūn dú wú, hé yě?” Gōng yuē: “Wú yǒu dàfū Luán Wǔzǐ, qí xián, wú rèn zhī; yǒu dàfū Zhōngxíng Xiànzǐ, qí xián, wú rèn zhī; yǒu dàfū Shū Xiàng, qí xián, wú rèn zhī. Wú hé wèi wú shì yě?” Duì yuē: “Chén wén zhī, lín guó zhī mín, yǒu xián zhě, bì wǎng qiú zhī. Jīn zhǔ jūn zhī xián, chén wèi jiàn yě. Xī zhě, Zhào Wǔ, Wèi Jiàng, Hán Jué, jiē xián shì yě, zhǔ jūn bù néng yòng, ér dú rèn Luán Wǔzǐ, cǐ qí suǒ yǐ wáng yě. Qiě Luán shì zhī gū, qí wèi sǐ hū? Chén kǒng qí wéi huàn yě.” Gōng jù, yuē: “Nài hé?” Duì yuē: “Zhǔ jūn chéng néng fǎn qí zhèng, xiū qí dé, zé Luán shì zhī gū, bù zú huàn yě; ruò bù néng, zé chén kǒng zhōu zhōng zhī rén, jiē wéi Luán shì yě.” Gōng yuē: “Shàn.” Míng rì, zhào Hé Xū ér cì zhī tián wàn qǐng. Hé Xū cí yuē: “Chén yǐ yī yán ér shòu wàn qǐng zhī tián, shì chén mài yán yě.” Gōng yuē: “Wú wén jūnzǐ bù mài yán, rán zǐ zhī yán, lì wú guó shèn dà, wú shì yǐ shǎng zǐ.” Hé Xū nǎi shòu zhī.","content_han_viet":"Tấn Bình Công du vu hà nhi lạc, viết: “An đắc hiền sĩ dữ chi lạc thử dã?” Thuyền nhân Hạp Thư quỵ nhi đối viết: “Chủ quân diệc bất hiếu sĩ nhĩ. Tích giả, Hoa Nguyên, Tử Bì, Thúc Hướng, Tử Sản, giai hiền sĩ dã. Kim chủ quân độc vô, hà dã?” Công viết: “Ngô hữu đại phu Loan Vũ Tử, kỳ hiền, ngô nhậm chi; hữu đại phu Trung Hàng Hiến Tử, kỳ hiền, ngô nhậm chi; hữu đại phu Thúc Hướng, kỳ hiền, ngô nhậm chi. Ngô hà vị vô sĩ dã?” Đối viết: “Thần văn chi, lân quốc chi dân, hữu hiền giả, tất vãng cầu chi. Kim chủ quân chi hiền, thần vị kiến dã. Tích giả, Triệu Vũ, Ngụy Giáng, Hàn Quyết, giai hiền sĩ dã, chủ quân bất năng dụng, nhi độc nhậm Loan Vũ Tử, thử kỳ sở dĩ vong dã. Thả Loan thị chi cô, kỳ vị tử hồ? Thần khủng kỳ vi hoạn dã.” Công cụ, viết: “Nại hà?” Đối viết: “Chủ quân thành năng phản kỳ chính, tu kỳ đức, tắc Loan thị chi cô, bất túc hoạn dã; nhược bất năng, tắc thần khủng chu trung chi nhân, giai vi Loan thị dã.” Công viết: “Thiện.” Minh nhật, triệu Hạp Thư nhi tứ chi điền vạn khoảnh. Hạp Thư từ viết: “Thần dĩ nhất ngôn nhi thụ vạn khoảnh chi điền, thị thần mại ngôn dã.” Công viết: “Ngô văn quân tử bất mại ngôn, nhiên tử chi ngôn, lợi ngô quốc thậm đại, ngô thị dĩ thưởng tử.” Hạp Thư nãi thụ chi.","content_vi":"Vua nước Tấn đi chơi thuyền. Các quan đi hầu đông đủ cả.\n\nVua hỏi: Loan Doanh ta đã cấm cố một nơi, con là Loan Phường trốn chạy ra ngoại quốc. Có ai biết Loan Phường bây giở ở đâu không?\n\nCác quan yên lặng, không ai nói gì cả.\n\nNgười lái thuyền tên là Thanh Quyên buông tay chèo đứng dậy thưa rằng:\n\n- Nhà vua hỏi Loan Phường làm gì?\n\nVua nói: - Từ khi ta đánh được họ Loan đến nay, nghe họ Loan người già chưa chết hết, người trẻ đã lớn lên. Ta lo họ phục thù, cho nên ta mới hỏi.\n\nThanh Quyên: - Nếu nhà vua khéo sửa sang chính sách nước Tấn, trong được lòng quan, ngoài được lòng dân, thì dù cho còn con họ nhà Loan mà làm gì được nhà vua. Nhưng nếu nhà vua không sửa sang chính sách nước Tấn, trong mất lòng quan, ngoài mất lòng dân thì ngay cả những người ngồi trong thuyền này ai cũng là con nhà họ Loan cả.\n\nVua khen: - Ngươi nói phải lắm.\n\nRồi sáng hôm sau cho đòi Thanh Quyên đến, ban cho một vạn mẫu ruộng.\n\nThanh Quyên từ không nhận.\n\nVua nói: - Lấy một vạn mẫu ruộng ấy đổi lấy một lời nói kia, kể ra nhà người còn thiệt mà quả nhân còn lợi nhiều, nhà ngươi cứ lấy.\n\nẤy người đời cổ quý lời nói phải như thế đấy.","loi_ban_vi":"Sợ người phục thù mà muốn giết chết hết cả họ người ta, thế là tàn nhẫn mà đã chắc trừ hẳn được hết mối oán thù chưa, hay lại chỉ gây cho mối oán thù ngày càng to lên. Kẻ có quyền thế chỉ có thể giết chết người, chớ có bao giờ giết chết được lòng người. Cho nên lo sợ như vua Tấn đây chỉ là biết lo sợ người ngoài muốn làm hại mình mà thôi. Sao cho bằng phòng bị như Thanh Quyên, mới là biết tự làm cho mình khỏe hơn. Sợ người nhưng người chẳng nể mình thì sợ sao cho được, chớ làm cho mình khỏe, dù cho người ngoài đáng sợ cũng không cần sợ. Khi mình là người có đức và có sức thì ai cũng là bạn mình cả, dù có cừu địch, cừu địch cũng không làm gì nổi. Chớ nếu mình tàn ác thì đến cả những người ở ngay bên mình cũng thành ra cừu địch mà hại mình được cả. Thanh Quyên bày tỏ cái ý ấy rất phải mà vua Tấn biết nghe cũng là đáng khen lắm vậy.","giai_nghia":["Tấn: tên một nước thời Xuân Thu, ở vào vùng Sơn Tây ngày nay.","Loan Doanh: người nước Tấn, thời Xuân Thu, làm quan hạ khanh sau phải tội giết cả họ.","Cầm cố: giam cầm riêng một nơi rất là nghiêm ngặt.","Thi Tử: người nước Lỗ đời nhà Chu, thầy học Thương Ưởng, có làm sách hai mươi thiên.","晋平公: Duke Ping of Jin, a ruler of the state of Jin during the Spring and Autumn period.","盍胥: He Xu, a boatman who gave wise counsel.","栾氏: The Luan family, a powerful noble clan in Jin."],"tags":["wisdom","counsel","virtue","governance"]},{"id":232,"title_vi":"TƯ TƯỞNG LÃO TỬ","title_zh_simp":"老子思想","title_zh_trad":"老子思想","title_pinyin":"Lǎo zǐ sī xiǎng","title_han_viet":"LÃO TỬ TƯ TƯỞNG","title_en":"The Thought of Laozi","source_book":"《道德经》","source_author":"老子","source_period":"春秋时期","content_zh_simp":"1. 天下皆知美之为美，斯恶已；皆知善之为善，斯不善已。\n2. 是以圣人后其身而身先，外其身而身存。非以其无私邪？故能成其私。\n3. 知其雄，守其雌，为天下谿。知其白，守其黑，为天下式。知其荣，守其辱，为天下谷。\n4. 为学日益，为道日损。损之又损，以至于无为。\n5. 和其光，同其尘，是谓玄同。\n6. 我有三宝，持而保之：一曰慈，二曰俭，三曰不敢为天下先。\n7. 吾所以有大患者，为吾有身，及吾无身，吾有何患？","content_zh_trad":"1. 天下皆知美之為美，斯惡已；皆知善之為善，斯不善已。\n2. 是以聖人後其身而身先，外其身而身存。非以其無私邪？故能成其私。\n3. 知其雄，守其雌，為天下谿。知其白，守其黑，為天下式。知其榮，守其辱，為天下谷。\n4. 為學日益，為道日損。損之又損，以至於無為。\n5. 和其光，同其塵，是謂玄同。\n6. 我有三寶，持而保之：一曰慈，二曰儉，三曰不敢為天下先。\n7. 吾所以有大患者，為吾有身，及吾無身，吾有何患？","content_pinyin":"1. Tiānxià jiē zhī měi zhī wéi měi, sī è yǐ; jiē zhī shàn zhī wéi shàn, sī bù shàn yǐ.\n2. Shì yǐ shèngrén hòu qí shēn ér shēn xiān, wài qí shēn ér shēn cún. Fēi yǐ qí wú sī xié? Gù néng chéng qí sī.\n3. Zhī qí xióng, shǒu qí cí, wéi tiānxià xī. Zhī qí bái, shǒu qí hēi, wéi tiānxià shì. Zhī qí róng, shǒu qí rǔ, wéi tiānxià gǔ.\n4. Wéi xué rì yì, wéi dào rì sǔn. Sǔn zhī yòu sǔn, yǐ zhì yú wúwéi.\n5. Hé qí guāng, tóng qí chén, shì wèi xuán tóng.\n6. Wǒ yǒu sān bǎo, chí ér bǎo zhī: yī yuē cí, èr yuē jiǎn, sān yuē bù gǎn wéi tiānxià xiān.\n7. Wú suǒ yǐ yǒu dà huàn zhě, wèi wú yǒu shēn, jí wú wú shēn, wú yǒu hé huàn?","content_han_viet":"1. Thiên hạ giai tri mỹ chi vi mỹ, tư ác dĩ; giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ.\n2. Thị dĩ thánh nhân hậu kỳ thân nhi thân tiên, ngoại kỳ thân nhi thân tồn. Phi dĩ kỳ vô tư tà? Cố năng thành kỳ tư.\n3. Tri kỳ hùng, thủ kỳ thư, vi thiên hạ khê. Tri kỳ bạch, thủ kỳ hắc, vi thiên hạ thức. Tri kỳ vinh, thủ kỳ nhục, vi thiên hạ cốc.\n4. Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn. Tổn chi hựu tổn, dĩ chí vu vô vi.\n5. Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần, thị vị huyền đồng.\n6. Ngã hữu tam bảo, trì nhi bảo chi: nhất viết từ, nhị viết kiệm, tam viết bất cảm vi thiên hạ tiên.\n7. Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vi ngô hữu thân, cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn?","content_vi":"1. Cái đẹp mà đến thiên hạ đua nhau cho là đẹp là cái đẹp rất xấu. Cái hay mà đến thiên hạ mượn tiếng để làm hay là cái hay rất dở.\n\n2. Để thân lại sau mà thân được ở trước, gác thân ra ngoài mà thân vẫn còn mãi. Thế chẳng phải là bởi mình không có lòng riêng cho nên mới được thỏa lòng riêng ư?\n\n3. Tuy là cương cường nhưng giữ tính mềm dẻo. Tuy là sáng sủa, nhưng giữ cách ngu tối. Tuy là vinh hiển nhưng giữ lối tầm thường.\n\n4. Học cho rộng trí không thì ngày một hay. Tìm lẽ huyền bí, lâu hóa vẩn vơ, thì một ngày một dở.\n\n5. Trộn lẫn cái hay của mình với đời để làm thân thiết; cùng chịu cái dở của đời với mình mà vẫn trong sạch.\n\n6. Có ba điều quý báu: một là từ, hai là kiệm, ba là chẳng dám phạm vào việc bất tường của thiên hạ.\n\n7. Ta mà lo phiền, sợ hãi vì ta có thân ta, đến khi ta đã không có thân ta, thì ta còn có lo phiền, sợ hãi gì nữa.","loi_ban_vi":"Ba câu trên là nói ngược lại cái thói đời. Câu 1 cái ngược ấy là dở, câu 2 và 3 cái ngược ấy lợi cho mình, câu 4 nói cách học hành, câu 5 nói cách xử thế, câu 6 nói các đức tính nên có, câu 7 nói sự lụy thân. Những câu vặt này tuy mỗi câu nói môt việc nhưng tựu trung câu nào cũng hàm xúc một cái tư tưởng vô danh, vô vi là cái tôn chỉ của Đạo Lão.\n\nĐạo của Lão Tử cốt ở vô vi. Muốn cho thành được vô vi, thì người ta trước hết phải vô dục, vô cầu, vô tranh, vô danh như những câu nói trong bài này.\n\nKhi đã được như thế, thì mỗi cảnh có một cái thú cho mình, cái sướng cho người, loài người ở với nhau được hòa bình mà không mấy khi xảy ra sự tàn hại lẫn nhau nữa, Quý thật! Đến đem cái đức mà báo oán, thì còn oán nào mà chẳng tan!","giai_nghia":["美之为美: The recognition of beauty as beauty, which leads to the concept of ugliness.","后其身而身先: Putting oneself behind, yet being in front; a paradox of selflessness.","三宝: The three treasures: compassion, frugality, and humility."],"tags":["Daoism","Laozi","philosophy","wu wei"]},{"id":233,"title_vi":"LÀM NHÀ CỎ CŨNG ĐỦ","title_zh_simp":"草舍亦足","title_zh_trad":"草舍亦足","title_pinyin":"Cǎo shè yì zú","title_han_viet":"THẢO XÁ DIỆC TÚC","title_en":"A Thatched Hut Suffices","source_book":"《左传》","source_author":"左丘明","source_period":"春秋","content_zh_simp":"郑伯如楚，子产相，使尽坏其馆之垣而纳车马焉。士文伯让之，曰：“敝邑以政刑之不修，寇盗充斥，是以令吏人完客所馆，高其闬闳，厚其墙垣，以无忧客使。今吾子坏之，虽从者能戒，其若异客何？以敝邑之为盟主，缮完葺墙，以待宾客。若皆毁之，其何以共命？寡君使匄请命。”对曰：“以敝邑褊小，介于大国，诛求无时，是以不敢宁居，悉索敝赋，以来会时事。逢执事之不闲，而未得见；又不获闻命，未知见时。不敢输币，亦不敢暴露。其输之，则君之府实也，非荐陈之，不敢输也。其暴露之，则恐燥湿之不时而朽蠹，以重敝邑之罪。侨闻文公之为盟主也，宫室卑庳，无观台榭，以崇大诸侯之馆，馆如公寝；库厩缮修，司空以时平易道路，圬人以时塓馆宫室；诸侯宾至，甸设庭燎，仆人巡宫，车马有所，宾从有代，巾车脂辖，隶人牧圉，各瞻其事；百官之属，各展其物。公不留宾，而亦无废事，忧乐同之，事则巡之，教其不知，而恤其不足。宾至如归，无宁菑患，不畏寇盗，而亦不患燥湿。今铜鞮之宫数里，而诸侯舍于隶人，门不容车，而不可逾越；盗贼公行，而夭疠不戒。宾见无时，命不可知。若又勿坏，是无所藏币以重罪也。敢请执事，将何以命之？虽君之有鲁丧，亦敝邑之忧也。若获荐币，修垣而行，君之惠也，敢惮勤劳？”文伯复命。赵文子曰：“信。我实不德，而以隶人之垣以赢诸侯，是吾罪也。”使士文伯谢不敏焉。晋侯见郑伯，有加礼，厚其宴好而归之。乃筑诸侯之馆。叔向曰：“辞之不可以已也如是夫！子产有辞，诸侯赖之，若之何其释辞也？《诗》曰：‘辞之辑矣，民之协矣；辞之怿矣，民之莫矣。’其知之矣。”","content_zh_trad":"鄭伯如楚，子產相，使盡壞其館之垣而納車馬焉。士文伯讓之，曰：“敝邑以政刑之不修，寇盜充斥，是以令吏人完客所館，高其閈閎，厚其牆垣，以無憂客使。今吾子壞之，雖從者能戒，其若異客何？以敝邑之為盟主，繕完葺牆，以待賓客。若皆毀之，其何以共命？寡君使匄請命。”對曰：“以敝邑褊小，介於大國，誅求無時，是以不敢寧居，悉索敝賦，以來會時事。逢執事之不閒，而未得見；又不獲聞命，未知見時。不敢輸幣，亦不敢暴露。其輸之，則君之府實也，非薦陳之，不敢輸也。其暴露之，則恐燥濕之不時而朽蠹，以重敝邑之罪。僑聞文公之為盟主也，宮室卑庳，無觀臺榭，以崇大諸侯之館，館如公寢；庫廄繕修，司空以時平易道路，圬人以時塓館宮室；諸侯賓至，甸設庭燎，僕人巡宮，車馬有所，賓從有代，巾車脂轄，隸人牧圉，各瞻其事；百官之屬，各展其物。公不留賓，而亦無廢事，憂樂同之，事則巡之，教其不知，而恤其不足。賓至如歸，無寧菑患，不畏寇盜，而亦不患燥濕。今銅鞮之宮數里，而諸侯舍於隸人，門不容車，而不可逾越；盜賊公行，而夭癘不戒。賓見無時，命不可知。若又勿壞，是無所藏幣以重罪也。敢請執事，將何以命之？雖君之有魯喪，亦敝邑之憂也。若獲薦幣，修垣而行，君之惠也，敢憚勤勞？”文伯復命。趙文子曰：“信。我實不德，而以隸人之垣以贏諸侯，是吾罪也。”使士文伯謝不敏焉。晉侯見鄭伯，有加禮，厚其宴好而歸之。乃築諸侯之館。叔向曰：“辭之不可以已也如是夫！子產有辭，諸侯賴之，若之何其釋辭也？《詩》曰：‘辭之輯矣，民之協矣；辭之懌矣，民之莫矣。’其知之矣。”","content_pinyin":"Zhèng bó rú Chǔ, Zǐchǎn xiàng, shǐ jìn huài qí guǎn zhī yuán ér nà chē mǎ yān. Shì Wénbó ràng zhī, yuē: “Bì yì yǐ zhèng xíng zhī bù xiū, kòu dào chōng chì, shì yǐ lìng lì rén wán kè suǒ guǎn, gāo qí hàn hóng, hòu qí qiáng yuán, yǐ wú yōu kè shǐ. Jīn wú zǐ huài zhī, suī cóng zhě néng jiè, qí ruò yì kè hé? Yǐ bì yì zhī wéi méng zhǔ, shàn wán qì qiáng, yǐ dài bīn kè. Ruò jiē huǐ zhī, qí hé yǐ gòng mìng? Guǎ jūn shǐ Gài qǐng mìng.” Duì yuē: “Yǐ bì yì biǎn xiǎo, jiè yú dà guó, qiú zhū wú shí, shì yǐ bù gǎn níng jū, xī suǒ bì fù, yǐ lái huì shí shì. Féng zhí shì zhī bù xián, ér wèi dé jiàn; yòu bù huò wén mìng, wèi zhī jiàn shí. Bù gǎn shū bì, yì bù gǎn pù lù. Qí shū zhī, zé jūn zhī fǔ shí yě, fēi jiàn chén zhī, bù gǎn shū yě. Qí pù lù zhī, zé kǒng zào shī zhī bù shí ér xiǔ dù, yǐ zhòng bì yì zhī zuì. Qiáo wén Wén gōng zhī wéi méng zhǔ yě, gōng shì bēi bì, wú guān tái xiè, yǐ chóng dà zhū hóu zhī guǎn, guǎn rú gōng qǐn; kù jiù shàn xiū, sī kōng yǐ shí píng yì dào lù, wū rén yǐ shí mì guǎn gōng shì; zhū hóu bīn zhì, diàn shè tíng liáo, pú rén xún gōng, chē mǎ yǒu suǒ, bīn cóng yǒu dài, jīn chē zhī xiá, lì rén mù yǔ, gè zhān qí shì; bǎi guān zhī shǔ, gè zhǎn qí wù. Gōng bù liú bīn, ér yì wú fèi shì, yōu lè tóng zhī, shì zé xún zhī, jiào qí bù zhī, ér xù qí bù zú. Bīn zhì rú guī, wú níng zāi huàn, bù wèi kòu dào, ér yì bù huàn zào shī. Jīn tóng dī zhī gōng shù lǐ, ér zhū hóu shè yú lì rén, mén bù róng chē, ér bù kě yú yuè; dào zéi gōng xíng, ér yāo lì bù jiè. Bīn jiàn wú shí, mìng bù kě zhī. Ruò yòu wù huài, shì wú suǒ cáng bì yǐ zhòng zuì yě. Gǎn qǐng zhí shì, jiāng hé yǐ mìng zhī? Suī jūn zhī yǒu Lǔ sàng, yì bì yì zhī yōu yě. Ruò huò jiàn bì, xiū yuán ér xíng, jūn zhī huì yě, gǎn dàn qín láo?” Wénbó fù mìng. Zhào Wénzǐ yuē: “Xìn. Wǒ shí bù dé, ér yǐ lì rén zhī yuán yǐ yíng zhū hóu, shì wú zuì yě.” Shǐ Shì Wénbó xiè bù mǐn yān. Jìn hóu jiàn Zhèng bó, yǒu jiā lǐ, hòu qí yàn hǎo ér guī zhī. Nǎi zhù zhū hóu zhī guǎn. Shū Xiàng yuē: “Cí zhī bù kě yǐ yǐ yě rú shì fū! Zǐchǎn yǒu cí, zhū hóu lài zhī, ruò zhī hé qí shì cí yě? 《Shī》 yuē: ‘Cí zhī jí yǐ, mín zhī xié yǐ; cí zhī yì yǐ, mín zhī mò yǐ.’ Qí zhī zhī yǐ.”","content_han_viet":"Trịnh bá như Sở, Tử Sản tướng, sử tận hoại kỳ quán chi viên nhi nạp xa mã yên. Sĩ Văn Bá nhượng chi, viết: “Tệ ấp dĩ chính hình chi bất tu, khấu đạo sung xích, thị dĩ lệnh lại nhân hoàn khách sở quán, cao kỳ hãn hoằng, hậu kỳ tường viên, dĩ vô ưu khách sứ. Kim ngô tử hoại chi, tuy tòng giả năng giới, kỳ nhược dị khách hà? Dĩ tệ ấp chi vi minh chủ, thiện hoàn tập tường, dĩ đãi tân khách. Nhược giai hủy chi, kỳ hà dĩ cộng mệnh? Quả quân sử Cái thỉnh mệnh.” Đối viết: “Dĩ tệ ấp biển tiểu, giới vu đại quốc, cù cầu vô thì, thị dĩ bất cảm ninh cư, tất sách tệ phú, dĩ lai hội thì sự. Phùng chấp sự chi bất nhàn, nhi vị đắc kiến; hựu bất hoạch văn mệnh, vị tri kiến thì. Bất cảm thâu tệ, diệc bất cảm bộc lộ. Kỳ thâu chi, tắc quân chi phủ thực dã, phi tiến trần chi, bất cảm thâu dã. Kỳ bộc lộ chi, tắc khủng táo thấp chi bất thì nhi hủ đố, dĩ trọng tệ ấp chi tội. Kiều văn Văn công chi vi minh chủ dã, cung thất ty ti, vô quan đài tạ, dĩ sùng đại chư hầu chi quán, quán như công tẩm; khố cứu thiện tu, tư không dĩ thì bình dịch đạo lộ, ô nhân dĩ thì mịch quán cung thất; chư hầu tân chí, điến thiết đình liêu, bộ nhân tuần cung, xa mã hữu sở, tân tòng hữu đại, cân xa chi hạt, lệ nhân mục ngữ, các chiêm kỳ sự; bách quan chi thuộc, các triển kỳ vật. Công bất lưu tân, nhi diệc vô phế sự, ưu lạc đồng chi, sự tắc tuần chi, giáo kỳ bất tri, nhi tuất kỳ bất túc. Tân chí như quy, vô ninh tai hoạn, bất úy khấu đạo, nhi diệc bất hoạn táo thấp. Kim Đồng Đê chi cung sổ lý, nhi chư hầu xá vu lệ nhân, môn bất dung xa, nhi bất khả du việt; đạo tặc công hành, nhi yêu lệ bất giới. Tân kiến vô thì, mệnh bất khả tri. Nhược hựu vật hoại, thị vô sở tàng tệ dĩ trọng tội dã. Cảm thỉnh chấp sự, tương hà dĩ mệnh chi? Tuy quân chi hữu Lỗ tang, diệc tệ ấp chi ưu dã. Nhược hoạch tiến tệ, tu viên nhi hành, quân chi huệ dã, cảm đạn cần lao?” Văn Bá phục mệnh. Triệu Văn Tử viết: “Tín. Ngã thực bất đức, nhi dĩ lệ nhân chi viên dĩ doanh chư hầu, thị ngô tội dã.” Sử Sĩ Văn Bá tạ bất mẫn yên. Tấn hầu kiến Trịnh bá, hữu gia lễ, hậu kỳ yến hảo nhi quy chi. Nãi trúc chư hầu chi quán. Thúc Hướng viết: “Từ chi bất khả dĩ dĩ dã như thị phu! Tử Sản hữu từ, chư hầu lại chi, nhược chi hà kỳ thích từ dã? 《Thi》 viết: ‘Từ chi tập hĩ, dân chi hiệp hĩ; từ chi dịch hĩ, dân chi mạc hĩ.’ Kỳ tri chi hĩ.”","content_vi":"Vua nước Trịnh sang nước Sở. Tử Sản theo đi tướng lễ, chỉ cho làm nhà cỏ để ở, không lập đàn gì cả. Các quan theo hầu thấy vậy nói:\n\n- Các quan đời trước theo tiên quan đi sang các nước lân bang đều lập đàn hết cả, nay ông chỉ cho làm nhà cỏ thì chẳng là không hợp lễ ư?\n\nTử Sản bảo: - Vua nước lớn đến nước nhỏ thì lập đàn, vua nước nhỏ đế nước lớn thì làm nhà cỏ cũng đủ, lập đàn mà làm gì!\n\nTa nghe vua nước lớn đến nước nhỏ có năm điều hay cho nước nhỏ: 1) có tội thì khoan cho; 2) có lỗi thì thứ cho; 3) có tai nạn thì cứu cho; 4) chính sách hay thì thưởng cho; 5) có điều dở thì dạy cho. Nước nhỏ không phải cái gì là khổ sở mà yêu nước lớn như một nhà cho nên mới lập đàn để biểu dương công của nước lớn và bảo con cháu sau chăm việc tu đức không được hững hờ.\n\nCòn như nước nhỏ đến nước lớn có năm điều xấu là nước nhỏ: 1) có tội phải đi giải quyết; 2) có điều kém phải xin nài; 3) có mệnh lệnh của nước lớn phải tuân theo; 4) có việc chức công phải cung phụng; 5) có việc triều hội phải theo đòi. Nếu chẳng phải năm việc ấy, thì lại là việc đem tiền của để mừng hay viếng nước lớn. Phàm những việc ấy đều là tai vạ cho người nhỏ cả. Lập đàn làm gì, chỉ tổ bêu những tai vạ mà làm nhục cho con cháu.","loi_ban_vi":"Câu Tử Sản nói rất phải. Khi người lớn đã hạ cố sang đến nước nhỏ, thường thường là lợi cho nước nhỏ, nước nhỏ trọng vọng lập đàn lên để tiếp là có nghĩa. Còn khi nứoc nhỏ đã bất đắc dĩ phải sang nước lớn thì thường thường lại là tai hại cho nước nhỏ, nước nhỏ nên khiêm nhường chỉ làm cái nhà cỏ cho xong việc là đủ. Khi đã gọi là khuất thân lụy người thì còn vinh hiển nỗi gì mà dềnh dang ra những sự trang hoàng, để ngại tai chướng mắt cho người đời mà để lại tiếng xấu cho con cháu sau này nữa.","giai_nghia":["Trịnh: tên một nước nhỏ thời Xuân Thu ở vào huyện Tân Trịnh tỉnh Hà Nam ngày nay.","郑伯: 指郑简公，春秋时期郑国国君。","子产: 春秋时期郑国贤相，名侨，字子产。","士文伯: 晋国大夫，名匄。","坏馆垣: 拆毁客馆的围墙。","盟主: 诸侯盟会的首领，此处指晋国。","铜鞮之宫: 晋国宫殿名，在今山西沁县南。","叔向: 晋国大夫，羊舌肸。"],"tags":["外交","礼制","子产","左传","谦逊"]},{"id":234,"title_vi":"THẾ NÀO LÀ ĐẠI TRƯỢNG PHU","title_zh_simp":"何谓大丈夫","title_zh_trad":"何謂大丈夫","title_pinyin":"Hé wèi dà zhàngfū","title_han_viet":"HÀ VỊ ĐẠI TRƯỢNG PHU","title_en":"What Is a Great Man","source_book":"《孟子》","source_author":"孟子","source_period":"战国","content_zh_simp":"景春曰：“公孙衍、张仪岂不诚大丈夫哉？一怒而诸侯惧，安居而天下熄。”孟子曰：“是焉得为大丈夫乎？子未学礼乎？丈夫之冠也，父命之；女子之嫁也，母命之，往送之门，戒之曰：‘往之女家，必敬必戒，无违夫子！’以顺为正者，妾妇之道也。居天下之广居，立天下之正位，行天下之大道。得志，与民由之；不得志，独行其道。富贵不能淫，贫贱不能移，威武不能屈。此之谓大丈夫。”","content_zh_trad":"景春曰：“公孫衍、張儀豈不誠大丈夫哉？一怒而諸侯懼，安居而天下熄。”孟子曰：“是焉得為大丈夫乎？子未學禮乎？丈夫之冠也，父命之；女子之嫁也，母命之，往送之門，戒之曰：‘往之女家，必敬必戒，無違夫子！’以順為正者，妾婦之道也。居天下之廣居，立天下之正位，行天下之大道。得志，與民由之；不得志，獨行其道。富貴不能淫，貧賤不能移，威武不能屈。此之謂大丈夫。”","content_pinyin":"Jǐng Chūn yuē: “Gōngsūn Yǎn, Zhāng Yí qǐ bù chéng dà zhàngfū zāi? Yī nù ér zhūhóu jù, ānjū ér tiānxià xī.” Mèngzǐ yuē: “Shì yān dé wéi dà zhàngfū hū? Zǐ wèi xué lǐ hū? Zhàngfū zhī guān yě, fù mìng zhī; nǚzǐ zhī jià yě, mǔ mìng zhī, wǎng sòng zhī mén, jiè zhī yuē: ‘Wǎng zhī rǔ jiā, bì jìng bì jiè, wú wéi fūzǐ!’ Yǐ shùn wéi zhèng zhě, qiè fù zhī dào yě. Jū tiānxià zhī guǎng jū, lì tiānxià zhī zhèng wèi, xíng tiānxià zhī dàdào. Dé zhì, yǔ mín yóu zhī; bù dé zhì, dú xíng qí dào. Fùguì bù néng yín, pínjiàn bù néng yí, wēiwǔ bù néng qū. Cǐ zhī wèi dà zhàngfū.”","content_han_viet":"Cảnh Xuân viết: “Công Tôn Diễn, Trương Nghi khởi bất thành đại trượng phu tai? Nhất nộ nhi chư hầu cụ, an cư nhi thiên hạ tức.” Mạnh Tử viết: “Thị yên đắc vi đại trượng phu hồ? Tử vị học lễ hồ? Trượng phu chi quán dã, phụ mệnh chi; nữ tử chi giá dã, mẫu mệnh chi, vãng tống chi môn, giới chi viết: ‘Vãng chi nhữ gia, tất kính tất giới, vô vi phu tử!’ Dĩ thuận vi chính giả, thiếp phụ chi đạo dã. Cư thiên hạ chi quảng cư, lập thiên hạ chi chính vị, hành thiên hạ chi đại đạo. Đắc chí, dữ dân do chi; bất đắc chí, độc hành kỳ đạo. Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất. Thử chi vị đại trượng phu.”","content_vi":"Cảnh Xuân hỏi thầy Mạnh Tử:\n\n- Công Tôn Diễn và Chương Nghi nổi một cơn giận đi du thuyết, thì các nước chư hầu sợ, ngồi yên một chỗ thì thiên hạ không có chiến tranh. Hai người như thế chẳng là bậc trượng phu ư?\n\nThầy Mạnh Tử nói:\n\n- Hai người ấy gọi là đại trượng phu thế nào được! A dua, xiểm nịnh, lựa ý chiều lòng các vuc chư hầu để được quyền, được thé, cách cục hai người ấy y như đàn bà lẻ mọn, thừa thuận phục tùng. Đại trượng phu đâu có thế?\n\nBực đại trượng phu tâm địa chí công như ở cá nhà rất rộng cho thiên hạ, cử động mực thước thận trọng như đúng cái ngôi chính vị trong thiên hạ, công việc làm quang minh chính đại nhu đi trên con đường cái trong thiên hạ. Đắc chí thì đem cái khôn ngoan học thức, thi thố cho thiên hạ được nhờ; bất đắc chí thì một mình vui vẻ giữ vững cái hay của mình. Sự giàu có quan sang chẳng làn siêu đảng được cái tâm, sự nghèo khó vi tiện chẳng làm biến đổi được cái tiết, sự uy hiếp hay vũ lực chẳng làm tỏa nhục được cái chí…thế mới gọi là đại trượng phu.","loi_ban_vi":"大丈夫之志，在于立身行道，不因外物而移其节。富贵贫贱威武，皆不足以动其心，方为真丈夫。世人多以权谋为能，然非正道也。","giai_nghia":["Công Tôn Diễn, Chương Nghi: hai nhà du thuyết giỏi có tiếng thời Chiến Quốc","Du thuyết: ngôn luận biện bác một cách khôn khéo, hung hồn làm cho người ta phai nghe.","Đại trượng phu: tài trai, anh hùng hào kiệt.","景春: 战国时期纵横家，孟子的弟子。","公孙衍、张仪: 战国时期著名的纵横家，主张连横。","广居: 指仁，即天下最宽广的住所。","正位: 指礼，即天下最正确的位子。","大道: 指义，即天下最光明的道路。"],"tags":["大丈夫","孟子","气节","仁义","纵横家"]},{"id":235,"title_vi":"THIÊN HẠ SĨ","title_zh_simp":"天下士","title_zh_trad":"天下士","title_pinyin":"Tiānxià shì","title_han_viet":"THIÊN HẠ SĨ","title_en":"A Man of the World","source_book":"《潛夫論》","source_author":"Vương Phù","source_period":"Đông Hán","content_zh_simp":"鲁仲连有奇节，忠愤激发，非世俗之士所能及也。夫鹞鹘高飞于云际，虎豹咆哮于山林，猛鸷孰敢近之？然一旦为人所系，养之圈中，则与鸡犬何异？而鹞鹘虎豹之所以为人所获者，岂徒贪欲之故耶？如鲁仲连者，实无所欲，故能高飞远举，横行一世。人以鲁仲连为天下士，不亦宜乎？","content_zh_trad":"魯仲連有奇節，忠憤激發，非世俗之士所能及也。夫鷂鶻高飛於雲際，虎豹咆哮於山林，猛鷙孰敢近之？然一旦為人所繫，養之圈中，則與雞犬何異？而鷂鶻虎豹之所以為人所獲者，豈徒貪欲之故耶？如魯仲連者，實無所欲，故能高飛遠舉，橫行一世。人以魯仲連為天下士，不亦宜乎？","content_pinyin":"Lǔ Zhònglián yǒu qí jié, zhōng fèn jīfā, fēi shìsú zhī shì suǒ néng jí yě. Fū yào gǔ gāo fēi yú yúnjì, hǔ bào páoxiào yú shānlín, měng zhì shú gǎn jìn zhī? Rán yīdàn wéi rén suǒ xì, yǎng zhī juàn zhōng, zé yǔ jī quǎn hé yì? Ér yào gǔ hǔ bào zhī suǒ yǐ wéi rén suǒ huò zhě, qǐ tú tānyù zhī gù yé? Rú Lǔ Zhònglián zhě, shí wú suǒ yù, gù néng gāo fēi yuǎn jǔ, héngxíng yīshì. Rén yǐ Lǔ Zhònglián wéi tiānxià shì, bù yì yí hū?","content_han_viet":"Lỗ Trọng Liên hữu kỳ tiết, trung phẫn kích phát, phi thế tục chi sĩ sở năng cập dã. Phù diêu cốt cao phi ư vân tế, hổ báo bào khiếu ư sơn lâm, mãnh chí thục cảm cận chi? Nhiên nhất đán vi nhân sở hệ, dưỡng chi quyển trung, tắc dữ kê khuyển hà dị? Nhi diêu cốt hổ báo chi sở dĩ vi nhân sở hoạch giả, khởi đồ tham dục chi cố da? Như Lỗ Trọng Liên giả, thật vô sở dục, cố năng cao phi viễn cử, hoành hành nhất thế. Nhân dĩ Lỗ Trọng Liên vi thiên hạ sĩ, bất di nghi hồ?","content_vi":"Lỗ Trọng Liên có khí tiết lạ lùng, có lòng trung nghĩa phẫn kích, không phải hạng sánh sĩ sánh kịp được.\n\nKìa như con diều, con két bay cao lên tầng mây; con hổ, con báo gầm thét trong rừng núi, mạnh mẽ, dữ tợn có ai dám lại gần. Song một mai bị người ta trói buộc, nuôi vào trong chuồng thì có khác gì giống gà, giống chó. Mà diều, két, hổ, báo sở dĩ để cho người ta đánh bẫy được, có phải chỉ do cái lòng thèm muốn mà thôi không?\n\nNhư Lỗ Trọng Liêm thì thực không có ham muốn gì, cho nên bay cao, gầm dữ mà vẫn ngang tăng một đời. Người ta khen Lỗ Trọng Liêm là thiên hạ sĩ rất là phải.","loi_ban_vi":"Người có chí lớn không bị vật dục trói buộc, nên có thể tung hoành tự do. Kẻ tham lam cầu lợi ắt bị người ta sai khiến, như chim bị nhốt lồng, thú bị giam cũi. Vậy nên người quân tử phải giữ cho lòng thanh đạm, không để lợi danh làm mờ ám, mới xứng đáng là bậc thiên hạ sĩ.","giai_nghia":["Lỗ Trọng Liêm: người nước Tề về thời Chiến Quốc là một bực nghĩa sĩ xưa nay ai cũng biết tiếng.","Khí tiết: chí khí và tiết tháo","Trung nghĩa: trung là hết lòng, nghĩa là ở phải.","Phẫn kích: phẫn là căm giận, kích là hăng hái.","Sách sĩ: người có mưu kế.","Lỗ Trọng Liên: nghĩa sĩ nước Tề thời Chiến Quốc, nổi tiếng khí tiết cao, không chịu khuất phục quyền thế.","Thiên hạ sĩ: kẻ sĩ có tài đức vượt trội, được cả thiên hạ kính phục."],"tags":["khí tiết","vô dục","tự do","nhân cách"]},{"id":236,"title_vi":"DỰ NHƯỢNG BÁO THÙ","title_zh_simp":"豫让报仇","title_zh_trad":"豫讓報仇","title_pinyin":"Yù Ràng bào chóu","title_han_viet":"DỰ NHƯỢNG BÁO THÙ","title_en":"Yu Rang Avenges His Master","source_book":"《戰國策》","source_author":"Lưu Hướng","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"豫让始事范中行氏，中行氏待之不善。让去而事智伯，智伯甚宠之。及智伯伐赵襄子，赵襄子与韩魏合谋灭智伯，三分其地。赵襄子最怨智伯，漆其头以为饮器。让遁逃山中，闻之，叹曰：“嗟乎！士为知己者死，女为悦己者容。吾其报智氏之仇矣。”乃变姓名，为刑人，入宫涂厕，欲以刺襄子。襄子如厕，心动，执问涂厕之刑人，则豫让也。刃其扞，曰：“欲为智伯报仇！”左右欲诛之。襄子曰：“彼义士也，吾谨避之耳。且智伯死无后，而其臣欲为报仇，此天下之贤人也。”卒释去之。居顷之，让又漆身为厉，灭须去眉，自刑以变其容，为乞人而往乞。其妻不识，曰：“状貌不似吾夫，何其音之甚似也？”又吞炭为哑，变其音。其友谓之曰：“子之道甚难而无功，谓子有志则然矣，子亦可谓善矣。然愿以子之智，而善为计，则必得所欲也。”让曰：“吾闻之：明主不掩人之义，忠臣不爱死以成名。吾已委质于智氏，今为之报仇，虽死无恨。然愿请君之衣而击之，虽死不恨。非所敢望也，敢布腹心！”于是襄子义之，乃使使者持衣与让。让拔剑三跃而击之，曰：“吾可以下报智伯矣！”遂伏剑而死。","content_zh_trad":"豫讓始事范中行氏，中行氏待之不善。讓去而事智伯，智伯甚寵之。及智伯伐趙襄子，趙襄子與韓魏合謀滅智伯，三分其地。趙襄子最怨智伯，漆其頭以為飲器。讓遁逃山中，聞之，嘆曰：“嗟乎！士為知己者死，女為悅己者容。吾其報智氏之仇矣。”乃變姓名，為刑人，入宮塗廁，欲以刺襄子。襄子如廁，心動，執問塗廁之刑人，則豫讓也。刃其扞，曰：“欲為智伯報仇！”左右欲誅之。襄子曰：“彼義士也，吾謹避之耳。且智伯死無後，而其臣欲為報仇，此天下之賢人也。”卒釋去之。居頃之，讓又漆身為厲，滅須去眉，自刑以變其容，為乞人而往乞。其妻不識，曰：“狀貌不似吾夫，何其音之甚似也？”又吞炭為啞，變其音。其友謂之曰：“子之道甚難而無功，謂子有志則然矣，子亦可謂善矣。然願以子之智，而善為計，則必得所欲也。”讓曰：“吾聞之：明主不掩人之義，忠臣不愛死以成名。吾已委質於智氏，今為之報仇，雖死無恨。然願請君之衣而擊之，雖死不恨。非所敢望也，敢布腹心！”於是襄子義之，乃使使者持衣與讓。讓拔劍三躍而擊之，曰：“吾可以下報智伯矣！”遂伏劍而死。","content_pinyin":"Yù Ràng shǐ shì Fàn Zhōngxíng shì, Zhōngxíng shì dài zhī bù shàn. Ràng qù ér shì Zhì Bó, Zhì Bó shèn chǒng zhī. Jí Zhì Bó fá Zhào Xiāngzǐ, Zhào Xiāngzǐ yǔ Hán Wèi hé móu miè Zhì Bó, sān fēn qí dì. Zhào Xiāngzǐ zuì yuàn Zhì Bó, qī qí tóu yǐ wéi yǐn qì. Ràng dùn táo shān zhōng, wén zhī, tàn yuē: “Jiē hū! Shì wèi zhījǐ zhě sǐ, nǚ wèi yuè jǐ zhě róng. Wú qí bào Zhì shì zhī chóu yǐ.” Nǎi biàn xìngmíng, wéi xíngrén, rù gōng tú cè, yù yǐ cì Xiāngzǐ. Xiāngzǐ rú cè, xīn dòng, zhí wèn tú cè zhī xíngrén, zé Yù Ràng yě. Rèn qí hàn, yuē: “Yù wèi Zhì Bó bào chóu!” Zuǒyòu yù zhū zhī. Xiāngzǐ yuē: “Bǐ yìshì yě, wú jǐn bì zhī ěr. Qiě Zhì Bó sǐ wú hòu, ér qí chén yù wèi bào chóu, cǐ tiānxià zhī xiánrén yě.” Zú shì qù zhī. Jū qǐng zhī, Ràng yòu qī shēn wéi lì, miè xū qù méi, zì xíng yǐ biàn qí róng, wéi qǐrén ér wǎng qǐ. Qí qī bù shí, yuē: “Zhuàngmào bù shì wú fū, hé qí yīn zhī shén shì yě?” Yòu tūn tàn wéi yǎ, biàn qí yīn. Qí yǒu wèi zhī yuē: “Zǐ zhī dào shèn nán ér wú gōng, wèi zǐ yǒu zhì zé rán yǐ, zǐ yì kě wèi shàn yǐ. Rán yuàn yǐ zǐ zhī zhì, ér shàn wéi jì, zé bì dé suǒ yù yě.” Ràng yuē: “Wú wén zhī: míng zhǔ bù yǎn rén zhī yì, zhōng chén bù ài sǐ yǐ chéng míng. Wú yǐ wěi zhì yú Zhì shì, jīn wèi zhī bào chóu, suī sǐ wú hèn. Rán yuàn qǐng jūn zhī yī ér jī zhī, suī sǐ bù hèn. Fēi suǒ gǎn wàng yě, gǎn bù fù xīn!” Yúshì Xiāngzǐ yì zhī, nǎi shǐ shǐzhě chí yī yǔ Ràng. Ràng bá jiàn sān yuè ér jī zhī, yuē: “Wú kěyǐ xià bào Zhì Bó yǐ!” Suì fú jiàn ér sǐ.","content_han_viet":"Dự Nhượng thủy sự Phạm Trung Hàng thị, Trung Hàng thị đãi chi bất thiện. Nhượng khứ nhi sự Trí Bá, Trí Bá thậm sủng chi. Cập Trí Bá phạt Triệu Tương Tử, Triệu Tương Tử dữ Hàn Ngụy hợp mưu diệt Trí Bá, tam phân kỳ địa. Triệu Tương Tử tối oán Trí Bá, tất kỳ đầu dĩ vi ẩm khí. Nhượng độn đào sơn trung, văn chi, thán viết: “Ta hồ! Sĩ vi tri kỷ giả tử, nữ vi duyệt kỷ giả dung. Ngô kỳ báo Trí thị chi cừu hĩ.” Nãi biến tính danh, vi hình nhân, nhập cung đồ xí, dục dĩ thích Tương Tử. Tương Tử như xí, tâm động, chấp vấn đồ xí chi hình nhân, tắc Dự Nhượng dã. Nhận kỳ hãn, viết: “Dục vi Trí Bá báo cừu!” Tả hữu dục tru chi. Tương Tử viết: “Bỉ nghĩa sĩ dã, ngô cẩn tị chi nhĩ. Thả Trí Bá tử vô hậu, nhi kỳ thần dục vi báo cừu, thử thiên hạ chi hiền nhân dã.” Tốt thích khứ chi. Cư khoảnh chi, Nhượng hựu tất thân vi lệ, diệt tu khứ mi, tự hình dĩ biến kỳ dung, vi khất nhân nhi vãng khất. Kỳ thê bất thức, viết: “Trạng mạo bất tự ngô phu, hà kỳ âm chi thậm tự dã?” Hựu thôn thán vi nha, biến kỳ âm. Kỳ hữu vị chi viết: “Tử chi đạo thậm nan nhi vô công, vị tử hữu chí tắc nhiên hĩ, tử diệc khả vị thiện hĩ. Nhiên nguyện dĩ tử chi trí, nhi thiện vi kế, tắc tất đắc sở dục dã.” Nhượng viết: “Ngô văn chi: Minh chủ bất yểm nhân chi nghĩa, trung thần bất ái tử dĩ thành danh. Ngô dĩ ủy chất vu Trí thị, kim vi chi báo cừu, tuy tử vô hận. Nhiên nguyện thỉnh quân chi y nhi kích chi, tuy tử bất hận. Phi sở cảm vọng dã, cảm bố phúc tâm!” Vu thị Tương Tử nghĩa chi, nãi sử sứ giả trì y dữ Nhượng. Nhượng bạt kiếm tam dược nhi kích chi, viết: “Ngô khả dĩ hạ báo Trí Bá hĩ!” Toại phục kiếm nhi tử.","content_vi":"Dự Nhượng trước thờ Phạm Trung Hàng, Trung Hàng đãi không tử tế.\n\nDự Nhượng bỏ đi theo Trí Bá, được Trí Bá tin dùng lắm. Nhưng sau Trí Bá bị bọn Tam Tấn đánh thua, giết chết và chiếm mất đất. Trong bọn Tam Tấm có Triệu Tương Tử oán Trí Bá nhiều nhất, bắt lấy đầu Trí Bá sơn đi làm đồ đi tiểu.\n\nDự Nhượng lúc đó đã trốn trong rừng nghe chuyện làm vậy, than rằng:\n\nTài trai nên vị người tri kỷ mà bỏ thân, con gái nên vị người yêu thương mà làm dáng. Ta đây quyết phải báo thù cho Trí Bá mới nghe.\n\nBèn đổi tên họ, ăn mặc giả làm bọn tù, vào cung trát chuồng tiêu, muốn thừa cơ để đâm chết Triệu Tương Tử.\n\nTương Tử một hôm ra nhà tiêu, bỗng dưng động tâm bắt người trát nhà tiêu ra hỏi, thì biết ngay là Dự Nhượng.\n\nDự Nhượng rút dao găm trong mình ra nói rằng:\n\nỪ, ta là Dự Nhượng, ta muốn báo thù cho Trí Bá đây.\n\nĐầy tớ Triệu Tương Tử hăm hăm chực giết Dự Nhượng. Tương Tử ngăn lại, nói rằng:\n\nHắn là nghĩa sĩ đó. Thôi ta tránh đi thôi, Trí Bá chết không có con cháu, hắn là bầy tôi báo thù cho chủ, thực là hiền nhân của thiên hạ. Thôi ta tha cho hắn.\n\nDự Nhượng được tha, lại cạo râu và lông mày cho đổi nét mặt, sơn mình giả làm thằng hủi đi ăn xin. Vợ trông thấy cũng không nhận ra, nói rằng:\n\nNgười này, tiếng nói thì giống chồng ta, nhưng mặt mày thật không phải chồng ta.\n\nDự Nhượng lại nuốt than hồng cho đổi cả tiếng nói đi.\n\nĐược ít lâu, Triệu Tương Tử đi chơi, Dự Nhượng núp chực đợi dưới cầu.\n\nNhưng lúc Tương Tử đi gần đến đầu cầu, con ngựa thốt nhiên kinh hãi lồng lên. Tương Tử nói rằng:\n\nChắc lại có Dự Nhượng ở đây.\n\nRồi sai người tìm dưới gầm cầu, quả bắt được Dự Nhượng thật.\n\nTương Tử gọi Dự Nhượng đến trước mặt trách rằng:\n\nNgươi trước thờ Phạm Trung Hàng. Phạm Trung Hàng bị Trí Bá giết, sao ngươi không báo thù lại thờ Trí Bá. Nay Trí Bá bị ta giết, sao mà ngươi chăm báo thù thế?\n\nDự Nhượng nói:\n\nTrước tôi có thờ Phạm Trung Hàng thật, nhưng Phạm Trung Hàng đãi tôi như bọn tầm thường, nên tôi lại lấy cách tầm thường mà ở lại. Sau tôi thờ Trí Bá, Trí Bá đãi tôi vào bậc quốc sĩ, nên tôi lại lấy cách quốc sĩ mà ở lại.\n\nTriệu Tương Tử chép miệng than rằng:\n\nNgươi thờ Trí Bá cũng đã nên danh tiếng rồi đó, mà ta tha cho ngươi bận trước cũng đã đủ rồi. Nhưng bận này ngươi phải liệu cái thân ngươi, không tha nữa đâu.\n\nDự Nhượng nói:\n\nTôi nghe: Minh chúa không che lấp sự có nghĩa của người ta, trung thần không tiếc cái chết để cho nên danh tiếng. Trước ông đã khoan tha cho tôi một lần, thiên hạ ai cũng biết ông là người đại lượng rồi. Còn như việc hôm nay, tôi đành xin chịu chết, nhưng tôi xin mạn phép ông, ông cho tôi được đâm vào cái áo ông mặc, thì tôi dù chết cũng không oán giận gì nữa.\n\nTriệu Tương Tử cho là người có nghĩa, cởi áo sai đầy tớ đưa cho Dự Nhượng.\n\nDự Nhượng rút gươm, nhảy lên ba lần hò hét đâm vào áo và nói rằng:\n\nThế này là ta báo được ơn Trí Bá rồi đây.\n\nNói đoạn đâm cổ chết.","loi_ban_vi":": Ta đọc bài này, thực như đi xem một tấn bi kịch có thể khiến cho ta nhỏ nước mắt cảm cái khí khái của một người nghĩa sĩ. Dự Nhượng muốn báo thù cho Trí Bá, tuy khốn khổ thân hai lần mà không thành công, song cũng đủ tỏ được cái nghĩa vua tôi, đã đem lòng thờ ai, chịu ơn người ta, thì không sao rời bỏ được người ta, dù đến phải thì thân cũng không quản ngại. Than ôi! Nếu Triệu Tương Tử lần trước tâm không động, lần sau ngựa không lồng, thì biết đâu tấn kịch lại không xoay đi thế khác. Nhưng ta đáng khen Dự Nhượng bao nhiêu, ta lại phải phục Triệu Tương Tử bấy nhiêu. Dự Nhượng chỉ mưu sự để giết mình, thế mà lần trước bắt được khoan tha cho, lần sau bắt được cho là tự xử lấy, lại còn chiều lòng cở áo cho người ta đâm vào, sau cái lòng đại độ được đến thế. Một đằng thực là chân nghĩa sĩ, một đằng thật là biết trọng nghĩa sĩ. Dự Nhượng và Triệu Tương Tử thực là một đôi đối đầu được với nhau không xâu danh trong lịch sử.","giai_nghia":[":","Dự Nhượng: người nước Tấn đời Chiến Quốc có tiếng là một người nghĩa sĩ.","Dự Nhượng: nghĩa sĩ nước Tấn thời Xuân Thu - Chiến Quốc, nổi tiếng với câu 'Sĩ vị tri kỷ giả tử'.","Trí Bá: đại phu nước Tấn, bị Triệu, Hàn, Ngụy liên minh tiêu diệt.","Triệu Tương Tử: đại phu nước Tấn, sau là vua nước Triệu.","Tam Tấn: ba họ Hàn, Triệu, Ngụy, sau chia nước Tấn thành ba nước."],"tags":["trung nghĩa","báo thù","tri kỷ","khí khái"]},{"id":237,"title_vi":"QUAN TÀI CON","title_zh_simp":"小棺材","title_zh_trad":"小棺材","title_pinyin":"Xiǎo guāncái","title_han_viet":"TIỂU QUAN TÀI","title_en":"The Little Coffin","source_book":"《梅軒筆記》","source_author":"佚名","source_period":"清代","content_zh_simp":"蘇州有僧，名圓守中，修行得道。常置小棺於案上，長三寸許，有蓋可啟。客見而笑曰：「制此何用？」僧曰：「人生必有死，死則入此。吾實怪世人，但知富貴功名、財色嗜好，憂勞終身，不知有死。吾每遇不如意事，取此觀之，即心自安，萬慮俱消。此小棺足代嚴師之訓，座右之銘也。」","content_zh_trad":"蘇州有僧，名圓守中，修行得道。常置小棺於案上，長三寸許，有蓋可啟。客見而笑曰：「制此何用？」僧曰：「人生必有死，死則入此。吾實怪世人，但知富貴功名、財色嗜好，憂勞終身，不知有死。吾每遇不如意事，取此觀之，即心自安，萬慮俱消。此小棺足代嚴師之訓，座右之銘也。」","content_pinyin":"Sūzhōu yǒu sēng, míng Yuán Shǒuzhōng, xiūxíng dédào. Cháng zhì xiǎo guān yú àn shàng, cháng sān cùn xǔ, yǒu gài kě qǐ. Kè jiàn ér xiào yuē: “Zhì cǐ hé yòng?” Sēng yuē: “Rénshēng bì yǒu sǐ, sǐ zé rù cǐ. Wú shí guài shìrén, dàn zhī fùguì gōngmíng, cáisè shìhào, yōuláo zhōngshēn, bùzhī yǒu sǐ. Wú měi yù bù rúyì shì, qǔ cǐ guān zhī, jí xīn zì ān, wàn lǜ jù xiāo. Cǐ xiǎo guān zú dài yán shī zhī xùn, zuò yòu zhī míng yě.”","content_han_viet":"Tô Châu hữu tăng, danh Viên Thủ Trung, tu hành đắc đạo. Thường trí tiểu quan vu án thượng, trường tam thốn hứa, hữu cái khả khải. Khách kiến nhi tiếu viết: “Chế thử hà dụng?” Tăng viết: “Nhân sinh tất hữu tử, tử tắc nhập thử. Ngô thực quái thế nhân, đãn tri phú quý công danh, tài sắc thị hiếu, ưu lao chung thân, bất tri hữu tử. Ngô mỗi ngộ bất như ý sự, thủ thử quan chi, tức tâm tự an, vạn lự câu tiêu. Thử tiểu quan túc đại nghiêm sư chi huấn, tọa hữu chi minh dã.”","content_vi":"Tại chùa Tô Châu có một nhà sư tên gọi Viên Thủ Trung tu hành đắc đạo.\n\nNhà sư thường bày trên án thư, trước chỗ ngồi một cái quan tài con bằng gỗ bách đàn, dài độ ba tấc, có một cái nắp đậy, mở được. Khách đến chơi trông thấy, cười nói rằng:\n\nNgười chế ra cái này dùng để làm gì?\n\nNhà sư nói:\n\nNgười ta sống tất có chết, mà chết thì vào ngay cái này. Ta thực lấy làm lạ, người đời ai ai cũng chỉ biết có phú quý, công danh, tài sắc, thị hiếu, lo buồn, vất vả suốt đời, chẳng biết đến cái chết là gì. Như ta đây mỗi khi có việc không được như ý, ta cầm lấy cái này mà ngắm xem, là tức khắc, trong tâm ta được yên ổn mà muôn nghìn sự tư lự đều lâng lâng sạch như không. Cái quan tài con này đủ thay lời huấn, lời giới của bậc nghiêm sự, bài trâm bài mình treo bên chỗ ngồi vậy.","loi_ban_vi":"Người đời tham sống sợ chết, nhưng chết là lẽ thường, không thể tránh. Nhìn thấy cái chết để tỉnh ngộ, biết đủ thì tâm an, đó là chân lý vậy.","giai_nghia":[":","Tô Châu: huyện Ngô thuộc về tỉnh Giang Tô bây giờ.","Bạch đàn: thứ gỗ rắn và thơm, dùng làm đồ đạc dùng làm hương thắp.","圓守中: tên một nhà sư, có thể là nhân vật hư cấu.","座右銘: bài minh đặt bên phải chỗ ngồi để tự răn mình."],"tags":["Phật giáo","Tử sinh","Tỉnh ngộ","Thiền"]},{"id":238,"title_vi":"LỆCH THỪA KHÔNG BẰNG NGAY THIẾU","title_zh_simp":"偏有餘不如正不足","title_zh_trad":"偏有餘不如正不足","title_pinyin":"Piān yǒuyú bùrú zhèng bùzú","title_han_viet":"THIÊN HỮU DƯ BẤT NHƯ CHÍNH BẤT TÚC","title_en":"Better to Be Straight and Lacking Than Crooked and Abundant","source_book":"《通志》","source_author":"鄭樵","source_period":"南宋","content_zh_simp":"黔婁者，齊之高士也。性正直，守道不阿。諸侯多聘為卿相，不受。周威王師事之。家貧，死時衾不蔽體。曾子往弔，見之曰：「斜其衾則斂矣。」其妻曰：「斜而有餘，不如正而不足。先生生而不斜，死而斜之，非先生之意也。」曾子無以應。問曰：「何以為諡？」妻曰：「先生不戚貧賤，不慕富貴，諡曰『康』可乎？」曾子歎曰：「惟斯人也，而有斯婦也。」","content_zh_trad":"黔婁者，齊之高士也。性正直，守道不阿。諸侯多聘為卿相，不受。周威王師事之。家貧，死時衾不蔽體。曾子往弔，見之曰：「斜其衾則斂矣。」其妻曰：「斜而有餘，不如正而不足。先生生而不斜，死而斜之，非先生之意也。」曾子無以應。問曰：「何以為諡？」妻曰：「先生不戚貧賤，不慕富貴，諡曰『康』可乎？」曾子歎曰：「惟斯人也，而有斯婦也。」","content_pinyin":"Qiánlóu zhě, Qí zhī gāoshì yě. Xìng zhèngzhí, shǒu dào bù ē. Zhūhóu duō pìn wéi qīngxiàng, bù shòu. Zhōu Wēiwáng shī shì zhī. Jiā pín, sǐ shí qīn bù bì tǐ. Zēngzǐ wǎng diào, jiàn zhī yuē: “Xié qí qīn zé liǎn yǐ.” Qí qī yuē: “Xié ér yǒuyú, bùrú zhèng ér bùzú. Xiānsheng shēng ér bù xié, sǐ ér xié zhī, fēi xiānsheng zhī yì yě.” Zēngzǐ wú yǐ yìng. Wèn yuē: “Hé yǐ wéi shì?” Qī yuē: “Xiānsheng bù qī pínjiàn, bù mù fùguì, shì yuē ‘Kāng’ kě hū?” Zēngzǐ tàn yuē: “Wéi sī rén yě, ér yǒu sī fù yě.”","content_han_viet":"Kiềm Lâu giả, Tề chi cao sĩ dã. Tính chính trực, thủ đạo bất a. Chư hầu đa sính vi khanh tướng, bất thụ. Chu Uy Vương sư sự chi. Gia bần, tử thời khâm bất tế thể. Tăng Tử vãng điếu, kiến chi viết: “Tà kỳ khâm tắc liệm hĩ.” Kỳ thê viết: “Tà nhi hữu dư, bất như chính nhi bất túc. Tiên sinh sinh nhi bất tà, tử nhi tà chi, phi tiên sinh chi ý dã.” Tăng Tử vô dĩ ứng. Vấn viết: “Hà dĩ vi thụy?” Thê viết: “Tiên sinh bất thê bần tiện, bất mộ phú quý, thụy viết ‘Khang’ khả hồ?” Tăng Tử thán viết: “Duy tư nhân dã, nhi hữu tư phụ dã.”","content_vi":"Kiềm Lâu là một bậc cao sĩ nước Tề về thời Xuân Thu. Tính ông thẳng, bao giờ cũng giữ đạo phải, không chịu khuất thân để theo đời.\n\nCác nước chư hầu nhiều nước mời ra làm khanh tướng nhưng ông không thuận. Vua Uy Vương nhà Chu kính thời ông như thầy.\n\nÔng nghèo lắm. Lúc mất chỉ có cái chăn, không liệm đủ thân thể.\n\nThầy Tăng Tử đến viếng, thấy vậy nói:\n\n- Để lệch cái chăn đi, thì liệm đủ thân thể.\n\nBà vợ ông bảo:\n\nLệch mà có thừa không bằng ngay mà không đủ. Lúc sinh thời, tiên sinh chỉ vì tính thẳng mới được như thế. Bây giờ tiên sinh mất mà liệm lệch cho tiên sinh, thì chắc không được hợp ý tiên sinh.\n\nTăng Tử nghe, không nói gì được nữa. Sau chỉ hỏi dùng chữ gì đặt tên hèm cho tiên sinh.\n\nBà vợ nói:\n\nTiên sinh không lấy sự nghèo hèn làm buồn rầu, không lấy sự giàu sang làm hâm mộ, đặt tên hèm cho tiên sinh là \"Khang\" có nên chăng?\n\nTăng Tử nghe, than rằng:\n\nChỉ có người chồng như thế mới có được người vợ như thế.\n\nThông Chí","loi_ban_vi":"Người quân tử giữ đạo ngay thẳng, dù nghèo hèn cũng không đổi lòng. Sự ngay thẳng còn quý hơn của cải, và người bạn đời hiểu được chí hướng ấy thật đáng khen.","giai_nghia":[":","Kiềm Lâu: người nước Tề một bậc ẩn sĩ có tiếng giỏi đời cổ.","黔婁: tên một cao sĩ nước Tề thời Xuân Thu.","曾子: học trò của Khổng Tử, nổi tiếng về hiếu đạo.","諡: tên thụy, đặt cho người chết."],"tags":["Khí tiết","Thanh bần","Đạo đức","Trí thức"]},{"id":239,"title_vi":"BẮT THAY CHIẾU","title_zh_simp":"曾子易箦","title_zh_trad":"曾子易簀","title_pinyin":"Zēngzǐ yì zé","title_han_viet":"TĂNG TỬ DỊCH TRẠCH","title_en":"Zengzi Changes the Mat","source_book":"《禮記》","source_author":"Khổng Tử (biên soạn)","source_period":"Tây Hán","content_zh_simp":"曾子寝疾，病。乐正子春坐于床下，曾元、曾申坐于足，童子隅坐而执烛。童子曰：“华而睆，大夫之箦与？”子春曰：“止！”曾子闻之，瞿然曰：“呼！”曰：“华而睆，大夫之箦与？”曾子曰：“然。斯季孙之赐也，我未之能易也。元，起易箦。”曾元曰：“夫子之病革矣，不可以变。幸而至于旦，请敬易之。”曾子曰：“尔之爱我也不如彼。君子之爱人也以德，细人之爱人也以姑息。吾何求哉？吾得正而毙焉，斯已矣。”举扶而易之。反席未安而没。","content_zh_trad":"曾子寢疾，病。樂正子春坐於床下，曾元、曾申坐於足，童子隅坐而執燭。童子曰：“華而睆，大夫之簀與？”子春曰：“止！”曾子聞之，瞿然曰：“呼！”曰：“華而睆，大夫之簀與？”曾子曰：“然。斯季孫之賜也，我未之能易也。元，起易簀。”曾元曰：“夫子之病革矣，不可以變。幸而至於旦，請敬易之。”曾子曰：“爾之愛我也不如彼。君子之愛人也以德，細人之愛人也以姑息。吾何求哉？吾得正而斃焉，斯已矣。”舉扶而易之。反席未安而沒。","content_pinyin":"Zēngzǐ qǐn jí, bìng. Yuèzhèng Zǐchūn zuò yú chuáng xià, Zēng Yuán, Zēng Shēn zuò yú zú, tóngzǐ yú zuò ér zhí zhú. Tóngzǐ yuē: “Huá ér huǎn, dàfū zhī zé yǔ?” Zǐchūn yuē: “Zhǐ!” Zēngzǐ wén zhī, jù rán yuē: “Hū!” Yuē: “Huá ér huǎn, dàfū zhī zé yǔ?” Zēngzǐ yuē: “Rán. Sī Jìsūn zhī cì yě, wǒ wèi zhī néng yì yě. Yuán, qǐ yì zé.” Zēng Yuán yuē: “Fūzǐ zhī bìng gé yǐ, bù kě yǐ biàn. Xìng ér zhì yú dàn, qǐng jìng yì zhī.” Zēngzǐ yuē: “Ěr zhī ài wǒ yě bù rú bǐ. Jūnzǐ zhī ài rén yě yǐ dé, xìrén zhī ài rén yě yǐ gūxī. Wú hé qiú zāi? Wú dé zhèng ér bì yān, sī yǐ yǐ.” Jǔ fú ér yì zhī. Fǎn xí wèi ān ér mò.","content_han_viet":"Tăng Tử tẩm tật, bệnh. Nhạc Chính Tử Xuân tọa ư sàng hạ, Tăng Nguyên, Tăng Thân tọa ư túc, đồng tử ngung tọa nhi chấp chúc. Đồng tử viết: “Hoa nhi hoãn, đại phu chi trách dư?” Tử Xuân viết: “Chỉ!” Tăng Tử văn chi, cụ nhiên viết: “Hô!” Viết: “Hoa nhi hoãn, đại phu chi trách dư?” Tăng Tử viết: “Nhiên. Tư Quý Tôn chi tứ dã, ngã vị chi năng dịch dã. Nguyên, khởi dịch trách.” Tăng Nguyên viết: “Phu tử chi bệnh cách hĩ, bất khả dĩ biến. Hạnh nhi chí vu đán, thỉnh kính dịch chi.” Tăng Tử viết: “Nhĩ chi ái ngã dã bất như bỉ. Quân tử chi ái nhân dã dĩ đức, tế nhân chi ái nhân dã dĩ cô tức. Ngô hà cầu tai? Ngô đắc chính nhi tỵ yên, tư dĩ hĩ.” Cử phù nhi dịch chi. Phản tịch vị an nhi một.","content_vi":"Tăng Tử bệnh nặng. Những người chầu chực hầu hạ, học trò thì có Nhạc Chính, Tử Xuân, ngồi ở cạnh giường, con thì có Tăng Nguyên, Tăng Nhân ngồi ở dưới chân, lại có một tên đồng tử đứng một góc cầm nến.\n\nTên đồng tử hỏi:\n\nCái chiếu đẹp đẽ và bóng bẩy này là thứ chiếu quan đại phu dùng chăng?\n\nTử Xuân bảo:\n\nIm chớ nói.\n\nTăng Tử nghe tiếng giật mình, thở dài.\n\nĐứa đồng tử lại hỏi:\n\nCái chiếu đẹp đẽ và bóng bẩy này là thứ chiếu quan đại phu dùng chăng?\n\nTăng Tử đáp:\n\nPhải. Cái chiếu ta nằm là chiếu của Quý Tôn làm quan đại phu nước Lỗ cho ta. Ta chưa kịp thay đấy.\n\nRồi gọi con sẽ bảo:\n\nNguyên kia, đứng dậy thay chiếu cho ta.\n\nTăng Nguyên nói:\n\nBệnh cha nguy, không dám khinh động, xin để đến sáng sẽ thay.\n\nTăng Tử nói:\n\nCon yêu cha không bằng tên đồng tử. Người quân tử yêu ai, yêu một cách phải đường, người thường yêu ai, yêu một cách nộm tạm cẩu thả. Như ta bây giờ còn mong gì nữa. Nếu ta được chết một cách chính đính, khỏi mang tiếng phi nghĩa, là đủ cho ta rồi.\n\nCon cái và học trò nghe nói, xúm lại vực Tăng Tử lên để thay chiếu.\n\nTăng Tử vừa nằm yên vào chiếc chiếu mới thì mất.","loi_ban_vi":": Người ta đến chết là hết. Cho nên trước cái chết, tưởng ai cũng bằng đẳng như ai không còn phân biệt tôn ti, thượng hạ gì nữa. Tuy vậy, thầy Tăng Tủ dù biết chết đến nơi, cũng còn thao thủ, không muốn việt phận, không chịu đeo tiếng phi nghĩa, thế mới hay cổ nhân lập chí, thường vạch một con đường quang minh chính đại để suốt đời noi theo dù đến hơi thở cuối cùng, mà vô ý lỡ đi sai, cũng nhất quyết không chịu. Cách thay chiếu đây lại còn đáng làm gương cho lắm kẻ đời nay, quên cả phong hóa, bỏ cả lễ nghĩa, lúc ma chay tiếm lạm nhiều cách, chỉ chuộng cái thói cái danh phận của người chết đáng vào bậc nào nữa. Những con cháu tống táng ông cha theo sự phù hoa mà phạm vào điều phi nghĩa, thì còn gọi được là con cháu có hiếu không?\n\n\" Quân tử chi ái nhân đã dĩ đức, tế nhân chi ái nhân đã dĩ cô tức\", câu di ngôn của thầy Tăng Tử thực là câu danh ngôn có chi lý vậy.","giai_nghia":["Tăng Tử (曾子): tên thật là Tăng Sâm (曾參), học trò xuất sắc của Khổng Tử, nổi tiếng về đức hiếu thảo và sự tu thân.","Trách (箦/簀): chiếu tre, nệm dùng để nằm.","Quý Tôn (季孫): đại phu nước Lỗ, người đã tặng chiếu cho Tăng Tử.","Quân tử chi ái nhân dã dĩ đức, tiểu nhân chi ái nhân dã dĩ cô tức: người quân tử yêu người bằng đức hạnh, kẻ tiểu nhân yêu người bằng sự nuông chiều."],"tags":["Lễ Ký","Tăng Tử","Đức hạnh","Lễ nghĩa"]},{"id":240,"title_vi":"ĐÁM MA TO","title_zh_simp":"庄子将死","title_zh_trad":"莊子將死","title_pinyin":"Zhuāngzǐ jiāng sǐ","title_han_viet":"TRANG TỬ TƯƠNG TỬ","title_en":"Zhuangzi's Funeral","source_book":"《莊子·列禦寇》","source_author":"Trang Chu","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"庄子将死，弟子欲厚葬之。庄子曰：“吾以天地为棺椁，以日月为连璧，星辰为珠玑，万物为赍送。吾葬具岂不备邪？何以加此？”弟子曰：“吾恐乌鸢之食夫子也。”庄子曰：“在上为乌鸢食，在下为蝼蚁食，夺彼与此，何其偏也！”","content_zh_trad":"莊子將死，弟子欲厚葬之。莊子曰：“吾以天地為棺槨，以日月為連璧，星辰為珠璣，萬物為齎送。吾葬具豈不備邪？何以加此？”弟子曰：“吾恐烏鳶之食夫子也。”莊子曰：“在上為烏鳶食，在下為螻蟻食，奪彼與此，何其偏也！”","content_pinyin":"Zhuāngzǐ jiāng sǐ, dìzǐ yù hòu zàng zhī. Zhuāngzǐ yuē: “Wú yǐ tiāndì wéi guānguǒ, yǐ rìyuè wéi liánbì, xīngchén wéi zhūjī, wànwù wéi jī sòng. Wú zàng jù qǐ bù bèi xié? Hé yǐ jiā cǐ?” Dìzǐ yuē: “Wú kǒng wū yuān zhī shí fūzǐ yě.” Zhuāngzǐ yuē: “Zài shàng wéi wū yuān shí, zài xià wéi lóuyǐ shí, duó bǐ yǔ cǐ, hé qí piān yě!”","content_han_viet":"Trang Tử tương tử, đệ tử dục hậu táng chi. Trang Tử viết: “Ngô dĩ thiên địa vi quan quách, dĩ nhật nguyệt vi liên bích, tinh thần vi châu cơ, vạn vật vi tế tống. Ngô táng cụ khởi bất bị da? Hà dĩ gia thử?” Đệ tử viết: “Ngô khủng ô nguyên chi thực phu tử dã.” Trang Tử viết: “Tại thượng vi ô nguyên thực, tại hạ vi lâu nghĩ thực, đoạt bỉ dữ thử, hà kỳ thiên dã!”","content_vi":"Trang Tử sắp chết. Học trò bàn nhau định muốn làm ma nhỏ to.\n\nTrang Tử thấy vậy bảo:\n\nTa lấy trời đất làm quan quách, mặt trời, mặt trăng làm hai viên ngọc bích, các ngôi sao làm các hạt châu báu, muôn vật làm đồ tống táng, đám ma ta như vậy, há chẳng đủ rồi, cần gì mà phải làm cho to nữa.\n\nHọc trò nói:\n\nNhà thầy làm như vậy, chúng con sợ diều hâu, quạ nói rỉa thịt nhà thầy mất!\n\nTrang Tử bảo:\n\nXác người chết mà để trên đất thì diều quạ ăn, để dưới đất thí sâu bọ ăn.\n\nBây giờ cướp của loài kia cho loài này, tâm sao mà thiên như thế? Tâm người đã thiên, thì bất bình đem cái bất bình mà cho là bình thì cái bình không phải là bình nữa. Tâm người không sáng thì chẳng thật, đem cái chẳng thật mà cho là thật thì cái thật không còn là thật nữa.\n\nÔi! Người ta cứ khăng khăng giữ một ý kiến, chẳng cũng đáng thương lắm ru!","loi_ban_vi":": Thầy sắp chết mà học trò định làm ma to cho thầy, thế là trung hậu mà là thường tình. Thầy gạt đi chỉ muốn như bỏ xác ra ngoài núi, thế là có ý tự nhiên cao thượng hơn đời. Học trò bảo không nỡ để cho quạ mổ, diều tha thịt thầy thế là chỉ biết những điều trước mắt có thể trông thấy mà thôi.\n\nCó biết đâu cái xác kia, khi vùi xuống đất, dù cho đào sâu, chôn chặt thế nào trong quan quách dù cho chắc chắn đến đâu cũng không khỏi được cái giống sâu bọ, vi trùng **c rữa làm cho tan nát quá ư là mỏ quạ, mỏ diều vậy. Ôi!\n\nTrang Tử lúc gần chết còn dạy học trò như thế, thật là bình tâm sáng suốt hiểu thấu cái lẽ sinh, tử, tồn, vong tức như bây giờ ta nói hiểu rõ chân lý, hiểu như khoa học rất hợp với cái học thuyết cao viễn của Trang Tử vậy.","giai_nghia":[":","Tống táng: tống : đưa, táng: chôn.","Thiên: chênh lệch về một bên nào.","Bất bình: lệch về một bên không được bằng phẳng.","Trang Tử (庄子): tên thật là Trang Chu (庄周), triết gia Đạo giáo thời Chiến Quốc.","Quan quách (棺椁): quan tài trong và quan tài ngoài.","Liên bích (连璧): hai viên ngọc bích liền nhau, chỉ mặt trời và mặt trăng.","Ô nguyên (乌鸢): quạ và diều hâu.","Lâu nghĩ (蝼蚁): dế và kiến, chỉ loài vật nhỏ bé."],"tags":["Trang Tử","Đạo giáo","Sinh tử","Tự nhiên"]},{"id":241,"title_vi":"MUÔN VẬT MỘT THỂ","title_zh_simp":"万物一体","title_zh_trad":"萬物一體","title_pinyin":"Wànwù yītǐ","title_han_viet":"VẠN VẬT NHẤT THỂ","title_en":"All Things Are One","source_book":"《正蒙·乾称篇》","source_author":"张载","source_period":"北宋","content_zh_simp":"乾称父，坤称母；予兹藐焉，乃混然中处。故天地之塞，吾其体；天地之帅，吾其性。民吾同胞，物吾与也。大君者，吾父母宗子；其大臣，宗子之家相也。尊高年，所以长其长；慈孤弱，所以幼其幼。圣其合德，贤其秀也。凡天下疲癃、残疾、惸独、鳏寡，皆吾兄弟之颠连而无告者也。","content_zh_trad":"乾稱父，坤稱母；予茲藐焉，乃混然中處。故天地之塞，吾其體；天地之帥，吾其性。民吾同胞，物吾與也。大君者，吾父母宗子；其大臣，宗子之家相也。尊高年，所以長其長；慈孤弱，所以幼其幼。聖其合德，賢其秀也。凡天下疲癃、殘疾、惸獨、鰥寡，皆吾兄弟之顛連而無告者也。","content_pinyin":"Qián chēng fù, kūn chēng mǔ; yǔ zī miǎo yān, nǎi hùn rán zhōng chǔ. Gù tiāndì zhī sāi, wú qí tǐ; tiāndì zhī shuài, wú qí xìng. Mín wú tóngbāo, wù wú yǔ yě. Dàjūn zhě, wú fùmǔ zōngzǐ; qí dàchén, zōngzǐ zhī jiā xiàng yě. Zūn gāonián, suǒyǐ zhǎng qí zhǎng; cí gū ruò, suǒyǐ yòu qí yòu. Shèng qí hédé, xián qí xiù yě. Fán tiānxià pí lóng, cánjí, qióng dú, guān guǎ, jiē wú xiōngdì zhī diānlián ér wú gào zhě yě.","content_han_viet":"Càn xưng phụ, Khôn xưng mẫu; dư tư miểu yên, nãi hồn nhiên trung xử. Cố thiên địa chi tắc, ngô kỳ thể; thiên địa chi suất, ngô kỳ tính. Dân ngô đồng bào, vật ngô dữ dã. Đại quân giả, ngô phụ mẫu tông tử; kỳ đại thần, tông tử chi gia tướng dã. Tôn cao niên, sở dĩ trưởng kỳ trưởng; từ cô nhược, sở dĩ ấu kỳ ấu. Thánh kỳ hợp đức, hiền kỳ tú dã. Phàm thiên hạ bì long, tàn tật, quỳnh độc, quan quả, giai ngô huynh đệ chi điên liên nhi vô cáo giả dã.","content_vi":"Trời là cha, đất là mẹ chúng ta được cái khí trời đất mới thành ra người. Ta nghĩ thân ta thật là nhỏ mọn mà được ở trong vòng trời đất, to lớn bao la. Cái khí của trời đất tức là hình ảnh của ta, cái lý của trời đất tức là tính của ta.\n\nNgười ta với muôn vật cùng sinh ra ở trong trời đất, thế thì cái gì có hình đều là khí của trời đất, cái gì có tính để là lý của trời đất. Vậy người với người là đồng loại, thời ta coi nhau như anh em ruột cả. Trong vạn vật, giống hữu tri, giống vô tri so với người tuy khác, song cũng tự trời đất sinh ra, thì ta cũng coi như một bọn với ta cả.\n\nPhàm người trong trời đất đã là con trời đất hết, thì vua, ta coi như người anh cả, đại thần, ta coi như người giúp anh cả, cụ già ta kính, là cốt quý bậc tôn trưởng ta, trẻ bé ta thương, là cốt yêu đàn con trẻ ta, bậc thánh là anh em ta mà giống cha mẹ ta, bực hiền là anh em ta mà giỏi hơn ta, còn những người ốm đau, tàn tật, cô độc, góa bụa đều là anh em ta mà vất vả khổ sở, không biết nương tựa vào đâu vậy.\n\nTrương Hoành Cừ.","loi_ban_vi":": Ta xem bài này, hãy gác cái thuyết trời đất và khí lý ra ngoài, vì chưa thể nói rõ cái thuyết ấy cho đúng với khoa học tiến bộ này. Ta chỉ nên nhận tác giả nhân cái khởi điểm khí, hình, lý, tính ấy mà cho muôn vật ở đời cùng chung một gốc tích, cùng bẩm thụ của một cha mẹ là trời đất. Câu nói ấy thực là rõ cái nghĩa \"vạn vật nhất thể\" có cái lòng bác ái vậy. Riêng trong nhân loại, tuy có chia ra tôn ti, lão ấu chí thành, chí ngu, nhưng cũng là một loài người cả, thì nên coi cả trong nước như một người, cả thiên hạ như một nhà, kính nhường, yêu, thương nhau, giúp đỡ, đùm bọc nhau. Còn các giống động vật khác cùng thực vật, khoáng vật, hết thảy giống hữu tri vô tri đều là cùng ta ở trong trời đất cả. Ước ao cái học thuyết này một ngày một lan rộng ra, thì phúc cho loài người và thỏa cho cái hi vọng cổ nhân lắm.","giai_nghia":[":","Khí: vật hơi vô hình, đời cổ cho muôn loài bởi đấy mà sinh hóa ra.","Lý: cái lẽ cường kiện( mạnh mẽ) của trời nhu thuận( mềm mỏng êm ái) của đất.","Đồng loại: cùng một loài.","Giống hữu tri: giống có biết, có càm giác như chim muông...","Giống vô tri: giống không biết, không có cảm giác như cây cỏ, đất, đá.","Đại thần: quan to, đây nói ông tướng giúp vua trị dân.","Cô độc: cô: mồ côi, không cha không mẹ một mình không con cái.","Trương Hoành Cừ: tức là Trương Tái, người đời nhà Tống, trước có làm quan, sau về dạy học, ông là một nhà học giả giỏi có tiếng đời bấy giờ, có làm sách Chính Mông và Đông Minh, Tây Minh. Bài này trích ở trang Tây Minh","乾坤: Trời và Đất, hai quẻ đầu trong Kinh Dịch, tượng trưng cho cha mẹ.","宗子: Con trưởng, người thừa kế chính trong gia tộc.","疲癃: Người già yếu, tàn tật.","惸独: Người không nơi nương tựa, cô độc.","颠连: Gian khổ, khốn đốn."],"tags":["Triết học","Nhân sinh","Bác ái","Vạn vật nhất thể"]},{"id":242,"title_vi":"TỰ TỈNH","title_zh_simp":"自省","title_zh_trad":"自省","title_pinyin":"Zìxǐng","title_han_viet":"TỰ TỈNH","title_en":"Self-Reflection","source_book":"《菜根谭》","source_author":"洪应明","source_period":"明代","content_zh_simp":"夜深人静，独坐观心，始知妄穷而真独露，每于此中得大机趣；既觉真现而妄难逃，又于此中得大惭忸。","content_zh_trad":"夜深人靜，獨坐觀心，始知妄窮而真獨露，每於此中得大機趣；既覺真現而妄難逃，又於此中得大慚忸。","content_pinyin":"Yè shēn rén jìng, dú zuò guān xīn, shǐ zhī wàng qióng ér zhēn dú lù, měi yú cǐ zhōng dé dà jī qù; jì jué zhēn xiàn ér wàng nán táo, yòu yú cǐ zhōng dé dà cán niǔ.","content_han_viet":"Dạ thâm nhân tĩnh, độc tọa quan tâm, thủy tri vọng cùng nhi chân độc lộ, mỗi ư thử trung đắc đại cơ thú; ký giác chân hiện nhi vọng nan đào, hựu ư thử trung đắc đại tàn nữu.","content_vi":"Người ta, tối đến, trước khi đi ngủ thử kiểm xét xem trong một ngày:\n\nĂn ở với cha mẹ đã hết lòng chưa?\n\nĐối đãi với kẻ dưới đã hay thể tất chưa?\n\nXử với anh em đã hay hòa thuận chưa?\n\nĐối với vợ con đã hay yêu quý chưa?\n\nChơi với bạn bè đã hay tránh kẻ dở, gần người hiền chưa?\n\nNói ra câu gì, đã hay không thẹn với lương tâm chưa?\n\nLàm công việc gì, đã hay không trái với lương tâm chưa?\n\nĐãi người ngoài đã hay không thất lễ chưa?\n\nHết thảy việc gì, việc gì cũng nghĩ để xử cho chu đáo, ngõ hầu mới xứng đáng làm người mà không xấu hổ.\n\nTừ Mi Vân","loi_ban_vi":"Bài Tự Tỉnh của Mi Vân đây cũng tương tự như bài Kiểm soát lương tâm của Franklin. Trong bài nói thiệp liệp đủ cả trong nhà thì cha *** vợ con, anh em, tôi tớ, ngoài thì bạn bè, thiên hạ kịp đến cả câu nói việc làm. Nghĩa là đủ cả mọi hạng người mình giao tiếp hàng ngày, mình có bổn phận phải giữ cho trọn vẹn cùng những việc suy nghĩ, nói năng, hành động nữa. Nếu trước khi đi ngủ, ai ai cũng chịu kiểm soát lại lương tâm mình như thế cả, để sửa đổi lại tính mình cho hay hơn lên, thì lo chi đời hiếm người tốt mà xã hội ngày không một bước gần đến nhân đạo, nhân loại mỗi ngày không tiến mãi đến hạnh phúc được.","giai_nghia":["观心: Quan sát, xem xét tâm mình.","妄: Vọng tưởng, những suy nghĩ sai lầm.","真: Chân tâm, bản tính chân thật.","惭忸: Hổ thẹn, áy náy."],"tags":["Tu dưỡng","Tự phản tỉnh","Đạo đức","Tâm linh"]},{"id":243,"title_vi":"NGU CÔNG DỌN NÚI","title_zh_simp":"愚公移山","title_zh_trad":"愚公移山","title_pinyin":"Yú Gōng yí shān","title_han_viet":"NGU CÔNG DI SƠN","title_en":"The Foolish Old Man Who Removed the Mountains","source_book":"《列子·汤问》","source_author":"列子 (Lièzǐ)","source_period":"Chiến Quốc","content_zh_simp":"太行、王屋二山，方七百里，高万仞。本在冀州之南，河阳之北。北山愚公者，年且九十，面山而居。惩山北之塞，出入之迂也，聚室而谋曰：“吾与汝毕力平险，指通豫南，达于汉阴，可乎？”杂然相许。其妻献疑曰：“以君之力，曾不能损魁父之丘，如太行、王屋何？且焉置土石？”杂曰：“投诸渤海之尾，隐土之北。”遂率子孙荷担者三夫，叩石垦壤，箕畚运于渤海之尾。邻人京城氏之孀妻有遗男，始龀，跳往助之。寒暑易节，始一反焉。河曲智叟笑而止之曰：“甚矣，汝之不惠！以残年余力，曾不能毁山之一毛，其如土石何？”北山愚公长息曰：“汝心之固，固不可彻，曾不若孀妻弱子。虽我之死，有子存焉；子又生孙，孙又生子；子又有子，子又有孙；子子孙孙无穷匮也，而山不加增，何苦而不平？”河曲智叟亡以应。操蛇之神闻之，惧其不已也，告之于帝。帝感其诚，命夸娥氏二子负二山，一厝朔东，一厝雍南。自此，冀之南，汉之阴，无陇断焉。","content_zh_trad":"太行、王屋二山，方七百裏，高萬仞。本在冀州之南，河陽之北。北山愚公者，年且九十，面山而居。懲山北之塞，出入之迂也，聚室而謀曰：“吾與汝畢力平險，指通豫南，達於漢陰，可乎？”雜然相許。其妻獻疑曰：“以君之力，曾不能損魁父之丘，如太行、王屋何？且焉置土石？”雜曰：“投諸渤海之尾，隱土之北。”遂率子孫荷擔者三夫，叩石墾壤，箕畚運於渤海之尾。鄰人京城氏之孀妻有遺男，始齔，跳往助之。寒暑易節，始一反焉。河曲智叟笑而止之曰：“甚矣，汝之不惠！以殘年餘力，曾不能毀山之一毛，其如土石何？”北山愚公長息曰：“汝心之固，固不可徹，曾不若孀妻弱子。雖我之死，有子存焉；子又生孫，孫又生子；子又有子，子又有孫；子子孫孫無窮匱也，而山不加增，何苦而不平？”河曲智叟亡以應。操蛇之神聞之，懼其不已也，告之於帝。帝感其誠，命誇娥氏二子負二山，一厝朔東，一厝雍南。自此，冀之南，漢之陰，無隴斷焉。","content_pinyin":"Tàiháng, Wángwū èr shān, fāng qī bǎi lǐ, gāo wàn rèn. Běn zài Jìzhōu zhī nán, Héyáng zhī běi. Běishān Yúgōng zhě, nián qiě jiǔshí, miàn shān ér jū. Chéng shān běi zhī sāi, chūrù zhī yū yě, jù shì ér móu yuē: “Wú yǔ rǔ bìlì píng xiǎn, zhǐ tōng Yùnán, dá yú Hànyīn, kě hū?” Zárán xiāng xǔ. Qí qī xiàn yí yuē: “Yǐ jūn zhī lì, céng bùnéng sǔn Kuífù zhī qiū, rú Tàiháng, Wángwū hé? Qiě yān zhì tǔshí?” Zá yuē: “Tóu zhū Bóhǎi zhī wěi, Yǐntǔ zhī běi.” Suì shuài zǐsūn hè dān zhě sān fū, kòu shí kěn rǎng, jīběn yùn yú Bóhǎi zhī wěi. Línrén Jīngchéng shì zhī shuāng qī yǒu yí nán, shǐ chèn, tiào wǎng zhù zhī. Hánshǔ yì jié, shǐ yī fǎn yān. Héqū Zhìsǒu xiào ér zhǐ zhī yuē: “Shèn yǐ, rǔ zhī bù huì! Yǐ cánnián yúlì, céng bùnéng huǐ shān zhī yī máo, qí rú tǔshí hé?” Běishān Yúgōng cháng xī yuē: “Rǔ xīn zhī gù, gù bùkě chè, céng bùruò shuāng qī ruòzǐ. Suī wǒ zhī sǐ, yǒu zǐ cún yān; zǐ yòu shēng sūn, sūn yòu shēng zǐ; zǐ yòu yǒu zǐ, zǐ yòu yǒu sūn; zǐ zǐ sūn sūn wúqióng kuì yě, ér shān bù jiā zēng, hé kǔ ér bù píng?” Héqū Zhìsǒu wáng yǐ yìng. Cāo shé zhī shén wén zhī, jù qí bù yǐ yě, gào zhī yú dì. Dì gǎn qí chéng, mìng Kuā'é shì èr zǐ fù èr shān, yī cuò Shuòdōng, yī cuò Yōngnán. Zì cǐ, Jì zhī nán, Hàn zhī yīn, wú lǒng duàn yān.","content_han_viet":"THÁI HÀNG, VƯƠNG ỐC NHỊ SƠN, PHƯƠNG THẤT BÁCH LÝ, CAO VẠN NHẪN. BỔN TẠI KÝ CHÂU CHI NAM, HÀ DƯƠNG CHI BẮC. BẮC SƠN NGU CÔNG GIẢ, NIÊN THẢ CỬU THẬP, DIỆN SƠN NHI CƯ. TRỪNG SƠN BẮC CHI TẮC, XUẤT NHẬP CHI DU DÃ, TỤ THẤT NHI MƯU VIẾT: “NGÔ DỮ NHĨ TẤT LỰC BÌNH HIỂM, CHỈ THÔNG DỰ NAM, ĐẠT Ư HÁN ÂM, KHẢ HÔ?” TẠP NHIÊN TƯƠNG HỨA. KỲ THÊ HIẾN NGHI VIẾT: “DĨ QUÂN CHI LỰC, TẰNG BẤT NĂNG TỔN KHUÊ PHỤ CHI KHÂU, NHƯ THÁI HÀNG, VƯƠNG ỐC HÀ? THẢ YÊN TRÍ THỔ THẠCH?” TẠP VIẾT: “ĐẦU CHƯ BỘT HẢI CHI VĨ, ẨN THỔ CHI BẮC.” TOẠI SUẤT TỬ TÔN HẠ ĐÃM GIẢ TAM PHU, KHẤU THẠCH KHẢN NHƯỠNG, CƠ BỔN VẬN Ư BỘT HẢI CHI VĨ. LÂN NHÂN KINH THÀNH THỊ CHI SƯƠNG THÊ HỮU DI NAM, THỦY SẤN, KHIÊU VÃNG TRỢ CHI. HÀN THỤ DỊCH TIẾT, THỦY NHẤT PHẢN YÊN. HÀ KHÚC TRÍ TẨU TIẾU NHI CHỈ CHI VIẾT: “THẬM HỸ, NHĨ CHI BẤT HUỆ! DĨ TÀN NIÊN DƯ LỰC, TẰNG BẤT NĂNG HỦY SƠN CHI NHẤT MAO, KỲ NHƯ THỔ THẠCH HÀ?” BẮC SƠN NGU CÔNG TRƯỜNG TỨC VIẾT: “NHĨ TÂM CHI CỐ, CỐ BẤT KHẢ TRIỆT, TẰNG BẤT NHƯ SƯƠNG THÊ NHƯỢC TỬ. TUY NGÔ CHI TỬ, HỮU TỬ TỒN YÊN; TỬ HỰU SINH TÔN, TÔN HỰU SINH TỬ; TỬ HỰU HỮU TỬ, TỬ HỰU HỮU TÔN; TỬ TỬ TÔN TÔN VÔ CÙNG QUỸ DÃ, NHI SƠN BẤT GIA TĂNG, HÀ KHỔ NHI BẤT BÌNH?” HÀ KHÚC TRÍ TẨU VONG DĨ ỨNG. THAO XÀ CHI THẦN VĂN CHI, CỰ KỲ BẤT DĨ DÃ, CÁO CHI Ư ĐẾ. ĐẾ CẢM KỲ THÀNH, MỆNH KHOA NGA THỊ NHỊ TỬ PHỤ NHỊ SƠN, NHẤT THÁC SÁC ĐÔNG, NHẤT THÁC UNG NAM. TỰ THỬ, KÝ CHI NAM, HÁN CHI ÂM, VÔ LŨNG ĐOẠN YÊN.","content_vi":"Phía nam Châu Ký, có hai quả núi Thái Hàng và Vương Ốc to bảy trăm dặm, cao muôn thước, cây cối rậm, ác thú nhiều, đi lại khó.\n\nỞ chân núi có một cái nhà của ông lão tên là Ngu Công, tuổi đã chín mươi.\n\nNgu Công thấy vì núi mà nhà ở chướng ngại, đường đi bất tiện, lấy làm bực tức. Một hôm cụ họp cả vợ con, người nhà lại bàn rằng:\n\n- Ta muốn cùng lũ ngươi hết sức bạt phẳng hai quả núi này thì có nên không?\n\nAi nấy đều thuận. Chỉ có người vợ ngần ngại, hỏi vặn rằng:\n\n- Sức ông không bạt nổi một cái gò, thì làm thế nào bạt được những hai quả núi? Mà dù cho có sức bạt được nữa, thì đất đã định đem đổ đi đâu?\n\nNgu Công nói: Khuân đem đổ ra bể Đông.\n\nĐoạn Ngu Công đem con cháu cùng cả họ ra phá núi, kẻ **c đá, người đào đất, kẻ đầu đội, người vai mang, hết ngày này sang ngày khác. Láng giềng có đứa bé mới tám tuổi, con người đàn bà hóa cũng xin đi làm giúp, hàng năm mới về một lần.\n\nGần miền có một ông lão khác tên là Trí Tẩu thấy vậy, cười Ngu Công và can rằng:\n\n- Sao khờ dại vậy! Mình thì tuổi tác, núi thì cao lớn, phá thế nào nổi!\n\nNgu Công thở dài nói:\n\n- Ngươi không bền lòng. Bền lòng thì việc gì cũng phải được. Ngươi không bằng người đàn bà hóa, đứa trẻ con thơ. Ta già ta chết đã có con ta.\n\nHết đời con ta, đã có cháu ta, hết đời cháu ta đã có chắt ta, con con cháu cháu sinh hạ vô cùng mà núi thì bao giờ cũng vậy, lo gì không bạt nổi.\n\nTrí Tẩu nghe nói, nín lặng, không trả lời.\n\nSau này vùng nam Châu Ký không có núi non chướng ngại, đi lại thuận tiện là nhờ có Ngu Công.","loi_ban_vi":"Ta không tưởng tượng rõ núi Thái Hàng và núi Vương Ốc to lớn thế nào.\n\nTa chỉ biết ở cái đời Ngu Công bấy giờ chưa có máy móc tinh xảo như bây giờ mà đã bạt được núi thì giỏi thật. Lại không phải thuê từng hàng nghìn vạn người để làm, chỉ người trong một nhà, một họ và ít người lân cận giúp tay vào mà cũng làm nổi. Ôi! Nếu quả như vậy, thì cái gương kiên nhẫn của Ngu Công thực đáng để truyền lại mãi cho muôn đời về sau này. Vả chăng chỉ một câu Ngu Công nói với Trí Tẩu cũng nên ghi nhớ lắm. Sự kiên tâm không phải chỉ hạn chế trong một đời, nhưng cứ tiếp luôn đời ấy, đời khác theo đuổi mãi thì ở đời còn có cái gì gọi là khó được nữa. Ngu Công đây thật là người đại trí nhược nhu (người cực khôn, bề ngoài coi như ngu). Ngôn hành ông y như những câu sau đây cũng đều có ý khuyên chúng ta lập chí và kiên tâm để làm việc:\n\n1) Trên đời chả có việc gì khó, chỉ tại tâm người ta không kiên nhẫn mà thôi.\n\n2) Bí quyết thành công cốt ở nhất định không thay đổi mục đích.\n\n3) Đã có cái kiến thức can đảm phi thường, nhất quyết làm được sự nghiệp phi thường.\n\n4) Đem sự hiểu biết tinh tường, dùng hết tâm trí bền bỉ, vận toàn lực tinh tiến vô cùng, thì có việc gì mà không làm được. Người ta sống một cách nay lần mai nữa, suốt đời không được việc gì, chỉ tại không có chí.\n\n5) Ý chí kiên nhẫn có thể chinh phục được hết thảy các thứ tự nhiên trong vòng trời.\n\nDANH NGÔN DANH LÝ Chớ chính mình tự dối mình.\n\nĐại Học Ở đời có ba điều đáng tiếc.\n\nMột là hôm nay bỏ qua, hai là đời này chẳng học, ba là thân này nỡ hư.\n\nChu Hi Người ta biết có mưu sinh, biết tự lập thời mới không ỷ lại ai, cầu cạnh ai, mà giữ được liêm sỉ và thực hành được lễ nghĩa.\n\nKhuyết Danh Người ta sống trong một ngày, có nghe một câu phải, trong một điều phải, làm một việc phải, ngày ấy mới không hư sinh.\n\nTrần My Công Sĩ phu mà ba ngày không xem sách, thì soi gương mặt mũi đáng ghét, nói chuyện lạt lẽo khó nghe.\n\nHoàng Đình Kiền Có học vấn mà không có đạo đức, thì là người ác; có đạo đức mà không có học vấn, thì là người quê.\n\nLa Tư Phúc Người ta nếu không biết lo xa, nhất định có sự ưu hoạn đến ngay.\n\nLuận Ngữ Thân dê mà lốt cọp, thấy cỏ thì thích, thấy chó sói thì run, quên mất cả bộ da khoác là lốt cọp.\n\nDương Tử Không gì giỏi bằng hay bàn, không gì yên bằng hay nhẫn (thản nhiên), không gì hơn người bằng có đức, không gì sướng thân bằng làm lành.\n\nHoàng Thạch Công Độ lượng to lớn bao nhiêu thì phúc trạch cũng to lớn bấy nhiêu. Có mưu sâu độc bao nhiêu thì tai vạ cũng sâu độc bấy nhiêu.\n\nMinh Tâm Bảo Giám Làm việc nghĩa thì chớ tính lợi hại; luận anh hùng thì chớ kể nên thua.\n\nLư Khôn Người biết “đạo” tất không khoe, người biết “nghĩa” tất không tham, người biết “đức” tất không thích tiếng tăm lừng lẫy.\n\nTrương Cửu Thành Chim mà mỏ quắp thì loài chim sợ cá, mà mồm ngoáp thì loài cá sợ. Người mà ngọn lưỡi sắc sảo thì loài người sợ.\n\nHàn Thi Ngoại Truyện.\n\nYêu thì muốn cho sống, ghét thì muốn cho chết, mình không có quyền làm được sống chết, mà lúc lại muốn cho sống, lúc lại muốn cho chết, như thế chả phải là mê hoặc lắm ru!\n\nLuận Ngữ Yêu người ta mà yêu vô lý, thành ra làm hại người ta. Ghét người ta mà ghét vô lý, thành ra làm hại cho thân mình.\n\nNgụy Thế Thụy Người quân tử ta nên thân song không nên quá chiều mà phụ họa. Kẻ tiểu nhân ta nên tránh, song không nên ruồng rẫy như hằn thù.\n\nThâm Hàn Quang Lễ nghĩa liêm sỉ là bốn cái giường để duy trì giữ vứng quốc gia. Bốn giường vó ấy nếu không căng được lên, nghĩa là người trong nước mà vô lễ, vô nghĩa, vô liêm sỉ thì quốc gia phải sụp đổ mà diệt vong mất.\n\nQuán Tử Chính mình chẳng kiềm chế nổi mình mà cứ muối cài đạp người thì thật là nhu.\n\nKhuyết Danh Đem cái thói kiêu căng khinh bạc đối đãi với người quân tử thì tự mình làm cho mình thất đức; đem cái thói kiêu căng khinh bạc đối với kẻ tiểu nhân thì tự mình làm cho mình hại thân.\n\nTuân Sinh Tiên Người hay là thầy người dở, người dở là kẻ giúp chí cho người hay.\n\nLão Tử Người ta ai mà không có lỗi. Có lỗi mà sửa đổi được thì còn gì hay hơn.\n\nTả Truyện Câu nói như tên, không nên bắn bậy, đã lọt vào tai ai, không tài nào rút ra được nữa.\n\nLục Tài Tử Ba ba, thuồng luồng cho vực còn nông, làm tổ dưới đáy, chim cắt diều hâu cho núi còn thấp làm tổ trên đỉnh; thế mà đến khi chết cũng chỉ là một cái mồi.\n\nTuân Tử Vật trong thiên hạ chẳng gì mềm nhũn bằng nước, thế mà to vô hạn, sâu vô cùng.\n\nHoài Nam Tử Cắn chặt răng để chịu thiệt, đứng vững gót để làm người.\n\nCổ ngữ Thế giới là một trường học lớn. Sự khốn quẫn đau khổ là ông thầy giỏi, là người bạn tốt để rèn luyện cho ta vậy.\n\nKhuyết Danh Lanh trai công việc để cố gằng làm cho đầy đủ, và cẩn thận câu nói, không cẩu thả khinh thường.\n\nLuận Ngữ Người đi đêm tuy không là gian nhưng không thể cấm chó không cắn được.\n\nChiến Quốc Sách Cái bể tình dục, lấp mãi không đầy; cái thành sầu khổ, phá mãi mà không tan.\n\nKhuyết Giới Toàn Thư Lâu nay đời vẫn làm đắm đuối loài người; cái “chí” của ta là cái để độ thân ta, làm song gió không thể xiêu bạt vùi dập ta được.\n\nChúc Vô Công Đại cục tuy một ngày một bại hoại, chúng ta vẫn phải nên hết sức duy trì, được phần nào hay phần ấy, còn ngày nào hay ngày ấy Tăng Quốc Phiên Chim hồng, chim hộc, cất cánh bay xa là nhờ lông cánh; lông nhỏ trên lưng, lông to dưới bụng, mọc thêm một nắm, bay chẳng cao hơn, rụng mất một nắm, bay chẳng thấp hơn.\n\nHàn Thi Ngoại Truyện Chẳng trách người mà trách mình là phương pháp cần nhất để tu tỉnh thân ta. Hay thể tất cho người là phương pháp cần nhất để gây nuôi độ lượng.\n\nLã Khôn Một bên là quần chúng, một bên là bản thân, hai bên đều trọng cả. Nhưng gặp trường hợp cần thì phải hi sinh bản thân để cứu giúp quần chúng.\n\nKhuyết Danh Thiên hạ có người sợ bóng mình, ghét vết mình, cắm cổ mà chạy, vết lại càng nhiều, bóng lại càng nhanh. Chẳng bằng đến chỗ rợp mà nghỉ, thì tự nhiên bóng mất hẳng và vết tuyệt ngay.\n\nMai Thăng Muốn giữ được lương tâm, nuôi được linh tính, cần phải chịu cực khổ, chịu phiền, thì ngày mới thuần thục.\n\nLưu Trực Trai Điền dưỡng “cái khí” lúc đang giận; đề phòng “câu nói” lúc sướng mồm; lưu tâm “sự lầm” lúc bối rối; biết dùng “đồng tiền lúc sẵn sàng”.\n\nUông Thụ Chi Nói đương sướng hả mà nín ngay được; ý đương hớn hở mà thu hẳn được; tức giận, ham mê đương sôi nổi, nồng nàn mà tiêu trừ biến mất được; không phải là người rất kiên nhẫn thì không tài nào được như thế.\n\nVương Dương Minh An ác, dương thiện là bực thánh; thích thiện ghét ác là bực hiền; tách bạc thiện, ác quá đáng là hạng người thường; điên đảo thiện ác để sướng miệng gièm pha là hạng tiểu nhân hiểm ác.\n\nChu Trang Trang Công Người ta ai cũng cần phải tự lập lấy thân, cần phải tự mình hết sức cố gắng cho ra người, cần phải trông cậy ở mình mà chớ có trông cậy vào người.\n\nKhuyết Danh Lòng thành, nét mặt đầm ấm, khí hòa, lời nói êm dịu thì thế nào cũng có thể cảm động được người ta.\n\nKhuết Danh Lập thân không có gì khó bằng làm thế nào cho khỏi tủi thẹn; thủ thân không có gì khó bằng làm thế nào cho khỏi điếm nhục; phòng thân không có gì khó bằng làm thế nào cho ít bệnh tật.\n\nTuân Tiên Sinh Chưa có người nào hành vi phẩm hạnh không đoan chính mà họ có thể yêu nước được.\n\nCổ Ngữ Người không có chí như thuyền không có lái, như ngựa không cương trôi dạt lông bông không ra thế nào cả.\n\nVương Dương Minh Tài trai nên ngang dọc trời đất, không nên quanh quẩn xó nhà.\n\nTriệu Ôn","giai_nghia":["Ký: một châu của chín châu đời cổ, tức là vùng Trực Lệ, Sơn Tây cùng phía Bắc sông Hoàng Hà, tỉnh Hà Nam, phía tây sông Liêu Hà, tỉnh Phụng Thiên.","太行山 (Tàiháng Shān): dãy núi Thái Hàng, nằm giữa tỉnh Sơn Tây và Hà Bắc, Trung Quốc.","王屋山 (Wángwū Shān): núi Vương Ốc, thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.","冀州 (Jìzhōu): một trong chín châu thời cổ, nay thuộc vùng Hà Bắc, Sơn Tây.","河阳 (Héyáng): phía bắc sông Hoàng Hà, nay thuộc Hà Nam.","魁父 (Kuífù): tên một gò đất nhỏ, ví với việc nhỏ.","渤海 (Bóhǎi): biển Bột Hải, phía đông bắc Trung Quốc.","隐土 (Yǐntǔ): vùng đất phía bắc biển Bột Hải.","京城氏 (Jīngchéng shì): họ Kinh Thành, một gia đình ở làng bên.","始龀 (shǐ chèn): mới thay răng sữa, chỉ trẻ khoảng 7-8 tuổi.","夸娥氏 (Kuā'é shì): tên vị thần trong thần thoại, có hai con trai rất khỏe.","朔东 (Shuòdōng): phía đông vùng Sóc Phương (nay thuộc Sơn Tây).","雍南 (Yōngnán): phía nam vùng Ung Châu (nay thuộc Thiểm Tây, Cam Túc)."],"tags":["kiên trì","nghị lực","truyện ngụ ngôn","Liệt Tử"]}]